Soi Gương

hay Chuyện Người Ta

Nói về, viết về, nhìn thấy, nghe thấy người ngoài, có thể thấy mình rõ hơn. Không rõ tôi lấy ý này ở đâu, xin ghi lại vì đúng với tôi ở những dòng chữ dưới đây.

Những gì tôi ghi chép dưới đây hoàn toàn tùy tiện, không theo thứ tự thời gian, không theo phân loại sự việc. Tựu trung, vẽ thêm vài nét về thằng tôi trong “tự sự”, trong “một chặng đời tôi.”

Chức sắc, nhân sự đặc biệt trong nhà tù cộng sản.

Trước hết, hai chữ “chức sắc” là cách nói thông thường để chỉ một số bạn tù được chỉ định làm gạch nối giữa tù nhân và nhóm công an coi tù. Tôi đoán rằng có những nguyên tắc, hay tiêu chuẩn để một người hay một nhóm công an có thẩm quyền, có trách nhiệm chọn lựa tù nhân nào đó giao cho “chức vụ.” Gạch nối chỉ để chuyển đạt một số điều chung chung, còn người công an vẫn có giao tiếp, có hành động trực tiếp với tù nhân. Tôi hay dùng chữ tù nhân vì đó là phương vị của những người tù chính trị Miền Nam. Hai chữ “Phạm nhân” dành cho các bạn tù hình sự Miền Bắc. Chúng ta, viên chức chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hòa không có “phạm” gì đối với bọn Cộng Sản Hà Nội. Bọn họ là kẻ cướp, chúng ta là người có của bị cướp. “Của” ở đây là vật chất, cũng là những giá trị tinh thần. Tiến đánh Miền Nam, tiến đánh nước Việt Nam Cộng Hòa, họ là “phạm” nhân của chúng ta.

Chỉ trong phạm vi mấy năm tôi bị nhốt ở nhà tù Thanh Cẩm, tôi nhớ có mấy chức sắc này: Trật Tự, Thường Trực Thi Đua hay Văn Hóa, Đội Trưởng, Thư Ký Đội. Không biết mấy nhà tù khác thì sao. Nhà tù thuộc hệ thống Công An Quản Lý Trại Giam chắc là giống với Thanh Cẩm.

Trật Tự – lúc mới đến trại giam Thanh Cẩm, trong các buổi học tập lúc đầu, tôi thường nghe 4 chữ “Thường Trực Thi Đua” để chỉ chức vụ giống hoặc gần giống như “Trật Tự”. Tôi nghĩ rằng bọn cộng sản là vua bịp bợm, đối với tù nhân nằm trong tay họ, như cá nằm trên thớt, họ vẫn bịp. Họ bịp rằng tù nhân phải thi đua không ngừng, từ đó có thể thay đổi số phận tên tù. Nên họ gọi Trật Tự là Thường Trực Thi Đua. Có lẽ tôi nhầm, họ gọi chức vụ “Văn Hóa” là Thường Trực Thi Đua thì đúng hơn. Bịp, chẳng có thi đua gì cả, chẳng có thay đổi gì cả. Vào tù không có tòa án phán xét, không có bản án, khơi khơi giam người ta gọi là cải tạo. Không có bản án, thi đua với cái gì. Thi đua với bản án 5 năm để hy vọng xuống 4 năm, còn có thể thi đua. Cải tạo, thi đua với “mút mùa lệ thủy” à? Bịp. “Mày cứ thi đua, lúc nào ông muốn thả thì ông thả”.

Về sau, tôi chỉ thấy họ dùng 2 chữ “Trật Tự”. Trật Tự nhận lệnh từ bọn công an để rồi truyền đạt cho tất cả tù nhân trong trại. Trong sinh hoạt anh ta nhận lệnh trực tiếp của Cán Bộ Trực Trại. Thực tế, mấy anh “Ban” trong Ban Giám Thị trại đều có thể ra lệnh cho anh ta. Nói chung, bất cứ anh công an nào ở trại cũng có thể ra lệnh cho anh ta. Nếu lệnh lạc có mâu thuẫn, lúc đó mới cần sự chính danh cho đường dây lệnh lạc. Mấy ghi chép trên tôi chỉ căn cứ vào kinh nghiệm và quan sát trong khi ở tù ở trại Thanh Cẩm.

Vậy, Trật Tự là tù nhân giữ chức quan to nhất trong xã hội nhà tù. Nếu “ông quan” không quên “thân phận thằng tù” của mình, biết thương những người cùng cảnh ngộ tù đầy, biết cách áp dụng, thi hành uyển chuyển lệnh của bọn công an, biết cách bao che cho bạn tù, thì thần dân trong xã hội nhà tù dễ thở. Ông quan được thần dân tôn trọng, thương yêu. Trở thành một ông quan nhân từ rất khó, nói thì dễ, làm thì khó vô cùng. Đó là lý thuyết, là chuyện mộng mơ ít có thật. Ở Thanh Cẩm, có một ông quan gần như vậy, thần dân thường gọi ông là “Bảy Chà.” Anh tên thật là Nguyễn Văn Bảy, hiện ở Burke, VA, Hoa Kỳ. Nhưng được “dân” yêu, thì nhiệm kỳ của anh sẽ không lâu. Bọn thống trị cần những anh gạch nối cứng rắn với tù nhân. Riêng với nhà tù Thanh Cẩm, một dạo ở Hoa Kỳ sôi nổi vụ một anh cựu Trật Tự bị một ông Linh Mục tố cáo là giết bạn đồng tù. Chuyện này tôi sẽ trở lại sau này. Ở đây, tôi chỉ ghi vắn tắt, đó là một tố cáo quá đáng, “tố cáo” bị lợi dụng.

Công việc của anh Trật Tự là mỗi sáng đi mở khóa các buồng giam, buổi tối đi khóa. Anh đi một mình hay với Trực Trại. Đi một mình nếu tình hình xã hội yên lành, anh được tín nhiệm. Như vậy, mỗi khi cần mở cửa này, cổng nọ, anh được giao cho chùm chìa khóa các buồng, cả cổng khu kiên giam, nhà bếp, bệnh xá, anh đi đến đâu nghe leng keng đến đó do anh hay chạy. Xong việc, anh trả lại tên Trực Trại chùm chìa khóa. Sau đó, anh đứng đếm số tù nhân ra khỏi cổng trại khi các đội đi lao động. Đếm giùm tên Trực Trại, ghi chép giùm tên Trực Trại. Suốt ngày anh bận rộn với những chỉ thị, lệnh lạc từ các tên công an coi tù. Nhiều anh tỏ tính sốt sắng cần mẫn trong công việc, chạy suốt ngày giữa các buồng, giữa đám tù nhân. Có những anh Trật Tự tổ chức đường dây báo cáo của riêng mình trong xã hội nhà tù. Hơi quá “làm tốt” nhiệm vụ được giao phó. Tóm lại, anh Trật Tự hiện diện khắp nơi, mọi lúc trong sinh hoạt của xã hội nhà tù. Đi ra Bưu Điện Huyện Cẩm Thủy cũng có anh, hoặc anh Văn Hóa, về phát quà cho anh em, cũng một tay anh kiểm soát dưới sự điều động của bọn công an. Các đội đi làm về chờ nhập trại, cũng chính anh lục xét mỗi tù nhân xem có mang gì trái phép vào trại. Thường anh là người “gánh” cơm lên buồng kiên giam, phân phát cho tù kiên giam. Bọn cộng sản hay dùng chữ “tay sai”, có lẽ đây là trường hợp hiếm hoi đúng. Tôi đoán rằng việc chọn tù nhân nào làm Trật Tự là do Cán Bộ An Ninh phối hợp với Cán Bộ Trực Trại quyết định. Ý kiến của Cán Bộ An  Ninh có lẽ nặng ký hơn. Với chức vụ Văn Hóa dưới đây, cũng vậy.

Văn Hóa – Tôi quên mất tên gọi chính thức của chức vụ này, nhờ bạn nào điều chỉnh giùm, chỉ gọi tắt là “Văn Hóa”. Có lẽ chức vụ này giống với “Thường Trực Thi Đua” hơn, vì anh này lo về các sinh hoạt văn hóa trong tù. Anh lo chuyện văn nghệ, chuyện đọc báo, chuyện vui chơi ngày Tết, ngày kỷ niệm đặc biệt, chuyện sinh hoạt giải trí cho tù nhân. Anh ta cũng có thể là người đi lãnh quà gia đình gửi qua bưu điện cho tù nhân. Vài tháng anh đi một đợt, theo lệnh công an trại. Trật Tự và Văn Hóa là hai anh “Tự Giác” cao cấp, nhưng phạm vi đi lại có lẽ không bằng nhóm tù tự giác đi rừng. Tóm lại, anh cũng là một gạch nối truyền đạt lệnh của bọn công an coi tù đến tù nhân. Nhiệm vụ của anh thu hẹp hơn, nhưng nặng về “chính trị, an ninh tình báo” hơn, và cũng dính đến khía cạnh “đời sống” của tù nhân nhiều hơn so với chức vụ Trật Tự.  Anh Văn Hóa hắc ám, bịa ra nhiều thứ luật lệ kìm hãm sinh hoạt thường nhật, làm khổ tù nhân. Anh Văn Hóa hiền lành, tìm nhiều cơ hội cho tù nhân cải thiện sinh hoạt.

Đội Trưởng – Tôi không rõ Quyết định chọn người tù là Đội Trưởng một đội do đâu. Có lẽ thời gian đầu do phía An Ninh, phối hợp với Trực Trại cho cán Bộ Quản Giáo ý kiến chọn lựa. Về sau, có lẽ Quản Giáo chọn Đội Trưởng. Đội Trưởng cũng là một gạch nối giữa bọn công an coi tù và tù nhân trong một đội. Như vậy, phạm vi quyền hạn nhỏ hẹp hơn hai chức vụ trên. Đội Trưởng nhận lệnh của Quản Giáo để điều động, đốc thúc anh em lao động, đó là nhiệm vụ chính. Đội Trưởng lo tổ chức sinh hoạt cho anh em trong đội, như họp hành học tập, đọc báo, kiểm thảo, sinh hoạt thể dục, vệ sinh, mua bán, nhận quà, … theo lệnh lạc từ mọi chức vụ cao hơn của công an hay tù nhân.

Thư Ký Đội – Phụ tá cho Đội Trưởng. Việc chính là chi chép biên bản họp hành, học tập để Đội Trưởng giao nộp cấp trên.

Y Tá trại – Bọn Ban Giám Thị hoặc Trực Trại lựa một, hai tù nhân có hiểu biết, có khả năng về y khoa (hơn tù nhân khác) để coi công việc dính đến vấn đề y tế trong đám tù nhân, gọi là “Y Tá trại”. Đó là về nguyên tắc. Bọn cộng sản có châm ngôn “Chuyên Bất Như Hồng”. Họ coi ý thức hệ chính trị, lập trường gia cấp quan trọng hơn khả năng chuyên môn. Thuở ban đầu, trong nhóm tù từ Long Thành ra Thanh Cẩm có vài vị tốt nghiệp Đại Học Y Khoa ở Việt Nam Cộng Hòa hay Tây Phương. Mấy bạn y tá từ nhóm tù hình sự vẫn tiếp tục công việc. Đến lúc số tù Miền Nam tăng lên nhiều, bọn công an trại lựa y tá trong nhóm tù Miền Nam. Cảnh nực cười, một tù nhân là Bác Sĩ Trương Khuê Quan, Giám Đốc Quốc Gia Nghĩa Tử, đi khai bệnh. Ông củng phải hả họng, cử động tay chân đầu cổ theo chỉ thị của Y Tá trại. Cuối cùng chàng Y Tá hỏi Bác Sĩ muốn khai bệnh gì, nghỉ (lao động) vì bị bệnh gì, chàng cho vào hồ sơ. Ở Mỹ, điều này là đương nhiên, khi vị Bác Sĩ ở vai trò bệnh nhân, ông (bà) ta được chẩn bệnh như một bệnh nhân. Ở Việt Nam, ở nhà tù cộng sản Việt Nam, chuyện đó khiến bạn tù cười. Tôi đoán mò cho vui, rằng có thể anh Y Tá hỏi, như thế ghi triệu chứng của bệnh thế nào hở Bác Sĩ? Y Tá trại cũng là một chức “Quan” quan trọng. Quan này nhiều quyền lực lắm. Tù nhân được nghỉ lao động hay không, do Quan. Quan quyết định ai được nằm ở bệnh xá, được tiêu chuẩn ăn cháo nấu từ gạo, thời gian bao lâu, do Quan. Cho nên, cũng có Quan nhân từ, có Quan hung ác.

Vệ Sinh Buồng – Tù nhân này lo dọn dẹp vệ sinh trong buồng, ngoài sân trong khuôn viên của buồng, trong 4 bức tường vây quanh khu vực buồng. Chức vụ này thường được giao cho người kém sức khỏe trong buồng. Nhắc lại, một buồng có nhiều đội sống chung. Lúc ban đầu, các tù nhân trong một buồng thường tin rằng bạn tù giữ Vệ Sinh Buồng được giao cho nhiệm vụ báo cáo tù nhân khác, gọi là “ăng ten”. Sau này, quan niệm trên mất dần.

Ăng Ten – Cán Bộ An Ninh trại, Cán Bộ Tực Trại, Cán Bộ Quản Giáo Đội, đôi khi, cả mấy tay tù nhân làm Trật Tự, Văn Hóa, chọn lựa, chỉ định bạn tù nhân nào đó làm công việc báo cáo thường xuyên hành vi, tư tưởng các bạn tù khác. Đó là họ tổ chức hệ thống báo cáo ngầm. Tù nhân gọi những người nhận nhiệm vụ báo cáo là “ăng ten”. Mới đầu, các “ăng ten” tin rằng việc này giúp họ thêm “điểm cải tạo tốt”, sẽ được về sớm hơn. Bánh vẽ, vẫn trò bịp bợm muôn thuở của mấy anh cộng sản. Thực ra, cũng có ăng ten vì bị ép buộc, có ăng ten “may mắn” được chọn. Từ đó, có anh báo cáo vớ vẩn, có anh báo cáo thiệt tình, báo cáo với ác ý.

Tù kiên giam – Tù kiên giam là tù nhân bị nhốt trong khu vực đặc biệt gọi là “Nhà Kiên Giam, Khu Kiên Giam”. Bình thường, tù kiên giam bị nhốt một mình một phòng, hoặc vài ba người một phòng. Tù nhân ở khu này thường trực bị cùm một chân hai 2 chân vào một thanh sắt gắn kiên cố vào sạp xi măng, nơi tù nhân nằm. Mỗi ngày được mở cùm một, hay vài lần, một chân hay cả 2 chân, để làm công việc vệ sinh, ăn uống. Tiêu chuẩn ăn uống, quần áo, ít hơn ở “dưới làng”. Tù kiên giam, như vậy, rất ít cơ hội hoạt động. Lâu lâu được đưa ra sông tắm, giặt một lần, đó là tôi đang kể chuyện ở nhà tù Thanh Cẩm. Lý do để nhốt tù nhân vào khu kiên giam rất đa dạng. Vì tù nhân được coi là thành phần nguy hiểm nếu để sống với mọi tù nhân khác. Nguy hiểm về bạo lực, nguy hiểm về chính trị, … Những bạn tù này thường bị nhốt thường xuyên trong khu kiên giam, hoặc bị nhốt dài hạn, bị nhốt lâu nhưng có thời hạn rồi được cho về sinh hoạt dưới “làng”. Khu kiên giam cũng gọi là khu kỷ luật. Vậy người ta cũng nhốt bạn tù bị kỷ luật ở khu kiên giam. Thường thời gian nhốt có kỳ hạn.

Đội Nhà Bếp – Đội Nhà Bếp bao gồm những bạn tù làm công việc nấu bếp, cung cấp mấy bữa ăn hàng ngày cho tù nhân “trong làng.” Nhân gian truyền tụng: “Giàu nhà kho, no nhà bếp”. Về chuyện ăn no, tôi không rõ nhà tù thời Việt Nam Cộng Hòa ra sao, tù nhân có được ăn no không. Kinh nghiệm cá nhân, tôi không bị tù, nhưng bị nhốt bóp Cảnh Sát Quận 3 Sài Gòn một ngày, hôm Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu. Buổi chiều ngày bị nhốt họ cho tôi một tô cơm trắng đầy, trên để miếng trứng chiên lớn, kèm theo đôi đũa tre. Tôi vốn thích trứng chiên, nên ăn thoải mái, nhưng không hết tô cơm. Chỗ cơm đó gấp đôi mức cơm bình thường tôi ăn ở nhà. Kết luận đơn giản và không chính xác là tù được ăn no. Ăn “ngon”, dù ở đâu, thời nào, còn tùy mỗi người, không bàn chuyện này. Riêng tôi, hôm đó tôi ăn ngon miệng. Còn ở nhà tù của Cộng Sản Hà Nội, cụ thể ở nhà tù Thanh Cẩm, tù nhân luôn luôn bị đói. Mỗi năm có một ngày tôi biết mình được ăn no, là một trong 3 ngày Tết, còn 2 ngày kia ăn không bị đói như bình thường. Tôi nói tù nhân nói chung mà không sợ nhận định chủ quan vì tôi nghe ai cũng than đói. Do đó, được làm ở nhà bếp là có cơ hội ăn no hằng ngày. Được “ăn no” trong nhà tù Cộng Sản Hà Nội là cuộc sống trong tù được bảo đảm đến 80% an lành. Bình thường, đời sống tù nhân chỉ hy vọng cỡ 30%, 40% an lành. Mấy con số này, quan niệm “an lành”, nếu cần thảo luận, tôi xin để ở chỗ khác trong “tự sự” này, nếu nhớ được.

Như vậy “làm ở nhà bếp” là được ưu đãi hơn đa số tù nhân khác. Ưu đãi này từ đâu đến. Những vị bị tù cộng sản vì là viên chức và sĩ quan quân đội của Việt Nam Cộng Hòa, hoặc vì lý do chính trị, thường có câu trả lời chung. Ở đây, tôi trả lời để những vị chưa trải qua nhà tù cộng sản đọc đến chỗ này, biết thêm về người tù bị cộng sản nhốt. Tôi là tên lạc quan, cho rằng 30 % trường hợp do may mắn tình cờ. Còn lại, 40% do “công trạng”, 25% do lý lịch, 01% do “chạy chọt”, còn 4% dành cho sai số. Hai loại “công trạng” và “lý lịch” bao hàm cả cung cách sống trong nhà tù để thêm vào công trạng và lý lịch hồ sơ. Mấy con số hoàn toàn là nhận định chủ quan, xin đừng tin ngay. Nhưng tôi không tin là có chỗ nào để tra cứu, tìm hiểu về mấy con số này, may ra có trong văn khố của bọn Công An Cộng Sản Hà Nội.

Tự Giác – Tù tự giác là người tù đi lao động mà không có công an đi kèm. Đội Tự Giác, bình thường, cũng báo cáo xuất trại, nhập trại như các đội khác. Thực tế, vì mỗi tù nhân trong đội tự giác thường làm việc riêng rẽ, giờ giấc không khớp nhau, nên họ ra vào trại theo từng cá nhân, chỉ cần báo cáo với tên công an gác cổng. Là tù tự giác, tù nhân đã được hầu hết công an trong trại biết đến, nhận diện, nên ra vào cổng trại, gặp ở khắp nơi, trong rừng, trong làng dân chúng địa phương, bọn công an không thắc mắc, ngạc nhiên về tính an ninh. Do đó, về đời sống, người tù tự giác dễ dàng xoay xở để được “no và ấm”. “No” và “ấm” là hai chữ của ân sủng, của Thượng Đế đối với một tù nhân trong nhà tù cộng sản. Không chỉ no và ấm, đôi khi họ còn được “giải trí’ nữa. Chuyện thực ở trại Thanh Cẩm, vài bạn tù ở nhà bếp và tự giác tham dự nhẩy đầm (khiêu vũ) của bọn công an trại. Có bạn tù tự giác còn hẹn hò với phụ nữ trong rừng gây náo động trong đám gia đình công an ở trại. So sánh giản lược, tù tự giác sướng hơn tù nhà bếp. Đội Tự Giác ở chung với Đội Nhà Bếp, với Bệnh Xá, ở buồng 1, gần nhà bếp.

Lại câu hỏi như tù nhà bếp, do đâu mà một tù nhân được “là” tù tự giác. Xin dùng câu trả lời chủ quan ở phần tù nhà bếp vì tôi cho rằng hai nhóm tù này giống nhau.

Bản thân tôi bị nhốt kiên giam một lần, từ chiều đến nửa đêm, vì nấu nướng trong khuôn viên buồng. Bình thường, tù nhân không được nấu nướng. Được thả vì là đêm 30 tết. Bị nhốt ngắn hạn, nên chưa nếm mùi cùm. Cái nhà kiên giam đó do tôi trộn vữa, trộn bê tông để xây nên. Oái oăm cuộc đời.

Vào lúc “cuối trào”, lúc số ít tù Miền Nam còn ở Thanh Cẩm, theo mấy chàng công an, để chờ ngày về sắp tới, tôi phải nhận chức Thư Ký Đội Hồ Tiêu theo đề nghị của Đội Trưởng Lê Thiên Bảo. Bảo nói tôi “văn hay chữ tốt”, tức là đội không cần họp hàng tuần, nhưng tôi vẫn sản xuất được biên bản buổi họp, với những thảo luận sô nổi, với những kết quả lao động suất sắc. Để thưởng công, anh em trong đội cho tôi ấm chè trong khi tôi “sản xuất”. Cả bọn ngồi bên gô chè tán dóc, tôi cũng ngồi đó, nhưng bịa chuyện. Lúc đó đội còn mấy mống, Quản Giáo tập họp đội, nói, anh Lê Thiên Bảo làm Đội Trưởng nhé, rồi anh chọn anh nào làm Thư Ký đi. Nhẹ nhàng, đơn giản như không. Vậy mà trước đó chừng 3 năm, năm 1980, khi Đẻ tôi cùng bà Mẹ Vợ từ Sài Gòn ra Hà Nội, để từ Hà Nội vào thăm tôi ở Thanh Cẩm, mấy cái “chức” đó “đắt giá” lắm. Một ông anh dân Hà Nội đưa hai cụ vào Thanh Cẩm. Ông anh là Hiệu Trưởng trường nào đó, có thẻ đảng viên, nên chuyến thăm nuôi kéo dài gần hết buổi sáng, chừng 4 tiếng đồng hồ. Các cụ và ông anh kể chuyện, xe trâu ngừng chân chỗ nào đó, ngay trước nhà một ông cán bộ ở trại. Ông cán bộ ra đón các cụ vào nhà uống nước, hỏi có muốn cho tôi được làm Đội Trưởng không, hoặc “chức” cao hơn, hay vào làm ở nhà bếp. Các cụ ậm ừ, nói để suy nghĩ. Trì hoãn để hỏi ý kiến tôi. Các cụ muốn tôi được an nhàn hơn dù biết phải mất tiền. Tôi phải van xin các cụ đừng nhận lời. Công việc của tôi hiện cũng ổn (đánh vữa). Tôi phải nói rõ hơn với các cụ, khi giữ một chức vụ nào đó trong xã hội nhà tù là tự nhiên mình bị tách rời khỏi anh em, bị coi là tham gia việc đàn áp anh em, với tôi, việc đó không được. Các cụ nói, anh công an đó nói nếu làm ở nhà bếp sẽ được thừa thãi quanh năm, nên các cụ thuyết phục tôi nhận làm nhà bếp. Tôi vẫn từ chối. Tôi cho rằng cứ được ưu đãi là đã xa lìa đồng đội. Cụ nói tên chàng công an, chàng công an đó là “Ban” coi về an ninh. Khi đó không khí còn căng thẳng đối với tù Miền Nam. Sau này mọi sự dễ dàng hơn, thoải mái hơn.

Cũng ở giai đoạn Đội Hồ Tiêu tôi gặp lại anh chàng công an dạy tôi chữ “vét đĩa”. Nhắc lại, thuở ban đầu, chàng công an này là “ông quan” Quản Giáo đội xây dựng, bắt tù nhân gọi dạ bảo vâng, hai tay kính cẩn. Một giai đoạn tôi không gặp chàng, chắc chàng trông coi đội khác. Rồi chàng xuất hiện gặp Nguyễn Cao Quyền về chuyện gì, có lẽ về bản vẽ xây cổng trại, hôm đó chàng gọi tôi là “vét đĩa”, cho  anh Quyền một cơ hội vui với tràng tiếng cười thoải mái. Vét đĩa là “đồ cặn bã”, vét đồ ăn thừa trên đĩa của người ta. Tôi đoán vậy. Bây giờ, 1983, chàng công an đeo lon sĩ quan, lên làm Trực Trại. Khoảng giữa năm 1983, tôi được nhận gói quà gia đình gửi vào, trong đó có cái quần jean giả, may bằng vải dày, mặc mùa đông ấm, và bền. Chàng ta tìm tôi, điều đình mua lại cái quần đó, nói tôi mặc ở đây phí đi. Ở Miền Bắc, người ta gọi là “quần bò”, đắt và khá hiếm trên thị trường. Cuối cùng ngã giá, chàng kiếm cho tôi một cái quần của công nhân, thứ vải tốt, và 30 bơ gạo trắng. “bơ” là lon sữa bò. 30 lon sữa bò gạo trắng ở vùng núi này cũng khá nhiều tiền. Chàng cầm cái quần jean giả đi, ít phút sau một anh tù (tôi quên là ai) mang cho tôi bịch gạo, nói đây là 10 bơ ông … bảo mang đưa anh. Hai hay ba hôm sau, anh chàng đầu gấu bên hình sự tên Bình Bưởi, chạy qua, đưa tôi cái quần công nhân, nói, ông (tôi quên tên chàng trực trại dù bây giờ tôi vẫn nhớ khuôn mặt đó) bảo cháu kiếm cho chú cái quần này. Bình Bưởi tôi biết từ trước. Hỏi mày kiếm đâu cái quần này, trả lời, cháu không biết, chỉ thấy ông ấy đưa, chắc của thằng nào dưới làng mới có thăm nuôi. Tức là, cả gạo lẫn quần đều là của trời ơi chàng Trực Trại lấy của những ai đó. Chỉ trả 10 bơ thôi, chàng công an quịt của tôi 20 bơ gạo. Nhắn tin nhắc nhở, chàng cũng ậm ờ. Nhưng có lẽ vì nhớ thiếu nợ tôi số gạo, nên lúc tôi cần nhờ lại, chàng giải quyết ngay.

Mỗi buổi chiều, sau 9 tiếng kẻng báo hiệu đóng cửa buồng. Chàng Trực Trại dắt anh tù Trật Tự đi các buồng khóa cửa. Khi nghe 9 tiếng kẻng, các Đội Tưởng cho tù nhân xếp hành trước cửa buồng, đợi Trực Trại và Trật Tự đến kiểm điểm nhân số của buồng, rồi cho vào. Xong, khóa cửa. Tiếng xâu chìa hóa leng keng vì anh Trật Tự lo chạy đi buồng khác, xem hàng ngũ tù nhân có nghiêm chỉnh không, trước khi Trực Trại đến. Chiều hôm đó, vừa mới nghe 9 tiếng kẻng, cậu bé Tuấn Râu chạy ào vào sân gặp tôi, nói, anh Anh, lúc nãy nhập trại, thằng chèo … (ám chỉ Trực Trại) tịch thu của bọn em mất mấy bơ chè mới mua. Bọn nó nói nhờ anh lấy lại giùm. Tôi ngạc nhiên hỏi, làm sao anh lấy được. Đáp, bọn nó nói nếu anh nói là của anh, chắc chắn tên chèo … nó sẽ trả anh. Nói chưa dứt , Tuấn Râu đã chạy vọt xuống mấy buồng dưới. Bọn mấy cậu nhỏ này thuộc đội vận chuyển, lúc đó ở buồng 2. Tôi chạy theo, vừa vặn thấy Trực Trại và Trật Tự đi từ buồng 1 lên buồng 2. Thằng bé chạy về kịp lúc. Tôi đành xuống buồng 3, kế buồng tôi (buồng 4) chờ sẵn ở cổng buồng, tức cổng vào sân buồng 3. Thấy tên Trực Trại từ buồng 2 đi lên, tôi đón và nói ngay, hồi chiều tôi nhờ mấy đứa nhỏ mang vào mấy bơ chè, chưa kịp nói trước với cán bộ nên cán bộ tịch thu, tôi xin lại. Chàng Trực Trại ngần ngừ, rồi quay qua hỏi tay Trật Tự, túm chè đó anh để ở đâu. Đáp, ở nhà bếp. Chàng ta bèn phán, mai anh đưa lại cho anh Anh.

Nghĩa là mấy cậu nhỏ này ranh lắm. Lát nữa tôi sẽ kể chuyện mấy đứa này. Bọn nó biết cả chuyện “quần bò” của tôi, nên tin rằng nếu tôi nói là tên Trực Trại “chiều” ngay. Chính tôi cũng không ngờ có “uy tín” như vậy. Mộ tí uy tín vào lúc cuối mùa, lúc hai chữ này không còn ý nghĩa gây hại cho anh em, cũng có chỗ dùng đến.

Tóm lại, những gì tôi kể về mấy chuyện chức sắc trong nhà tù thường vẫn được nhiều người đặt trong khuôn khổ đơn giản, là sự đối nghịch cứng nhắc giữa “ta và địch”, giữa “kẻ nắm quyền và tên bị trị”, giữa “kẻ thua và người thắng.” Tôi chủ quan cho rằng, những khuôn khổ đơn giản đó “không đơn giản tí nào”, bởi vì, nó xẩy ra giữa những sinh vật gọi là con người. Gọi mấy tù nhân giữ chức sắc, gọi mấy bạn tù được ưu đãi, là tay sai cho bọn công an là cách quá giản lược cuộc sống một con người, là đánh đồng “cá mè một lứa.” Con người “sống” phức tạp hơn nhiều, không ai giống ai.

 Các Bạn Trẻ Phục Quốc

Ở phần nói về hai chữ Phục Quốc này, tôi đặc biệt nói về các em nhỏ ở cùng chúng tôi trong nhà tù Thanh Cẩm.

Phục Quốc là một tên gọi khá bao quát, bao gồm một số tổ chức, mặt trận, nhóm, của nhiều vị lãnh đạo tinh thần, các cựu viên chức chính quyền, sĩ quan, binh lính Việt Nam Cộng Hòa, đảng viên các đảng phái,… Theo báo chí Sài Gòn hồi đó mà chúng tôi có dịp “nghe đọc báo” mỗi tối, tôi ghi nhận một số danh xưng:

Lực Lượng Nhân Dân Vũ Trang Phục Quốc Việt Nam,

Mặt Trận Liên Tôn,

 Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng Việt Nam,

Tổ Chức Dân Quân Phục Quốc (thường gọi là nhóm “Nhà Thờ Vinh Sơn”).

Nhưng các em dưới tiêu đề “Phục Quốc” ở đây là các cậu nhỏ (lúc bị bắt), có thể hoặc chưa chắc thuộc các tổ chức và sinh hoạt kể trên. Từng em một có những hoàn cảnh riêng để bị bắt, và được gọi chung dưới danh xưng phục quốc. Nói chung, những công việc, những hành động của các em để bị bắt đều mang tính cách chống đối chế độ mới thống trị Miền Nam của người cộng sản, của đảng Cộng Sản, của Nhà Nước Cộng Sản. 

Khi chúng tôi từ Long Thành ra Thanh Cẩm, được phân phối cho ở 3 dẫy nhà gạch, mái ngói ở bên phải tính từ cổng trại nhìn vào, gọi là các buồng số 1, số 2, số 3, và cao trên cùng là số 4. Cứ độ một tháng, mấy tuần lễ là họ bắt chúng tôi mang hết đồ đạc cá nhân ra bày giữa sân, chúng tôi gọi là bầy hàng. Mỗi buồng một đống công an áo vàng, trông như bày sói, nhao nhao khám xét chúng tôi, xăm xoi từng tý mọi thứ đồ dùng của chúng tôi. Họ tịch thu cái này, tịch thu cái kia, la hét om sòm. Xong, cho lệnh ôm “đồ đoàn” cá nhân theo từng đội, qua buồng khác ở. Coi như không cho các đội ở chung với nhau lâu. Đôi khi, không xét đồ, nhưng xáo trộn đội. Người đội này đưa qua đội khác. Khoảng Tháng 7 năm 1977, họ cũng cho bày hàng, rồi đổi buồng, nhưng lần này, buồng 3 không có đội nào ở, hoàn toàn bỏ trống. Đội tôi ở buồng 4. Một tuần sau, một buổi tối, lúc tất cả tù đã bị nhốt trong buồng, cửa khóa ngoài, chúng tôi nghe tiếng người ồn ào bên ngoài, ở mấy buồng phía dưới. Không biết họ có đưa những ai đi trại khác hay không. Cả đêm mất ngủ, âu lo. Sáng hôm sau, đến khoảng 8 giờ vẫn chưa thấy mở cửa. Mọi khi khoảng 6 giờ sáng là tiếng Trật Tự hò hét bắt xếp hàng tập thể dục. Khoảng 9 giờ, cửa buồng mới được mở, nhưng Trật Tự và tay Trực Trại ra khỏi cổng buồng, khóa ngay lại. không có tập họp dưới sân như mọi khi.

Một hồi sau, từ sân buồng 4, tiếp giáp với “sân sau” buồng 3, cách nhau một bức tường, chúng tôi nghe tiếng ồn ào từ buồng 3. Tức là đêm qua, họ chuyển về trại này một số tù mới. Như vậy, chưa chắc đã chuyển ai thuộc nhóm tù Long Thành đi nơi khác. Các dãy nhà nhốt tù làm theo sườn núi, càng vào sâu, nhà càng ở khu đất cao hơn. Mái nhà của buồng 3, chỉ cao hơn sân buồng 4 chừng 2 mét đến 2.5 mét. Buồng 2 đối với buồng 3, buồng 1 đối với buồng 2, cũng gần như thế. Như vậy, từ sân buồng 4 nghe rất rõ tiếng ồn ào từ trong buồng 3, nhất là sạp nằm trong buồng có 2 tầng, người ngồi trên sạp tầng trên buồng 3 coi như ngang bằng với người ngồi sân buồng 4. Chúng tôi nghe tiếng hò hét, tiếng gõ nồi xong, vật dụng bằng sắt inh ỏi, rồi tiếng hát tập thể. Thời gian xẩy ra các sự kiện này có thể xê xích một ngày so với trí nhớ của tôi. Tôi nghĩ nó xẩy ra ngay buổi sáng đầu tiên nhóm tù mới chuyển đến vì chúng tôi bị nhốt trong sân buồng cả ngày họm đó. Cũng có thể nó xẩy ra hôm sau nữa, vì nhóm tù mới còn mệt sau chuyến di chuyển, hoặc vì sau một ngày thấy sự đối xử ở Thanh Cẩm có phần quá khe khắt. Cùng với tiếng ồn ào từ buồng 3, chúng tôi nghe tiếng chân chạy rầm rập. Ghé mắt nhìn qua khe cổng, chúng tôi thấy hàng đàn, hàng lũ công an áo vàng vác súng dài đứng dưới sân, rồi lên bậc tam cấp, vào cổng buồng ba. Có chuyện gì rồi.

Khoảng 10 giờ sáng, hai anh tù nhà bếp, lúc đó còn là các bạn tù hình sự, khênh nồi nước sôi lên buồng. Mỗi buổi sáng nhà bếp đều cung cấp cho chúng tôi nước sôi để uống, mỗi người chứa vào vật gì đó để dành uống. Vật thông dụng đựng nước sôi của tù Miền Nam là hộp sữa bột Guigoz, gọi là “cái gô”. Cái gô dùng cho đủ mọi việc, chứa nước uống, nồi nấu ăn, đựng nước “tắm” đêm mùa hè, … Chúng tôi săn đón hai bạn tù khênh nước sôi để dò tin tức về buồng 3. Các bạn lắc đầu không nói, đi ngay, khóa cửa buồng. Buổi trưa, lại hai bạn tù hình sự nhà bếp khênh “cơm” lên cho buồng 4, lúc này các bạn bạo dạn hơn, vắn tắt cho biết “họ” cũng giống như các chú (nghĩa là cũng tù Miền Nam) đòi hỏi gì đó.

Một ngày trôi qua, sáng hôm sau chúng tôi trở lại sinh hoạt bình thường. Tập họp dưới sân, không thấy tù Miền Nam nào mới. Cổng buồng 3 vẫn còn khóa bên ngoài. Lân la trò chuyện, chàng Quản Giáo hé cho biết, nhóm tù mới từ Quảng Ninh về.

Khoảng 3 tuần sau hay hơn, giờ tập họp buổi sáng ở sân trại bỗng nhộn nhịp hơn. Nhân số phía các đội tù Miền Nam tăng vọt, gần gấp đôi. Các bạn tù Quảng Ninh bắt đầu đi lao động. Họ được chia thành mấy đội, tính ra nhân số hơn 100 người. Có một chỗ ồn ào đặc biệt, nhìn kỹ, hơn mười mấy bạn tù trẻ măng như học trò. Họ hồn nhiên phá nhau, nhái cán bộ. Nhìn các bạn trẻ, tôi nhớ lại đám các cháu Bù Gia Mập. Hai năm rồi, chắc các cháu cũng gần bằng mấy bạn trẻ này. Mong rằng các cháu sau khi được bọn Việt Cộng “bồi dưỡng” để cho về với gia đình, giờ này chắc yên ổn bên Mẹ, Cha, Anh Chị Em.

Hầu hết gần hai chục các bạn trẻ, và một số các bạn lớn tuổi hơn từ Quảng Ninh về đều thuộc nhóm Phục Quốc. Xin nhắc lại ở đây, gọi các bạn Quảng Ninh về Thanh Cẩm là nhóm Phục Quốc không có nghĩa tất cả các bạn là thành viên hay cảm tình viên của các tổ chức Phục Quốc. Một số bạn có những hoạt động chống lại chính quyền Cộng Sản bằng những hành động riêng rẽ tự phát. Uất ức đối với bọn thống trị thì phản kháng, chống lại. Qua những câu chuyện sau này, tôi biết rằng từ Quảng Ninh đưa về Thanh Cẩm trên, dưới 150 người. Gần 30 bạn trẻ trên dưới 20 tuổi, còn một số các vị trên 30, 40 tuổi. Có vị như “bố Đệ”, lúc đến Thanh Cẩm đã trên 60.

Nói chuyện với mấy bạn trẻ, họ không biết vì sao từ nhà tù Quảng Ninh, họ lại đưa một số về Thanh Cẩm, một số về Trại Lam Sơn cũng thuộc Thanh Hóa, vùng trung du, gần Thành Phố Thanh Hóa hơn. Hầu hết mấy bạn trẻ Phục Quốc được đưa từ các nhà tù ở Sài Gòn như Phan Đăng Lưu, Chí Hòa. Ngày 17 Tháng 4, năm 1977, họ được đưa lên tầu Hương Giang làm chuyến viễn du đến Quảng Ninh. Quảng Ninh là một tỉnh phía đông bắc của Miền Bắc, có bờ biển và chung biên giới với Tàu. Mỏ than ở Quảng Ninh là nguồn sản xuất than đá chính cho Việt Nam. Các bạn Phục Quốc nhập vào các vị “đàn anh” có mặt ở đây, nhưng các bạn nhất định bất hợp tác với bọn Công An Giám Thị Trại. Họ không dám cho các bạn ra ngoài lao động. Gần 3 tháng sau, họ đưa các bạn về Thanh Cẩm.

Tất cả gần 150 người Quảng Ninh dồn vào Buồng 3, bình thường chứa 80 người, dồn lại chứa 120 người đã là chật chội lắm. Lúc đó là Tháng 7, trời hè, hơi nóng từ núi đá vôi nhả ra, hầm hập ngày đêm. Các bạn Phục Quốc tiếp tục cuộc chiến chống bọn công an coi tù, đòi hỏi cuộc sống dễ chịu hơn. Ngay sáng hôm đầu tiên tại trại, nhóm các bạn trẻ tụ họp nhau chào cờ, hát Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa. Từ sân buồng 4, chúng tôi nghe rất rõ. Tiếng hát Quốc Ca khiến tôi gần như nghẹt thở. Lâu lắm rồi mới được nghe khúc hát huyền diệu, thiêng liêng này. Cuộc chống đối của nhóm Phục Quốc kéo dài cả tuần. Họ tuyên bố tuyệt thực. 5, 6 ngày liền không ăn. Một số vị có tuổi bắt đầu lâm tình trạng nguy kịch. Bọn Công An Trại trả đũa, không ăn thì không cho nước uống luôn. Không thể để các vị có tuổi kiệt lực, các bạn đành chịu thua, bằng lòng bỏ tuyệt thực. Khoảng 3 tuần sau, họ đồng ý đi lao động. Bọn Công An Cộng Sản sẵn sàng để các bạn Phục Quốc chết, sẵn sàng để hàng triệu người dân Việt chết, miễn sao củng cố được quyền lực của họ.

Trong thời gian chống đối, bọn Công An Trại bắt đi một số người đứng tuổi. Các bạn trẻ cho biết sau này có thấy một số các vị bị dẫn đi trong 3 tuần chống đối đó, có vị ở đội này, có vị ở đội khác, nhưng còn những vị khác không biết đi đâu. Tôi nghĩ rằng chính các bạn trẻ đó cũng không biết hết mọi người cùng chuyến Quảng Ninh về Thanh Cẩm, cho nên sau này bọn Giám Thị Trại trộn lẫn tù Quảng Ninh với tù Thanh Cẩm, họ không nhận ra hết. Cũng có vị bị dẫn đi là đưa lên Kiên Giam, sau một vài tuần, được về dưới làng. Có 3 vị tôi biết, chừng cỡ tuổi tôi, trong nhóm Phục Quốc đó, là mấy anh Chu Đăng Đại, Mai Ngọc Y, Lê Thiên Bảo. Y và Bảo đều là võ sư. Họ bị bắt vì hoạt động cho Dân Quân Phục Quốc.

Từ khi các bạn tù Quảng Ninh về Thanh Cẩm, trại bắc đầu chuyển số các bạn tù hình sự qua khu K2, cách K1 khoảng 2 cây số hay hơn, họ bỏ trống dẫy nhà tranh bên tay trái, tức các buồng 5, 6 và 7. Buồng 8 là khu Kiên Giam, ở cách biệt hẳn trên khu đất cao của trại. Gần cuối năm 1977, Đội Xây Dựng của tù Miền Nam, tức là Đội 2, và Đội Xây Dựng của phía hình sự, cùng nhau phá các dãy nhà tranh, xây dẫy nhà gạch, mái ngói mới. Khoảng gần giữa năm 1978, mọi việc hoàn thành. Cũng là lúc đón tù Miền Nam từ các trại tù Quân Đội quản lý, các trại tù của công an ở phía cực bắc, chuyển về Thanh Cẩm. Họ chạy tù trước khi cuộc chiến biên giới bắt đầu.

Với nhịp độ xây dựng cấp tốc 3 dẫy nhà bên trái của trại, tức của khu K1, thêm xây lại hoàn toàn khu Nhà Kiên Giam, phần lớn các bạn tù Phục Quốc được điều động vào hai đội chính, Đội Vận Chuyển và Đội Lò Gạch. Đội Lò Gạch lo sản xuất gạch kịp với nhu cầu, Đội Vận Chuyển dùng xe cải tiến chở gạch, đá, cát, vôi về sân trại để Đội Xây Dựng dùng. Từ đó, tôi bắt đầu làm quen với các bạn trẻ của Đội Vận Chuyển. Đánh vữa xong, tôi có thì giờ đón các bạn đổ gạch, cát xuống, 15 phút hay nửa giờ nghỉ ngơi, sau đó kéo xe không đi làm chuyến khác. Vốn là một huynh trưởng Hướng Đạo, hàng chục năm sinh hoạt với các bạn thanh niên, Sinh Viên, tôi dễ dàng kết thân với các bạn Phục Quốc trẻ trung.

Tuổi xanh như nắng mai, Đời thanh niên thắm tươi” Nhạc sĩ Phạm Duy có rất nhiều bài viết về tuổi thanh niên, viết cho tuổi thanh niên. Trọn cuộc đời ông là cuộc đời của một thanh niên. Tôi lại một lần nữa phải nói: “Tiếc rằng” ông không qua cảnh sống một thanh niên trong tù, nhất là nhà tù Cộng Sản. Phạm Duy và bất cứ nhạc sĩ nào ở trong nhà tù Cộng Sản, sẽ miêu tả hình ảnh các bạn trẻ ở Thanh Cẩm như những Phù Đổng Thiên Vương, Trần Quốc Toản, sẽ không là những chiếc bóng dật dờ, những hình nhân cùn nhụt ý chí. Phạm Duy làm nhạc, soạn lời ca như một nhà viết sử, ghi lại chân thật những gì ông thấy, ông nghe, ông cảm trong suốt cuộc sống của ông, trong xã hội con người hiển hiện chung quanh ông. Và như vậy, chàng thanh niên Thanh Cẩm sẽ được ông thêm vài nét chấm phá, để các chàng không chỉ là “nắng mai”, không chỉ là “thắm tươi”, mà sẽ còn là kiêu hùng, là thách thức, là trí tuệ. Vâng các bạn trẻ Thanh Cẩm lúc nào cũng tràn đầy sức sống như nắng lên cho một ngày mới, lúc nào cũng vui cười như cánh hoa thắm tươi. Ngay cả khi các bạn ngồi bệt xuống đất nghỉ ngơi, kéo vạt áo tù thấm “bát mồ hôi” ướt đẫm khuôn mặt, hình ảnh các bạn vẫn sừng sững như dẫy núi bên kia bờ sông Mã, đầy nghị lực, đầy niềm tin, lạc quan, yêu đời.

Tôi còn nhớ mãi chàng thanh niên Hoàng Xuân Trường bụ bẫm, cận thị. Tôi nói bụ bẫm vì chàng thường lạch bạch như một cối xay lúa, bề ngang “bắt mắt” hơn bề cao, hay gọi là “bề thấp” cho đúng với chàng. Vậy thì, hai chữ “bụ bẫm” không có nghĩa chàng đủ ăn, mập mạp. Trong nhà tù Cộng Sản, nếu có lớp học tiếng Việt, tù nhân sẽ không bao giờ được học hai chữ “đủ ăn.”, và sẽ không bao giờ có ý niệm đủ ăn. Chàng Trường đeo đôi kính cận thị to, dầy làm tăng vẻ tròn trịa của khuôn mặt, nhưng trong sinh hoạt hàng ngày chàng “dấu” cặp kính đi, đôi mắt hấp háy, nheo nheo như khóe cười luôn luôn hiện diện. Tôi lại nói sai theo trí tưởng tượng, vì nếu có lúc nào khuôn mặt đó tròn trịa, ắt phải là trước Tháng Tư, 1975. Có thể tôi có cảm tưởng về khuôn mặt chàng như vậy, vì đôi môi chàng luôn nở nụ cười e thẹn. Chàng là con của một bà yêu nước. Tôi tin là bà yêu nước thật, cũng như tôi tin lớp lớp thanh niên Miền Bắc đã mang theo tấm lòng yêu nước khi vượt Trường Sơn, khi gửi nắm xương khô trên con đường mòn Hồ Chí Minh. Đảng, Nhà Nước, toàn bộ chế độ Cộng Sản bịp bợm, đánh lừa họ, kêu gọi và lợi dụng lòng yêu nước của họ. Vậy, bà yêu nước nên bà nằm vùng, để sau 1975, bà là Phó Chủ Tịch Hội Phụ Nữ Sông Bé. Cậu con trai của bà cũng yêu nước, hoặc vì cách yêu nước của cậu khác cách của bà, hoặc cậu được nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa dạy cho biết thế nào là yêu nước, nước Việt Nam là gì. Bây giờ, cậu thấy Nước của cậu đã mất, cậu thể hiện lòng yêu nước bằng cách chống đối kẻ cướp nước. Mẹ cậu, bà Phó bắt cậu phải yêu nước theo kiểu bà, là yêu Đảng, yêu Xã Hội Chủ Nghĩa. Cậu không nghe, bỏ nhà, lang thang. Ghé qua Chùa An Lạc, nơi cậu vẫn lui tới ngày xưa, tạm trú thân. Kết bạn với chú tiểu, hai chàng rủ nhau tạm rời kinh kệ, tìm cách cứu nước. Tuổi trẻ hăng say nhưng thiếu kinh nghiệm, Trường kết nạp người ồ ạt, bị bể. Bà Phó muốn chàng khai báo bạn bè lập công chuộc tội. Chàng từ chối. Bà từ con. Có lẽ từ con cũng là để bảo vệ mình, biết đâu, để bảo vệ nhiều đứa con khác của bà. Đó là điều dễ hiểu giữa thời khắc đen tối nhất của lịch sử nước nhà. Tôi thông cảm với bà.

Tại Thanh Cẩm, một buổi nào đó, gặp lúc tên Quản Giáo của Đội Vận Chuyển lười, cho nghỉ gần tiếng đồng hồ giữa hai chuyến kéo xe, tôi đọc cho Trường nghe bài “Quán Thế Âm”, thơ Phạm Thiên Thư, nhạc Phạm Duy. Tôi mong Trường hiểu rằng, cuối cùng, thế nào rồi các bà Mẹ vẫn luôn đi tìm con. “Nhớ con tìm khắp chốn …” Đọc bài đó, có phần do sự thông cảm với bà Mẹ của em. Có những buổi, mấy ngày liền, tôi nói chuyện với Trường về vài điều giản dị nhưng liên tục, sau thêm vài bạn trẻ hiếu kỳ “vào” nghe, rối dính luôn. Kể cũng vui, dừng xe đổ xuống gạch, cát, mấy cậu chạy ào đến sân vữa, và tôi bắt đầu ngay, nối tiếp câu chuyện lúc nãy, hoặc hôm qua. Tôi mang những gì học lóm còn nhớ được từ các cụ Hồ Hữu Tường, Nguyễn Đức Quỳnh, sắp xếp theo một dàn bài tạm bợ trong trí nhớ (vì không thể viết ra), trình bày với các em. Thí dụ như ý nghĩa mấy chữ theo lời bàn của cụ Quỳnh, Lập Ngôn, Lập Thuyết, Lập Công. Hoặc tôi thuật lại những gì có trong một tác phẩm mỏng, nhan đề “Lời Báo Cáo Của Một Nhà Khoa Học Nghiên Cứu Kinh Phật”, tác giả là Uông Trí Biểu, bản dịch của ai tôi quên mất.

Phải nhắc lại tôi là tên lười biếng và trí nhớ kém, nên không thể “chiếu phim Chưởng” cho các bạn trẻ nghe. Nhớ lõm bõm được đôi điều, kể lại để khuyến khích các bạn tìm biết thêm trong các nhà tù Cộng Sản chứa chất nhiều bộ óc đầy hiểu biết, nhiều kinh nghiệm sống. Lúc đó, tôi tiếc đã không tích lũy nhiều hơn, đã không “tiêu hóa” được những gì tích lũy, để đóng góp với các em.

Trường về trước, tôi mất liên lạc. Sau này, biết tin lúc em đã vào tuổi 60, tìm vui qua ly rượu. Tôi không dám hỏi xem những năm cuối đời của bà Mẹ, hai mẹ con ra sao.

Tuổi xanh như nắng mai. Vâng, tuổi xanh cả một thế hệ các cô cậu em tôi vẫn xanh, vẫn thắm, bất hạnh thay, ở vào một đất nước hào nhoáng vô hồn và mộng mị. Nghĩ đến Trường bên ly rượu, giữa đống vỏ chai không còn giọt nước, chỉ mong chàng quen thêm đôi chút với chữ “không.” Nhiều Trường như vậy là điều đáng tiếc cho nước mình, cho dân mình.

Hoàng Xuân Trường không phải là bạn trẻ duy nhất lập tổ chức, mưu tính đại sự. Bởi vì, nói theo cách nói của Đặng Hữu Chí mà lát nữa tôi sẽ kể chuyện, thì ở vào cái thời buổi những năm 1975, 1976, 1977, tuổi trẻ không làm một cái gì đó thì không được. Chí nói, tự nhiên mình phải tham gia, phải tổ chức, phải làm gì đó chống lại cái bọn cầm quyền, không cần ai rủ rê, thuyết phục, y như mình phải ăn, phải uống vậy.

Hôm nay thuộc năm 2020, những đoạn phim ngắn diễn ra ở phim trường Thanh Cẩm còn về được trong trí tưởng tôi. Phim mờ nhạt, lãng đãng, nhưng khuôn mặt, cử chỉ, ngôn ngữ, những nét đặc biệt từng diễn viên vẫn còn ghi nhận được. Mấy bạn chung nhóm Hoàng Xuân Trường, thêm bạn Ngô Tỵ, cũng cao, khuôn mặt nhỏ, triệu chứng bị bệnh, không rõ bệnh gì, và chàng thuộc lớp bạn tù sớm ra nằm trên đồi “Vàng Tâm hoa trắng”. Ngày xưa “ông Lão Bộc” của nhà văn Nguyễn Tuân chỉ ao ước khi chết được nằm trong cỗ quan tài bằng gỗ vàng tâm. Bây giờ nhiều bạn có cả một đồi vàng tâm bên cạnh. Không rõ sau này gia đình có tìm được nắm xương tàn của bạn Ngô Tỵ hay không. Hẳn là, khi ngất ngưởng bên ly rượu, Trường vẫn còn bàn bạc với Ngô Tỵ về cuộc chiến chống kẻ cướp nước. Không rõ chùa An Lạc có còn ở nơi chốn cũ? Có còn lưu dấu vết Ngô Tỵ, và nhiều bạn nữa “cùng vụ” với Trường nhưng bị phân tán đi nhiều nơi? Tôi bắt gặp hình ảnh Châu Thoại Cầu trong đoạn phim ngắn. Cái dáng điệu cao lênh khênh của chàng diễn viên khiến người ta tưởng chàng là kẻ vụng về, hậu đậu, cứ như chàng sắp sửa làm đổ, vỡ một vật gì đó trên đường chàng đi. Chàng ở Quận 3 nên dễ dàng tham dự vụ in tiền giả của Phục Quốc, có lẽ là Nhà Thờ Vinh Sơn, trên đường Trần Quốc Toản. Tôi nhớ mang máng, cùng vụ với Cầu còn có một bạn trẻ tên Ý, gầy còm, và một bạn tên Tuấn, nhỏ con không kém. Có  một bạn cao như Châu Thoại Cầu, tên Sang, gọi là Sang Du, vốn là lính Việt Nam Cộng Hòa, vào Tháng Tư, 1975, chàng mới 19 tuổi. Bạn Sang Du và hai bạn nữa là Trình, Dũng Cận cùng vụ với nhau, gọi là nhóm Gò Vấp, Phục Quốc.

Nguyễn Mạnh Tuấn, còn gọi là Tuấn Nhí, để phân biệt với một bạn Tuấn nữa, cũng “nhí” không kém, may nhờ vài sợi ria mép, nên được gọi là Tuấn Râu. Bạn Râu tên Lê Thành Tuấn, con của Giáo Sư Lê Thành Trị. Thấy nước nhà nguy biến, nghe theo tiếng gọi “Hội Nghị Diên Hồng”, cãi lời cha, xếp bút nghiên theo nghiệp đao cung, đánh nhau với VC. Bị tù, vẫn gàn như mấy thầy đồ. Còn bạn Tuấn Nhí, cậy mình là nhí, thích đùa chơi với bọn cán bộ trại. Trong dịp Tết năm 1978, Tuấn Nhí tham gia “tuyển lựa” vào Ban Văn Nghệ trại. Giọng hát ngọt ngào, da diết khiến nhiều bạn tù dự khán dơm dớm nước mắt, vì chàng hát một bài của Chương Trình Chiêu Hồi, bài “Ngày Về”. Ánh chiều tà hắt ngang hội trường làm bằng tre nứa, không có vách bao quanh. Không gian bỗng như bâng khuâng, nuối tiếc khi Tuấn hát lên: “Tung cánh chim tìm về tổ ấm, Nơi sống bao ngày giờ đầm ấm, … Nghe tiếng chim chiều về gọi gió, …” Bọn cán bộ có vẻ nghi ngờ khi thấy tiếng suýt soa từ đám khán giả, cật vấn Tuấn: Anh hát bài này là bài gì vậy? Trả lời, bài này của tác giả cách mạng là Hoàng Giác. Bọn cán bộ miễn cưỡng chấp nhận. Họ mấy khi ra đến Thành phố Thanh Hóa, nên chắc chắn cũng không biết gì về Chương Trình Chiêu Hồi của Việt Nam Cộng Hòa. Về Sài Gòn, Tuấn lấy vợ. Hai vợ chồng mở một tiệm nho nhỏ bán đồ điện. Trên tường treo ngạo nghễ cây thánh giá. Ở trong tù, vẫn hát thánh ca nhân dịp Noel. Về đời thường, lại ít lui tới nhà thờ. Hỏi chắc em ngoan đạo nên treo tượng Chúa. Trả lời, bọn chèo, về đây vẫn quen gọi Công An là “chèo”, nói em treo hình Già Hồ. Em bảo không có chỗ, rồi em treo thánh giá. Hỏi chắc em thạo về điện nên bán đồ điện. Đáp, tại vì em chẳng thạo một cái gì, không biết làm gì, đạp xích lô thì khi khách ngồi lên, phía trước đè xuống, còn em bỗng vụt lên giữa lưng trời. Bán đồ điện được cái sạch sẽ, bữa cơm, bữa cháo, khá hơn hồi ở Thanh Cẩm. Tuổi thanh xuân trôi theo dòng sông Mã, chỉ học được cách nặn mấy viên đất sét, biết nung mấy viên đất sét thành gạch. Ở Sài Gòn đất sét không có, lò nung đốt củi cũng không. Bán đồ điện cũng là “mạng hỏa”. Cũng là lửa như lửa địa ngục Thanh Cẩm, lửa địa ngục Sài Gòn. Đoàn Văn Ý mất rồi, Nguyễn Mạnh Tuán mất rồi. Châu Thoại Cầu còn ở San José, Hoa Kỳ.

Còn bạn Trình, và một số bạn nữa gần giống nhau ở vẻ thừa thãi tay chân, ngồi xếp bằng trên sạp cùng anh em ca hát, đôi chân, đôi tay khẳng khiu không biết để vào đâu. Tôi còn nhớ tên: Sang Nhốp, nhốp vì đeo kính cận, bạn Nhốp ở cùng cư xá với Tuấn Râu, không rõ có chung vụ không. Bạn Vinh, không rõ có phải tên bạn còn nối dài với chữ “sún”. Và các bạn Tâm, hình như “Tâm Mộc”, tôi mù tịt không biết vì sao thêm chữ “mộc” vào. Rồi các bạn Dương Chí Thành, Tôn Thất Tuấn, Ngô Bảo Châu, Thới, Tuân. Có thể tôi bỏ sót mất mấy bạn. Tất cả khi vào tù ở vào tuổi 16, 17, cho đến 20, 21. Hai bạn Tuân và Lê Đình Dũng lớn hơn, chừng 25, 26.

Các bạn Trần Trình, Nguyễn Đức Vinh, Sang nhốp, Bùi Viết Dũng, Ngô Quốc Thái, … tôi nói gần giống nhau, lúc nào cũng cười cười,  mang hình ảnh cậu bé thi sĩ Huy Cận đã nhắc đến. “Có chàng ngơ ngác tựa gà trống, e đến trăm năm còn trẻ thơ.” Các bạn mang hình ảnh đó với khuôn mặt lúc nào cũng hơi ngơ ngác, đôi mắt mở to nhìn người này, người kia như dò hỏi, trong khi miệng cười một nửa. Bạn Bùi Viết Dũng còn gọi là Dũng Cận thì như một nhà tu xuất sớm, xuất sớm nên thạo đời hơn các vị Linh Mục. Họ còn giống nhau ở hành động “đột kích” nhanh như cắt. Trông tất cả đều có vẻ khờ khạo, nhưng đừng tin vào những gì mình cảm thấy. Lúc đoàn xe tăng (đoàn tù kéo xe cải tiến) đang bon bon trên con đường đất chạy theo triền đồi, vừa tới khúc quanh, bọn công an Quản Giáo, Bảo Vệ còn lê khẩu súng dài mãi tít đằng xa, thì Trình ngơ ngác đã biến mất vào khu đồi sắn, kéo theo Dũng Cận không còn cận nữa, Sang Nhốp cũng hết nhốp, Vinh sún vẫn sún nguyên, tất cả tấn công chớp nhoáng, rồi cả bọn cùng chạy ào xuống. Mấy cụm sắn lớn hơn chục củ, đã được các chàng vùi vào đống cát trong thùng xe, thân cây sắn bẻ bỏ đi lúc nào không biết. Tất cả xẩy ra trong vòng 3 phút. Dòng sông Mã vẫn lững lờ trôi, đoàn xe vẫn lăn bánh đều đều, lọc cọc, cuộc đời hầu như không có gì thay đổi. Chỉ có lát nữa, tại đống lửa của chàng nấu nước cho Đội, sẽ thơm lừng mùi sắn nướng cho cả bọn cùng nhai, và cuối tuần thùng cháo sắn là bữa tiệc cải thiện. Đó là Trình, là nhiều bạn trẻ khác, họ phải tự mình tìm thêm lương thực để cùng nhau sống sót giữa chốn khốn cùng. Bọn công an áo vàng gọi chuyện “mưu sinh thoát hiểm” bằng mấy chữ “lang lác, lang lác.” Phải lang lác mới sống sót trở về, Cán Bộ ơi. Bây giờ, Mấy bạn Trình, Dũng Cận, Sang Nhốp, Vinh sún đều đang ở Mỹ. Riêng Ngô Quốc Thái ở Đức, Lê Đình Dũng ở Pháp. Ngô Quốc Thái đã có gia đình, cuộc sống tàm tạm, có sang Mỹ chơi hai lần do bạn Đặng Hữu Chí đài thọ vé máy bay. Còn Lê Đình Dũng, trong tù mấy bạn trẻ gọi là “Chị Hai”, trắng, điềm đạm, ăn nói từ tốn, khoan thai đến độ dụt dè như con gái. Tôi không rõ bạn ở Pháp ra sao, ít khi tôi có dịp liên lạc.

Bạn Tuân, bỗng dưng tôi quên mất tên đầy đủ. Bạn trong nhóm Quảng Ninh về Thanh Cẩm, cũng giữ sinh hoạt với mấy bạn trẻ kia, nhưng vẫn giữ khoảng cách, có thể vì bạn hơn đến 5, 6 tuổi, và bạn đi tù vì vượt biên. Gặp nhau ở Thanh Cẩm, Tuân cho biết gặp ông già vợ tôi ở Phan Đăng Lưu. Cụ bị bắt vụ Hồ Con Rùa. Bạn cũng là người cho tôi biết tin một người bạn của tôi, tên Nguyễn Thạc, con cụ Nguyễn Đăng Thục. Bạn gặp ở Cần Thơ lúc chưa bị bắt. Và cũng chính bạn báo tin Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn bị Việt Cộng xử bắn ở sân vận động Cần Thơ. Nói chuyện nhiều lần, tôi khám phá ra bạn có gặp tôi tại nhà vợ tôi mấy lần khi bạn đến chơi với cậu em áp chót của vợ tôi. Tuân hiền lành, kín đáo, chân bị tật. Hiện bạn thành công ở Sài Gòn.

Đặng Hữu Chí – Bây giờ tôi kể chuyện về Đặng Hữu Chí, người tù trẻ nhất ở Thanh Cẩm, 17 tuổi, lúc vào tù 16 tuổi. Chính ra, theo cái gọi là qui định của bọn chính quyền Hà Nội, lúc chuyển tù Miền Nam ra Bắc, họ sẽ không chuyển các tù Phục Quốc dưới 18 tuổi và trên 60 tuổi. Ngày 17 Tháng 4, năm 1977, bọn Công An coi tù ở Trại Lê Van Duyệt cho lệnh tù chính trị tập họp. Một tên Công An bước vào phòng hỏi, ở đây có anh nào dưới 18 tuổi. Đặng Hữu Chí dơ tay. A, anh Chí, anh sinh năm bao nhiêu, tôi sinh năm 1960, năm nay 17 tuổi. Tên Công An lắc đầu, anh Chí bỏ tay xuống, anh sinh năm 1959. Nhưng khai sinh ghi tôi sinh 1960. Từ hôm nay anh sinh năm 1959. Rồi tên Công An hỏi tiếp, có anh nào từ 60 tuổi trở lên. Một ông già râu và tóc đều bạc, dơ tay. Tôi sinh năm 1917, năm nay 60 tuổi. A, anh Đệ, năm nay anh 59 tuổi, bỏ tay xuống.

Gần 400 tù chính trị Miền Nam từ trại Lê Văn Duyệt được đưa ra Bắc. Tất cả đều từ 18 tuổi trở lên và 59 tuổi trở xuống. Chí kẻ rằng, sau này tại Trại Tỵ Nạn, phái đoàn Mỹ hỏi Đặng Hữu Chí tại sao anh khai sinh năm 1960, mà giấy ra trại ghi sinh năm 1959. Hỏi cho vui, mấy anh Mỹ bấy giờ đã khôn hơn, đã hiểu biết thêm về Việt Cộng.

Tháng Tư, 1975, Đặng Hữu Chí đang học trường St Thomas, góc Huỳnh Quang Tiên và Trương Minh Ký. Nhà Chí trong khu cư xá Kiến Thiết, học đó cũng gần. Học đang vui, đang tính sau hè lên Đệ Tam, một năm vẫn được coi như “ngồi chơi xơi nước”, học vừa phải cũng được, học chăm thì càng hay, nếu có lười chút chút, chẳng sao, sau đó lớp Đệ Nhị, mới căng. Chí định vui chơi là chính, nhưng vẫn chuẩn bị chút gì cho năm sau, quyết lấy cho được mảnh bằng Tú Tài 1, lận lưng, rồi Tú Tài 2, sau đó Đại Học. Nhà nghèo, cần mảnh bằng đỡ tay cho Mẹ. Bỗng dưng, họ tới, xáo trộn tất cả. Còn mới quá, nên chưa đuổi hết học trò về nhà. Khổ một cái, bây giờ mỗi ngày vào lớp phải đụng với anh già chình ình trên tường. Anh già này, gia đình Chí đã có kinh nghiệm từ mấy năm trước.

Năm 1971, gia đình Chí đang ở Tỉnh Chương Thiện. Đời sống tương đối khá giả.  Ông thân sinh của Chí, ông Đặng Huy Minh, đang làm Trưởng Ty Thông Tin. Ông có việc đi công tác ngoài Cần Thơ. Trên đường trở về, bọn Việt Cộng đón đường, phục kích. Ông tử thương. Chí đụng anh già Hồ lần đầu như vậy. Có người sẽ cãi, đó là du kích của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Thưa vâng, đúng như vậy. Nhưng toàn thể cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, cũng như cái gọi là Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, đều là “lính” của anh già Hồ. Ai cũng biết thế, cả nước đều biết, cả thế giới đều biết. Chiếm được Miền Nam, bọn đàn em anh già Hồ cất ngay mấy “cái gọi là” bên trên, cho vào bảo Tàng Viện, sau đó, cho vào sọt giác luôn.

Một cú thua đau cho Chí lần đầu năm 1971, 4 năm sau, 1975, Hồ cho Chí cú thứ nhì, lại còn hàng ngày chường cái mặt hãm tài. Bực lắm. Chí nhớ ngày xưa, nghe đâu đó mấy câu vè: “Mặt bé choắt, cổ vươn, mắt trố. Vốn khi xưa ở chốn rừng xanh. Chuồng gà mặc dịp tung hoành, Béo, gầy, đen, trắng, mặc tình cáo sơi”. Nhìn lại, đúng là “mặt cáo”. Phải mang cáo ra tòa, hỏi cái tội phá tan nát chuồng gà, phá tan nát đất nước.

Giấc mộng Đại Học kể như tan tành, nhưng Đặng Hữu Chí thấy không cần tốt nghiệp Luật Khoa, việc sử án cứ theo lương tâm con người, lấy quyền dân, quyền con người làm căn bản, lôi anh già Hồ từ trên tường xuống, đưa ra tòa án. Bọn cướp nước đang đưa hàng chục ngàn Viên Chức, Sĩ Quan Việt Nam Cộng Hòa vào tù, chẳng cần tòa án. Phải dậy cho bọn chúng biết thế nào là nền Tư Pháp công minh của Việt Nam Cộng Hòa, nên có Công Tố Viên kết tội, ông Chánh Án Đặng Hữu Chí vẫn phải mời Luật Sư biện hộ cho bị cáo Hồ. Phe biện hộ đuối lý. Ông Chánh Án tuyên án tử hình bị cáo Hồ Chí Minh. Đốt ngay bức ảnh tại chỗ, trong lớp học.

Chánh án lúc đó 16 tuổi. Công Tố Viên cũng 16. Luật sư già dặn hơn. Vụ án xôi nổi. Hai tuần sau, Công An mời viên công tố, rồi mời Luật Sư. Phải chuồn thôi. Cuối cùng bọn Công An cũng vồ được “ông” Chánh Án. Sau này, nghe nói Luật Sư có được về sớm hơn hai vị kia. Chắc là có công cãi cho Già Hồ, được chiếu cố.

Hỏi Đặng Hữu Chí tại sao lại làm cái việc chắc chắn sẽ bị bọn nó vồ như vậy. Trả lời, nếu anh “ở ngoài” lúc đó, nhũng năm 1975, 1976, 1977, tự nhiên anh thấy phải làm một cái gì. Các lớp chú, bác, đàn anh (VNCH) đã bị bọn nó nhốt tù hết rồi. Không thể nào chấp nhận sự thống trị của bọn nó, ai ai cũng muốn làm một cái gì đó. Những lời hô hào của Tướng Nguyễn Cao Kỳ còn vang trong khu Tân Sa Châu (Từ Sài Gòn đi về Tân Sơn Nhất bằng đường Trương Minh Giảng, rồi Trương Minh Ký, sẽ qua khu Cư Xá Kiến Thiết, rồi tới khu Tân Sa Châu. Nhà Chí gần nơi Tuớng Kỳ những ngày giữa Tháng Tư, kêu gọi về Miền Tây tiếp tục đánh Việt Cộng). Mọi người còn đồn Tướng Ngô Quang Trưởng đã có mặt ở Chiến Khu., Tướng Kỳ ở Miền Tây. Không khí tưng bừng như sắp tổng nổi dậy. Anh có thấy, hầu hết mấy đứa kia (các cậu nhỏ Đội Xe Tăng, Đội Lò Gạnh) đều muốn dấn thân vào con đường cứu đất nước.

Đặng Hữu Chí bị bắt nhốt ở Trại Giam Phan Đang Lưu, số 4 đường Phan Đăng Lưu. Tại dây, Chí nằm trong phòng biệt giam. Gọi là phòng, nhưng giống như một cái hộp, một chiều khoảng 2 mét rưỡi, một chiều khoảng 1 mét rưỡi, cao hơn 2 mét. Toàn bộ 3 bức tường kín mít, cánh cửa sắt chỉ mở ra khi bị điệu đi làm việc. Có một khe nhỏ trên cánh cửa sắt để người ta đưa đồ ăn vào. Qua khe đó Chí có thể nhìn được góc lớn của phòng tập thể ở phía đối diện với khu biệt giam, nhưng từ bên đó, người ta chỉ thấy được lờ mờ đôi mắt của người tù bên này. Phòng tập thể có thể nhốt tối đa đến 70, 80 người. Hằng ngày, qua khe hở, Chí thấy mọi người đi qua đi lại trong phòng bên kia, nghe được lõm bõm tiếng nói chuyện. Chí và những bạn tù phòng biệt giam 2 bên cũng có thể liên lạc với nhau, loan truyền cho nhau tin tức, mặc dù không thấy mặt nhau, hoặc chỉ thấy vào ban đêm, một bạn biệt giam bị đưa đi làm việc. Thấy không rõ vì ánh đèn hành lang tù mù. Có lúc, Chí “gặp” được “ông Công Tố” vụ án già Hồ, nhưng rồi chàng đó bị đưa đi, mất liên lạc luôn.

Ở biệt giam chừng 3 tháng, “ông Chánh Án” được đưa ra phòng tập thể. Phòng chứa khoảng 50 người, mỗi người được chừng 80 cm chiều ngang để nằm, ngồi, sinh hoạt. Hỏi Chí, có ai nhỏ tuổi hơn Chí không? Đáp, em vẫn là nhỏ nhất. Có thể ở phòng khác, có mấy em nhỏ bị nhốt vì lẽ gì đó, bán thuốc lá dạo, táy máy trong mấy tiệm bán đồ, … Hỏi, vậy trong phòng bạn toàn những người chống đối, ý tôi nói, là Phục Quốc? Đáp, Theo em, trong 50 người, 50 hay ít hơn, nhiều hơn một hai người, em không chắc lắm, có chừng 40 hay ít hơn là Phục Quốc, 3 hay 4 văn nghệ sĩ hay báo chí, 4 vị thuộc tư sản, đặc biệt có hai vị là cán bộ Hà Nội thoái hóa. Em không rõ thái hóa về tội gì. Tức là, 3 loại tù trong phòng em: Phục Quốc, Văn Nghệ Sĩ, Tư Sản. Cái vui của em là gặp nhà văn Duyên Anh.

Từ xưa, giống nhiều bạn học sinh khác, Chí say mê truyện của Duyên Anh. Được gặp người chàng hâm mộ, có vẻ như bị tù lại là một “cái may?” Điều khiến Chí ngạc nhiên là tuy chưa từng gặp, nói chuyện, mà ông Duyên Anh lại biết về Chí rất nhiều. Ông ta nói về Chí cứ như một người đã quen lâu rồi. Ra phòng tập thể, Chí cũng biết thêm nhiều bạn trẻ khác, hơn mình chừng 2, 3 tuổi, cũng bị vồ vì cái tội nói chung là Phục Quốc. Nhà văn Duyên Anh đã viết về Chí, về mấy bạn trẻ mà nhà văn gọi là “28 con sư tử lãng mạn và cô đơn”.

Hỏi, vậy, Chí gặp được thần tượng Duyên Anh trong tù. Đáp, nếu gọi là Thần Tượng thực sự, đến giờ phút này bên ly cà phê trên đất nước Hoa Kỳ vẫn là “Thần Tượng” với em, chính là “3 thiếu nữ” cũng bị nhốt trong một cachot nào đó. Ngay từ khi còn trong một biệt giam, em đã nghe biết về 3 cô gái này. Chỉ nghe biết, chưa từng được gặp mặt, ngay cả tên, em cũng lờ mờ bởi vì truyền tụng từ phòng biệt giam này qua phòng biệt giam khác, nhiều khi nghe không rõ. Em nhớ tên hai cô đều là Nga, khác nhau về họ (last name), và cô nữa tên Thủy. Em nghe lõm bõm có cô em chị Quỳnh Như nào đó (Tôi nhớ ba cô con của ông Tôn Thất Dương Kỵ tên Quỳnh Như, Quỳnh Chân, Quỳnh Uyển, không chắc là ở trường hợp này). Em nghe nói về chí khí can trường của các cô, rồi nghe truyền tụng những hành động, lời nói của các cô, những tranh cãi giữa các cô và bọn chấp pháp. Từ đó, với em, họ là thần tượng, và trở thành huyền thoại của lớp trẻ Sài Gòn, huyền thoại của Phục Quốc.

Hỏi, hồi nãy Chí nói còn nhiều bạn trẻ khác trong phòng tập thể, có ai về sau ở Thanh Cẩm không? Đáp, Hiện nay anh thấy ở Thanh Cẩm mấy chục đứa trong hai đội Xe Tăng (Vận Chuyển) và Lò Gạch, phần lớn từ Phan Đăng Lưu và Lê Văn Duyệt, như Hoàng Xuân Trường, Ngô Tỵ, Bảo Châu, Châu Thoại Cầu, …

Đầu năm 1977, bọn Công An chuyển Đặng Hữu Chí qua trại Lê Văn Duyệt. Tháng 4, 1977, Chí cùng 400 tù chính trị Miền Nam lên tầu Sông Hương ra Quảng Ninh. Tháng 7, Chí về Thanh Cẩm.

Năm 1983, Đặng Hữu Chí được thả về. Bẩy năm trời của tuổi hoa niên, ăn và học bay đi. Vốn liếng còn lại là đôi bàn tay nắm hai càng chiếc xe cải tiến mấy ngàn ngày để lại lớp da dầy như da trâu. Hay là do đã ăn da trâu nấu lên như keo dán được phát vào mỗi dịp Tết? Đôi bàn tay chai lỳ, và bộ óc chai lỳ hơn nữa, Chai lỳ vì mỗi ngày trong tù là một ngày tích tụ thêm hiểu biết về một chế độ lừa bịp. dối trá, tàn bạo. Phải tìm cách thoát khỏi. Trong khi chờ đợi, Chí đi xin việc làm. Đặng Hữu Chí đi tù với bản án Phục Quốc, may mắn còn có chỗ nhận cho làm, sau gần năm trời lang thang tìm việc. Chí được vào làm với nhóm sản xuất thuốc Maalox nổi tiếng một thời. Chàng thanh niên được chia ca thức đêm canh máy sấy thuốc. Vào rồi Chí mới biết ở đây toàn là những người “chế độ cũ”. 4 Dược Sĩ, mười mấy Sĩ Quan.

Năm 1987, Đặng Hữu Chí vượt biên thành công. Năm 1988, qua tới Mỹ.

Lê TinhAnh – Bạn tù Lê Tinh Anh không thuộc nhóm Phục Quốc. Bạn còn trẻ nhưng già hơn các bạn trẻ nhóm Phục Quốc khoảng 5, 7 tuổi. Bạn là cựu nhân viên trong Nha Kỹ Thuật, thuộc nhóm “Nhảy Toán” ra mấy tỉnh Miền Trung, rõ ràng bạn “rành đời” hơn mấy bạn trẻ kia.

Khi không khí giam cầm ở Thanh Cẩm bắt đầu nới lỏng hơn, từ khoảng cuối 1981,  đầu 1982. Lê Tinh Anh được cử làm Văn Hóa của Trại, giống như “Thường Trực Thi Đua”, tức là một tù nhân lo tổ chức các lễ lạc, vui chơi cho tù nhân vào các dịp Tết, ngày lễ lớn, và lo “cải thiện” đời sống tù nhân. Anh Bảy Chà là một người giữ chức Trật Tự được anh em tù nhân quí mến, thì Lê Tinh Anh là một người giữ chức Văn Hóa, cũng được quí mến.

Lê Tinh Anh bị bắt trong đợt rút chạy khỏi Pleiku vào Tháng 3, 1975 của Quân Đoàn 2. Bạn ta khai là lính sư đoàn 22, đang điều trị bệnh sốt rét, nên sau 30 Tháng Tư 1975, chàng được thả về, ở Sài Gòn. Tình cờ một ngày nào đó chàng gặp lại người lính, có thể là Trung Sĩ,  từng phục vụ dưới quyền ông Bố của chàng. Ông Thân Sinh của Lê Tinh Anh vốn là Trưởng Ty Công An một tỉnh Miền Trung, mất năm 1970. Bạn Trung Sĩ này đang làm cái việc “đoái công chuộc tội” với bọn Việt Cộng, nên tố cáo Lê Tinh Anh là “Sĩ Quan Ngụy trốn Học Tập Cải Tạo”. Tháng 8, 1975, chàng bị vồ. Từ đó, chuyển trại này, trại kia, cuối cùng ra tới Thanh Cẩm khoảng Tháng 8, Tháng 9, năm 1979. Khi chàng ta kể chuyện đời tù, rất khoái chí vì bọn khốn Việt Cộng không biết chàng từng “nhảy toán”.

Tại Thanh Cẩm, do sức vóc chàng trông có vẻ khỏe mạnh, bọn Công An trại giao chàng gánh nước cho khu kiên giam. Chàng tạng người mập mạp, thấp, dáng đi vững chãi. Do việc gánh nước, Lê Tinh Anh có cơ hội lo cho Cha Hùng. Cha Hùng thuộc nhóm trên 30 Linh Mục Thiên Chúa Giáo bị nhốt khu kiên giam. Các vị lần lượt về đây qua nhiều đợt, có khi một vị chuyển đến trại trên một xe jeep. Số vị này vẫn sang. Linh Mục (Nguyễn Văn) Hùng, tôi không chắc về họ của Cha, bị một vết cắt gì đó ở bàn chân, không nặng lắm. Nhưng vào những năm 1979, 1980, cả nước còn đang khốn khó, thì cảnh sống tại các nhà tù còn tồi tệ hơn nhiều, đặc biệt về khía cạnh y tế. Vết thương không nặng, sau khi được đưa ra Huyện Cẩm Thủy băng bó, chân Cha bị nhiễm trùng nặng. Lằng nhằng điều trị, phải cưa bàn chân. Kể chuyện “giải phẫu” ở huyện Cẩm Thủy: Có thể chuyện này chỉ ứng dụng cho tù, đặc biệt “tù Miền Nam”, còn với dân thường thì tôi không biết. Cha Hùng kể, họ cho Cha vào nằm trong cái mùng, kiểu mùng vải thô, không phải mùng Miền Nam vẫn dùng. Đó là cách tránh ruồi muỗi, tức là “đã sát trùng”. Không tê, không mê. Có thể họ dùng tê local, Cha Hùng không biết, sau này tôi mổ mắt ở Sài Gòn, cũng local như vậy, đau ơi là đau. Rồi cứ thế mà cưa, nghe rõ tiếng sột soạt của lưỡi cưa. Eo ôi, chỉ nghe chuyện đã rùng mình. Thêm điều này, “phòng giải phẫu” hình như mái tranh, vách đất, nên tối, họ cho đốt đèn dầu trong mùng, ánh sáng văn minh đầy đủ. “Giải phẫu” xong, nhiễm trùng, rồi lại cưa nữa. Đến lúc này toàn trại, tức là các tù Miền Nam gom góp trụ sinh, vừa cho Cha Hùng uống, vừa rắc vào vết thương, nhờ vậy, đẩy được chuyện nhiễm trùng đi. Chính lúc đó, bạn Lê Tinh Anh gánh nước, nên hàng ngày gánh thêm nước cho Cha Hùng, rồi chàng lo tắm rửa cho Cha, giặt quần áo, mềm, chiếu. Sau đến lượt Cha Lan nằm bệnh xá, Lê Tinh Anh không còn gánh nước, nhưng cũng lo cho Cha Lan đầy đủ. Cha Lan là Hiệu Trưởng trường Cộng Hòa ở Bảo lộc, có lúc nhóc con Lê Tinh Anh từng đá banh giấy, bắn bi trong trường của Cha.

Năm 1982, bạn tù giữ chức Văn Hóa được cho về, Lê Tinh Anh, được lên thay. Văn Hóa cũ là Ông Dư Văn Hạ, hiện nay (2020), có lẽ đã 90 xuân xanh, ông là “Niên Trưởng trong gia đình Thanh Cẩm, được anh em gọi đùa là “ông Chủ Tịch”, muốn xuống mà không ai chịu thay thế, một ông đặc biệt Bắc Kỳ, có nhiều chuyện để kể, nhưng xin dịp khác. Làm Văn Hóa, Lê Tinh Anh thiên về “văn hóa ẩm thực” (theo kiểu nói của báo chí trong nước). Chàng dò hỏi trong khu gia đình cán bộ có ai nuôi heo, muốn bán giá cao, chàng tới điều đình. Ngã giá, về trại, chàng cho anh em ghi tên mua, đóng tiền, sao cho đủ tiền con heo “hơi”. Làm thịt xong, chia cho anh em theo đặt hàng. Dĩ nhiên, chàng phải bớt thịt ra chi “mấy đầu” này: Trực Trại cũng có miếng thịt, phần tiết canh, rối cán bộ coi an ninh, coi văn hóa, người làm thịt heo, …  Đời sống tù nhờ vậy dễ chịu hơn.

Tòa Thánh ở Khu Kiên Giam.

Lê Tinh Anh kể chuyện Tòa Thánh ở Khu Kiên Giam. Hơn 30 Linh Mục, quà cáp giáo dân gửi đến chất đầy “kho” khu Kiên Giam. Để có một cái kho như vậy tại nơi khó khăn nhất đời tù, phải qua cả một quá trình “xây dựng”. Những chàng công an liên hệ chuyện nhận quà, chuyện mang vào trại, chuyện kiểm soát khu kiên giam, 100 chuyện khác, đều được qua những khóa huấn luyện đặc biệt về hưởng dụng các đồ vật tối tân, các món ăn chưa từng biết, chỉ có ở cấp Trung Ương Đảng, nhiều khi mấy anh T/Ư này chưa chắc đã được nếm qua. Dần dần, tiền mặt, đồ dùng, đồ ăn, giáo dân cứ thế gửi cho Cha, chất thành mấy kho. Việc chống lại sự bành trướng của họ hàng nhà Chuột cũng cần đề ra phương án, lên kế hoạch, tiêu diệt địch cho kỳ hết. Cho nên, cộng đồng các Cha, tuy không minh thị “bỏ phiếu”, nhưng ủy thác hết vào tay một Cha Hương, phụ tá là Cha Nghị. Hai cha cho lệnh xuất kho, thì được xuất. Hai Cha nói hôm nay ăn món này, ngày mai ăn món kia, thì hơn 30 vị chăn chiên được ăn như vậy.

Như vậy, Cha Hương quản trị một gia tài “bằng” với ngân sách của Quốc Gia Rome, và Cha cũng quản trị theo cách đó, tức là Cha mang cái bóng của đức Giáo Hoàng. Bọn thần dân “dưới làng” truyền tụng về Tòa Thánh ở Khu Kiên Giam. Quí vị đã biết, Tòa Thánh không chỉ có uy quyền với bổn đạo, tín hữu Thiên Chúa Giáo. Hồi xưa Giáo Hoàng còn có uy lực bao chùm cả các Đức Quân Vương ở Âu Châu. Bây giờ Giáo Hoàng giữ địa vị trọng yếu trong nhiều mối giao tế thế giới. Ở Thanh Cẩm cũng vậy. Chúng ta cứ tưởng tượng một chàng Sĩ Quan Công An coi về An Ninh của Trại Tù Thanh Cẩm đứng khúm núm trước mặt Cha Hương chờ nghe” chỉ thị”. Tôi không nhìn thấy, không chứng kiến, nhưng bạn Lê Tinh Anh kể lại chuyện chính bạn chứng kiến, bởi vì bạn cũng “dính”vào mấy cái vụ chỉ thị này. Chàng Sĩ Quan An Ninh tên L. được Lê Tinh Anh nhắn Cha Hương muốn gặp. Chàng lên khu Kiên Giam, đứng lớ ngớ chưa biết chuyện gì. Cái “bóng” của “Ngài Giáo Hoàng” rót cho chàng an ninh tách chè móc câu Thái Nguyên uống, cho bình tâm lại. Rồi cái bóng hỏi, anh L này, thế nhà anh có con bò nào không. Thời buổi đó con bò là tài sản lớn cho một gia đình ở miền núi này, nhà nào khá giả lắm mới có. Đáp, dạ không. Cái bóng phán, thôi bây giờ anh ăn bát mì ăn liền này đi, xong về làng xem  có ai bán con bò hay con bê nào không, vào đây cho tôi biết. Hỏi chúng nó xem giá cả ra sao.

L về làng lùng kiếm. Hôm sau vào báo cáo, có mấy con bê, họ muốn bán bớt một hai con, nhưng giá một con đến $200. (hai trăm đồng). Cái bóng thản nhiên móc túi, đây là $400. Anh về mua lấy hai con bê, lo nuôi cho nó đàng hoàng, ít lâu thành hai con bò thôi ấy mà. Lạ một điều, lệ nhà tù không cho tù giữ tiền mặt, nhưng tù nhân muốn mua bán gì, thản nhiên đưa công an tiền mặt nhờ mua giùm. Chàng L ngớ người ra, cầm tiền về mua bê.

Hai tuần sau chàng L vào báo cáo Tòa Thánh, “bọn nó” biết chàng mua bê, xì xào không biết làm sao L có tiền mua. Cha Hương đứng phắt dậy, lúc này tôi phải trở lại Cha Hương, Cha chỉ mặt chàng Sĩ Quan An  Ninh L mắng, sao anh ngu thế. Mua xong, mang dấu đi, nhờ đứa nào thân tín nuôi giùm. Ít lâu sau bịa chuyện ông Bố, bà Mẹ ở xa, chia gia tài cho. Anh dắt bê cho đi ăn sờ sờ ra đó, bọn nó phải thắc mắc chứ. Có lẽ lâu lắm Cha mới có cơ hội nổi giận như vậy.

Sở dĩ Lê Tinh Anh được chứng kiến nhiều chuyện vì chính chàng gợi ý mua bò để các cha “thâu đệ tử” cho tiện bề sai khiến. Cha Nghị ,phụ tá Cha Hương, là Tuyên Úy Nha Kỹ Thuật, nơi Lê Tinh Anh làm việc,. Cha ở Nhà Thờ Đồng Tiến, rất cưng chiều Lê Tinh Anh. Khi Lê Tinh Anh công tác ở Pleiku, Cha Nghị giới thiệu Cha Hương, Tuyên Úy Sư Đoàn 6 Không Quân đóng ở Pleiku, qua làm lễ cho đơn vị Lê Tinh Anh. Vì thế, mấy Cha khu Kiên Giam tin cậy chàng.

Vì tin cậy, nên khi Lê Tinh Anh được thả cho về, Trại tìm người thay thế, các Cha nghe theo đề nghị của lê Tinh Anh. Lúc này tù hình sự trở lại Khu K1 cũng nhiều, nhưng Văn Hóa vẫn giao cho Tù Miền Nam. Chàng Sĩ Quan Công An coi về Văn Hóa, tên Giang, hỏi ý kiến Lê Tinh Anh, chàng giới thiệu bạn tù Phan Công Tôn, Thiếu Tá Thủy Quân Lục Chiến (hy vọng tôi nhớ đúng binh chủng). Giang chịu, nhưng chàng Sĩ Quan An Ninh tên L. không chịu. L muốn cử Nguyễn Cao Quyền làm Văn Hóa. Lê Tinh Anh muốn một người nhanh nhẹn, có tâm lo cho anh em, còn để một người chỉ biết lo cho thân mình, thì anh em sẽ thiệt thòi rất nhiều. Chàng mang trình với mấy Cha. Cha Hương cho gọi chàng Sĩ Quan An Ninh L. vào, nói muốn cử Phan Công Tôn thay Lê Tinh Anh. Dùng dằng lên xuống mấy lần, cuối cùng Cha Hương nói, nếu anh để người khác làm Văn Hóa, thì giữa tôi và anh kể như cắt đứt. Tôi không tin người nào khác anh Phan Công Tôn. Cha Hương thắng. Nghe Lê Tinh Anh kể chuyện, tôi đồ rằng người kia cũng đã “lót tay” cho chàng L khá nhiều nên L không chịu nhận Tôn. Thêm một điều, ngay trước đó, bạn tù Thiếu Tá kia đã làm một cái gì đó, bị An Ninh trại gọi lên làm việc. Nên chàng An Ninh L biết rõ về bạn Thiếu Tá này, không muốn cho làm Văn Hóa. Lê Tinh Anh chọn không lầm người.

Lê Tinh Anh có người anh tên Lê Tinh Quang, hồi nhỏ rất gần gũi nha, nên lúc đi tù cũng ‘rủ” anh Quang đi theo. Lại còn rủ nhau ra tận Thanh Cẩm. Bây giờ Quang đang ở Úc, lâu lâu nhớ bạn vẫn qua Mỹ thăm anh em. Cùng vụ Lê Tinh Anh còn có Tôn Thất Tuấn, cao, gầy, oặt oẹo. Nghe nói Tuấn bị oan, không hoạt động gì nhưng có mặt không đúng chỗ, không đúng lúc, nên bị vồ. Mới đây, khoảng năm 2019, Tuấn qua đời vì bạo bệnh ở Sài Gòn.

Đầu Gấu

Khoảng cuối năm 1982, Đội 2 Xây Dựng chưa có việc gì để xây dựng, cho đi tăng cường các đội khác. Tọi đã quen với thì giờ thảnh thơi của đánh vữa, nay bị bó buộc suốt 3 tiếng đồng hồ mỗi buổi, dù rằng đa số tù vẫn “chống cuốc chờ thời”, nhưng vẫn là gò bó, tôi chán, kiếm chuyện nằm nhà. Lúc đó, tôi làm được chuyện này: Thường ngày, 15 phút trước giờ tập họp đi làm là lúc khám bệnh. Tôi nhịn thở khoảng 1 hay 2 phút, tim đập loạn xạ, Chạy xuống phòng khám bệnh, y tá nghe thấy tim đập dữ quá, cho nghỉ. Ba, bốn ngày liền tôi làm như vậy, ở nhà suốt. Tôi xin y tá cho “nhập viện” để lỡ đêm hôm tim tôi ngừng đập còn cứu được. Lúc đó Y Tá là anh Hiền. Chàng đồng ý. Nhập viện tức là chuyển nhân số báo cáo từ đội về nhân số bệnh xá, và tôi ở luôn bệnh xá, không về đội. Từ đầu 1982, “Tù Miền Nam” đã qua mấy đợt thả về, sau đó có đợt chuyển khoảng hơn 200 người về Miền Nam, nhân số “Miền Nam” giảm đi, bọn công an lại chuyển một số tù hình sự từ khu B, tức khu K2, về lại K1, ở mấy dẫy nhà bên trái. Trong số đó có một tay nghe nói là”đầu gấu”, tên Chiến Chàm, được nằm bệnh xá. Bệnh xá lúc này ngoài Tù Miền Nam còn một số là tù hình sự.

“Đầu Gấu” là tiếng gọi của Miền Bắc. Tù ở Miền Nam gọi là “Đại Bàng”. Đó là những tay “anh chị” gan lì trong nhà tù, có gan đâm chém, giết người ngay trong nhà tù khiến tù nhân khác sợ, Họ thuộc giai cấp “ăn trên, ngồi trước”, đàn áp tù nhân cô thế, bắt những kẻ yếu phục dịnh, hầu hạ. Họ ngang nhiên ăn cướp, ăn chặn, tước đoạt phần ăn, quà thăm nuôi của tù nhân thường. Chiến Chàm là một đầu gấu, nhưng là đầu gấu ở trại Cổng Trời. Về trại Thanh Cẩm mới hơn một tháng Chiến Chàm được cho vào bệnh xá. Ngay tại bệnh xá, Chiến Chàm cũng tỏ mình là đầu gấu, bắt mấy bạn tù hình sự người thiểu số cao nguyên Bắc Việt hầu hạ. Một hôm, tôi đang ngồi nói chuyện tại chỗ nằm của Y Tá, bỗng thấy Chiến Chàm ở sạp đối diện nhảy vọt lên đạp chân vào một cậu tù hình sự, Buồn cười là anh tù hình sự người thiểu số to gần gấp đôi Chiến Chàm, cứ nằm chịu trận, miệng van xin bằng thứ tiếng Việt lơ lớ. Chuyện đánh dập, chửi rủa kéo dài mấy phút. Cả bệnh xá yên lặng, Y Tá lặng lẽ ngồi nhìn. Tôi ra hiệu, Y Tá thì thầm, chuyện bọn nó, kệ bọn nó. Thấy chàng tù nằm dưới đất kêu la quá, tôi dơ tay ra hiệu Chiến Chàm, này Chiến, tha cho nó đi. Chiến Chàm hơi tỏ vẻ ngạc nhiên nhìn tôi, ngừng chân. Tôi hỏi luôn, chuyện gì vậy. Chàng đầu gấu nói, cháu bị bệnh bao tử, ăn sắn đau lắm. Xin được bò gạo nếp, bảo nó nấu cháo, nó làm đổ mất một ít. Đánh cho nó lần sau cẩn thận.

Chiến Chàm, thân hình dài ngòng, chân tay khẳn khiu vì thiếu ăn, nước da trắng xanh vì nhiều năm, tháng bị cùm trong nhà kỷ luật ở Cổng Trời. May được chuyển trại, về đây được ở dưới làng, nhưng là tay mới, chưa dám tranh dành với mấy tay đầu gấu sẵn có ở Thanh Cẩm. Sau cuộc “đối thoại”, tôi về chỗ lấy mấy viên thuốc bao tử, hình như là Maalox, mang cho Chiến Chàm. Tôi không bị đau dạ dày, nhưng vẫn dự trữ. Chiến Chàm kể chuyện đời, chuyện tù, bây giờ tôi không còn nhớ chi nhiều. Mới 12, 13 tuổi chàng ta đã bị bắt, chắc là ăn cắp, ăn trộm, còn nhỏ, chỉ hơn một tháng được tha. Năm 16 tuổi bị dính vụ gì đó. Bị án 5 hay 6 năm. Trong tù, lại đánh nhau tiếp, án kéo dài, kéo dài cả những ngày kỷ luật, kiên giam. Về đến Thanh Cẩm, chàng đã 23, 24 tuổi đầu. Một bữa, Chiến Chàm hỏi tôi, chú có biết ông làm thơ Nguyễn Chí Thiện không. Tôi lắc đầu, không. Tên ông này quả thực tôi chưa nghe bao giờ. Chiến Chàm kể tiếp. Ông ấy cũng ở nhà kỷ luật ở Cổng Trời. Cháu nghe nói ông ấy được giải thơ gì thế giới. Ông ấy ném thơ vào tòa đại sứ Anh. Toàn thơ chửi bác và đảng. Đúng ra, lần đầu tôi nghe chưa rõ mấy chữ “Nguyễn Chí Thiện”. Hôm sau, bắt Chiến Chàm nói chậm lại, tôi mới nghe rõ và nhớ. Người Miền Bắc, nhất là ở Thanh Hóa là tỉnh đầu của Miền Trung, tiếp giáp Miền Bắc, có cách nói nhanh, khó nghe. Bọn tôi thường đùa, phải nói nhanh còn chạy kịp tránh bom B52. Nhắc lại, cuộc đời có nhiều cái lạ, loanh quanh luẩn quẩn lại gặp nhau.  1982, 1983, tôi nghe biết Nguyễn Chí Thiện từ một tay đầu trộm đuôi cướp trong nhà tù Miền Bắc. Hơn mười, hay hai chục năm sau, tôi gặp Nguyễn Chí Thiện tại Westminster, California, Hoa Kỳ. Gặp nhiều lần mà tôi quên mất chuyện Chiến Chàm, không hỏi. Bây giờ, ông ta đã đi rồi, tôi vẫn tiếc không xin được cái mũ nồi ông thường đội. Tôi thích đội mũ phớt và mũ nồi, tùy mùa.

Khoảng hơn 20 người nằm bệnh xá nên chia giang sơn với Đội Nhà Bếp, ra vào cửa phòng, cửa buồng tương đối thoải mái, giờ giấc cũng nới lỏng hơn vì Nhà Bếp phải dọn dẹp xong nồi niêu mới về phòng nghỉ. Các tù nhân giữ chức vụ Trật Tự, Văn Hóa cũng ở chung buồng, ở mãi tít đầu trong cùng, ít quan tâm đến chỗ bệnh xá, nơi có 3 hay 4 tù hình sự. Hầu như các bạn tù Miền Nam coi như không “nhìn thấy” có tù hình sự. Thấy tôi nói chuyện với Chiến Chàm, cũng hơi thắc mắc. Tôi trả lời qua quít cho xong, không lẽ nói huỵch toẹt quan niệm sống của tôi ra, cái thứ quan niệm sống gàn gàn dở dở ương ương ai nghe cho nổi, bây giờ tôi cũng chẳng dám giãi bày ra đây, lại khiến quí vị bực mình. Có vị nói, như một câu hỏi, lạ nhỉ, tại sao một thằng gầy gò, bệnh hoạn như không còn sức lực nào lại khiến một thằng to con gấp đôi nó, khỏe mạnh gấp nhiều lần nó, phải hầu hạ, phục dịch nó. Tôi trả lời, bởi vì cái thằng khỏe mạnh kia, to con kia có gan lì, dám đợi giữa đêm, lấy một cái đũa chọc xuyên vào tai thằng khác không, hoặc lấy búa đập vào đầu thằng khác không. Cái thằng nhỏ con, yếu đuối dám thí mạng cùi, lãnh thêm án đánh người trọng thương, giết người. Còn thằng to con chỉ mong đến ngày được thả, nín thở qua cầu cho xong. Một thằng nổi lên làm “Đầu Gấu” sẽ có chục thằng ăn theo hầu hạ, tạo thành băng đảng, mấy ai dám đụng vào.

Tôi hỏi Chiến Chàm, nghe nói bên đó có mấy đứa như Bình Thanh, Bình Bưởi, mày có sợ không? Nói chuyện với hình sự Miền Bắc, tôi ráng dùng chữ dung tục, gọi Chiến là mày. Chàng đáp, cháu nghe nói anh Bình Thanh, nhưng không gặp bao giờ. Bình Bưởi, ở buồng khác, cháu chưa có vấn đề gì, chưa biết sao. Hôm trước, cháu cho thằng này qua xin ít gạo nếp, Bình Bưởi đích thân mang qua, cháu nghĩ bọn cháu có hiểu nhau. Tôi khám phá trong xã hội nhà tù hình sự, lâu lâu có chuyển tù từ trại này qua trại khác, hoán chuyển để cho bọn Công An coi tù dễ dàng cai trị mấy anh tù ngang ngược. Do đó, tiếng đồn tên tuổi các tay đầu gấu lan xa. Bình Bưởi chắc có nghe danh Chiến Chàm ở Cổng Trời, vì vậy có biệt đãi hơn tù “vét đĩa”. Bình Thanh biến đâu, tôi không rõ. Có lẽ chuyển ra khu K2.

Khi đi lao động, mấy cậu hình sự hay ghé qua chỗ bếp ở sân vữa, xin nhờ tí lửa rít một điếu thuốc lào, có khi “xin láo” một bi, tôi cũng hay cho. Hỏi chuyện, bọn chúng đa số thích Bình Bưởi hơn Bình Thanh. Một hôm, tôi đang ngồi tán dóc với anh Y Tá, một anh chàng tù hình sự qua Bệnh Xá xin thuốc gì đó. Chàng ta gặp tôi, cúi đầu chào, ăn nói nhỏ nhẹ, lễ phép, khác lối lao nhao, láu táu bình thường của mấy bạn hình sự trẻ tuổi. Cậu hình sự thiểu số bị Chiến Chàm đánh hôm nào, chào chàng ta rồi quay qua nói với tôi, đây là anh Bình Bưởi. Đúng ra tôi không nghe rõ lắm giọng nói dân miền núi, nhưng có biết tên Bình Bưởi, nên đoán ra.Tôi hỏi cho có chuyện, cháu không đi lao động hôm nay. Vâng, cháu nghỉ hôm nay. Tôi hỏi luôn, hôm trước cháu cho thằng Chiến Chàm gạo nếp? Vâng. Nó về đây cô thế, cho nó ít gạo nếp nấu cháo ăn đỡ bị đau. Lúc này Chiến Chàm đã bị đưa lên khu kỷ luật mới xây.

Mấy ngày sau, tính ra tôi đã ở Bệnh Xá được một tháng, đến lúc về lại Đội 2, thực sự mình cũng chẳng bệnh hoạn gì. Ở Bệnh Xá, tối nào tôi cũng xoa mặt chược với mấy tay bên Đội Nhà Bếp. Chàng Hiền Y Tá sốt ruột, sợ có ai báo cáo cho người không bệnh nằm bệnh xá. Tôi có cho tay này hai gói mì an liền. Sợ là phải.

Ít lâu sau Chiến Chàm qua đời. Mỗi khi từ Buồng 4 leo lên chỗ bãi đất rộng bị chiếm một phần xây nhà kỷ luật mới, tôi nhớ lại tiếng rên la thảm thiết vì bao tử hành của Chiến Chàm. Tôi vẫn nghĩ cái chết là điều đáng mừng cho cậu Đầu Gấu này. Xong một kiếp người, bây giờ chắc chàng nhẹ nhàng ở nơi chốn nào đó. Rồi nhìn qua bên kia bờ sông Mã, vẫn núi non sừng sững bao quanh, tôi chợt nghĩ, như vậy, phong thủy nơi chốn này phải có điểm nào đó khiến nó thành nơi xây nhà tù, nơi đọa đầy con người, nơi chôn bao kiếp tù nhọc nhằn. Một nơi đầy ám khí.

Không nhớ rõ nguyên do nào mà Bình Bưởi qua tìm tôi ở Nhà 4 một hai lần. Có thể chuyện tôi ngăn Chiến Chàm đánh cậu tù người thiểu số, hoặc chuyện tôi cho Chiến Chàm thuốc đau bao tử, Bình Bưởi nghe được, qua xin tôi thuốc gì đó. Sau này, Bình Bưởi kể tôi nghe, có tay Quản Giáo bên hình sự bị bệnh trĩ. Nhờ mấy tay Quản Giáo bên Tù Miền Nam xin, không ai có. Bây giờ số tù Miền Nam không còn nhiều, thuốc men khan hiếm hơn. Bình Bưởi qua tìm tôi hỏi đại. Lạ thay, đúng chỗ. Tôi có xin nhà gửi Preparation H., do tôi ăn sắn lâu ngày, hoặc ăn Bắp Đá, hạt cứng như sỏi, nên bị trĩ. Tôi có một ống dùng dở, một ống nguyên. Nhưng ở tù, tôi không thể hoang phí bừa bãi, nên xé mảnh bao lylon, bơm một ít thuốc từ bao dở ra, cho Bình Bưởi. Có lẽ lần sau chàng qua tôi để cảm ơn, cho tôi gói chè Thái Nguyên. Không muốn dây dưa, nên tôi không nhận. Sau này, lại có chuyện dây dưa, tôi đã kể đâu đó, anh chàng Trực Trại xin đổi quần jean rởm của tôi, sai Bình Bưởi mang đưa tôi cái quần công nhân màu xanh.

Giữa Bình Bưởi và tôi còn mấy chuyện gì đó qua lại, toàn chuyện trời ơi tự nhiên đến. Nhiều khi nghĩ lẩn thẩn, chắc tử vi của tôi mấy năm đó có sao gì chiếu, cứ giao thiệp với đầu gấu miết, những mối giao tế không thể hãnh diện. Tết 1984, sáng Một Một Tết, khoảng 8 giờ sáng, gần nửa số người trong buồng còn đang nằm nán trong chăn, kể cả tôi, thì Bình Bưởi chèo lên sạp, chỗ tôi nằm. Cậu ta nói, cháu qua mừng tuổi chú, rồi treo một dây pháo dài từ dây căng màn xuống qua khỏi mép sạp trên. Tôi cản lại, đừng đốt, cán bộ nó vào bây giờ. Cậu ta cười, ngày Tết, chú đừng sợ, cháu nói cháu đốt đấy, mấy ông phải chịu thôi. Hôm qua ông (tôi quên tên Trực Trại lúc đó, cái anh Trực Trại bảo tôi vét đĩa) thấy mấy thằng mang pháo vào trại cho cháu, là biết rồi. Tiếng pháo nổ ròn tan, xác pháo đỏ bay đầy phòng. Rõ ràng có người khó chịu. Tôi chẳng vui thú gì cái điều đặc biệt này, nên nhận lời qua bên Bình Bưởi uống nước chè, ăn mứt, mừng xuân. Chỉ mong nó biến nhanh. Hình sự, dù là đầu gấu chăng nũa, vẫn bị “phe ta” kỳ thị. Sau này nhớ lại, tôi thấy buồn cười, ở trong tù được đốt pháo mừng tuổi, ra ngoài đời, bị cấm đốt pháo. Trước khi qua Bình Bưởi, tôi phải kiếm miếng bánh ngọt ăn dằn bụng. Nước chè cái kiểu cắm que tăm không đổ mà bụng trống, chỉ có nước nôn đến mật vàng, mật xanh. Buổi sáng mừng Xuân của đầu gấu có đủ cả hương vị ngày Tết. Bánh chưng, giò thủ, gà luộc, dưa hành, rượu gì đó, hình như rượu mơ hay rượu mít, và cái điếu cầy “hoành tráng” có “lá đề” sặc sỡ, nhiều màu. Tôi phải đưa tay cản để không bị gắp đấy bát. Bình Bưởi và mấy tay đàn em thân tín nốc rượu liên miên, biết tôi không uống được nên không ép. Cái chuyện uống rượu sáng sớm tôi tưởng chỉ có trong tù, bạ lúc nào ăn nhậu cũng được. Đến Hà Nội mấy lần sau này, tôi thấy thiên hạ ăn lòng lợn, tiết canh lúc 7 giờ sáng, kèm theo chai rượu ngất ngưởng. Cái kiểu “văn hóa ẩm thực” hơi lạ. Bình Bưởi khoe, toàn là thứ Hà Nội mới mang vào đấy chú. Con gà mấy thằng em mới luộc sáng sớm. Xem ra, cử chỉ, ngôn ngữ của tay này có vẻ khoan thai, không quát tháo ồn ào với đàn em. Cậu đàn em lỡ làm đổ bát nước mắn, Bình Bưởi chỉ nói, chốc nữa mày giặt sạch chiếu cho anh đấy. Rồi Đầu Gấu hỏi với xuống sạp dưới, chúng mày có bị nước mắm không đấy? Rõ giọng đàn anh. Ở sạp dưới lao nhao nói lớn, không sao cả, anh ạ. Cậu Bưởi rung đùi nói chõ xuống, bắt thằng này nó giặt hết chăn màn, ngày Tết làm đổ nước mắm. Lúc không “có khách”, chẳng hiểu “đấng bề trên” có nhẹ nhàng thế không. Mấy đứa trong buồng rụt rè đến chúc Tết đàn anh, được cho bi thuốc lào, sướng ra mặt. Chả bù lúc đàn anh trấn lột, có món quà Tết nào ngon quí, đàn anh cho mới được giữ. Thế giới tù hình sự có lẽ cũng giống bên ngoài. Mấy anh Đảng Viên Đầu Gấu Bộ Chính Trị cũng thế thôi. Cũng trấn lột nhân dân một cách ngang nhiên, cứ như sinh ra đời vốn sẵn có cái quyền đó. Ngày xưa, Vua là “thiên tử rởm”, may mắn ra đời lọt vào làm con vua, còn ngài Tổng Bí Thư là “thiên tử thật”, uy quyền thật sự. Vua còn phải e dè vì “Dân vi quí, xã tắc thứ chi, Quân vi khinh”, còn ngài Tổng Bí Thư, ngài là trên hết, “dân” là cái con gì nhỉ?

Hơn tháng sau, biết có tên tôi trong đợt tha kỳ này, Bình Bưởi qua mừng. Cũng là lần đầu tiên tôi thấy một tên hình sự qua mừng một chàng tù chính trị được về. Tôi chỉ chiếc áo khoác còn mới đang mặc, nói, chú về Hà Nội ít ngày, cần áo này. Đến ngày về Sài Gòn, chú sẽ tìm người nhà cháu, để họ mang vào khi thăm nuôi. Tự thâm tâm, tôi không muốn mang một chút gì từ tầng đáy này của xã hội về nhà. Cho hết, chỉ mặc cái quần và mấy cái áo lạnh, sẽ cởi dần khi về tới Miền Nam nắng ấm. Thức ăn, thuốc men tôi đã bàn giao cho bạn tù ở lại. Tôi lấy địa chỉ Bình Bưởi. Theo tôi về Hà Nội có cậu Phục Quốc tên Minh, thường gọi Minh Suyễn, quê ở Miền Tây. Thấy tôi hỏi thăm đường đến nhà Bình Bưởi, cậu Suyễn ngạc nhiên, anh làm thật à. Ờ, mình “Tù Chính Trị Miền Nam”, phải giữ lời hứa. Hai anh em lên tàu điện chạy về Chợ Hôm (thực ra tôi không nhớ đi về đâu, nói Chợ Hôm cho tiện việc viết lách). Xe điện chạy leng keng, từ từ, tôi đứng ngắm phố phường Hà Nội, bỗng nghe đằng sau có tiếng, con chào “ông”. Quay lại, hai tên tù hình sự Thanh Cẩm, không biết thả từ bao giờ, đang nhăn răng cười. Mấy đứa hiền lành hay ghé sân vữa xin bi thuốc lào. Tôi hỏi đùa, trở lại nghề cũ hở. Đáp, bây giờ không biết làm gì hết ông ơi. Cơ quan nào cũng lắc đầu. Tạm thời cứ thế này đã. “Thế này” là móc túi. Tôi đùa tiếp, tha cho tao với anh Minh Suyễn này nghe. Bọn nó bẽn lẽn. Con không dám, ông ạ. Rồi hai đứa biến mất. Tôi nhớ hình như có cho mỗi đứa 10 đồng hay 20 đồng. Tôi tìm được nhà Bình Bưởi, gặp cô em, cô nói hai tháng nữa con mới vào thăm anh ấy. Trong nhà, thấy bày biện đồ đạc ngăn nắp, sạch sẽ. Cô bé chắc có đi học, không nhớ rõ có phải cô nói bây giờ phụ Mẹ coi sạp buôn bán ngoài chợ. Nhà gần chợ. Thành ra tôi thích viết là “đi Chợ Hôm”, thực ra không nhớ chợ khu nào.

Sau này, một cậu hình sự tên Thông, thường gọi Thông Mù vì cận thị, gặp tôi ở Sài Gòn, cho biết, Bình Bưởi (không rõ được tha hay vượt ngục), ăn cướp đường Hà Nội Lạng Sơn. Được một thời gian thì bị công an bố trí bắn chết trong một vụ cướp. Cũng xong một kiếp người. Tôi vẫn hình dung được nét mặt, hình dáng hai tay đầu gấu vắn số trên.

Hồi năm 2017, 2018, tôi nghe nói Minh Suyễn đang ở Canada. Không hiểu còn suyễn không. Một anh chàng sẵn sàng sắn tay áo, rủ bọn cán bộ đánh nhau tay đôi. Đang ngồi ôm đầu gối lên cơn thở khò khè, tên Quản Giáo vào, chưa biết suyễn là gì bao giờ, chớt nhả cốc lên đầu Minh Suyễn. Cậu ta đứng phắt dậy (chắc hết suyễn luôn), ĐM., mày muốn đánh nhau tay đôi không? Bây giờ, chắc vợ con đề huề, chẳng còn tên áo vàng nào ở bên cạnh để mà đánh nhau nữa. Ghi chú ở đây, ĐM. Của Minh Suyễn là đm. theo kiểu Miền Nam, nghe “thanh” hơn kiểu Miền Bắc.

Về vụ Bùi Đình Thi

Đầu năm 2001 trên báo chí Việt Ngữ nổ ra vụ một Cựu Tù Chính Trị Trại Thanh Cẩm, anh Bùi Đình Thi bị, một Linh Mục cũng ở trại này, LM Nguyễn Hữu Lễ, tố cáo tội giết hai người tù chính trị ở trong trại. Từ 1993, ông Linh Mục này đã viết báo kể chuyện trại Thanh Cẩm, đã nói anh Bùi Đình Thi phạm tội giết người.

Sau đó, Anh Bùi Đình Thi không bị tòa án San Pedro kết tội sát nhân, nhưng bị đưa đi an trí tại Quần Đảo Marshall.

Quí vị cũng có thể google về vụ án Bùi Đình Thi để đọc thêm, Nếu cho phép, tôi xin có ý kiến, đừng đọc với thành kiến. Suy nghĩ kỹ những gì đọc được, quí vị sẽ thấy ánh sáng sau những lý luận của đầu óc tỉnh táo, với lương tâm chính trực của con người. Ngoài ra, tôi xin mách thêm, ông Linh Mục Lễ vào năm 2003 đã cho ra sách kể chuyện đời ông, có giai đoạn bị tù ở Thanh Cẩm. Trên các phương tiện truyền thông Việt Ngữ, có nhiều bài viết về vụ án này, hai phóng viên John Gittelsohn và Anh Do đăng trên báo Orange County Register ngày 10.6.2001, bài “Tâm Tình Một Người Vợ Lính, Vợ Tù” của vợ Bùi Ðình Thi là bà Ðinh Ngọc Liên, bài “Lương Tâm Trước Một Vấn Ðề” của Mai Văn An, loạt bài phỏng vấn Bùi Ðình Thi của nhật báo Người Việt, và một loạt bài của Vũ Ánh đăng trên Nhật Báo Viễn Ðông. Bài “Linh hồn mục nát” và “Làm rõ sự thật trong vụ án sát nhân ở Thanh Cẩm” của Kim Âu Hà văn Sơn. Bài “Sự thật tôi biết tại trại tù Thanh Cẩm” của Võ Bình. Bài “Tha thứ và sự thật” của Thanh Tùng. Những bài của Mai Văn An, của Võ Bình, hai người tù Thanh Cẩm, cùng ở kiên giam với Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, là những bài đáng tin cậy. Những bài của ông Hà Văn Âu, Thanh Tùng có những lý luận vững chắc. Còn nhiều nữa, ông (bà) google sẵn sàng cung cấp, kể cả đường đi tìm hồ sơ pháp lý của vụ án.

Ở đây tôi không kể về vụ án, diễn kiến sự kiện, lời buộc tội và lời bênh vực anh Bùi Đình Thi. Tôi chỉ kể về những gì tôi nhìn thấy từ anh Thi, tôi nghe từ anh Thi, trong thời gian ở trại. Nhưng trước hết tôi xin kể chuyện đến nhà anh Bùi Đình Thi vào đầu năm 2001. Sau đó, chuyện Luật Sư bên bị cáo có đến tìm tôi và anh bạn Phạm Phú Minh khoảng thời gian vụ án đem sử ở tòa.

Khoảng Tháng Năm, 2001, cô Đỗ Bảo Anh, phóng viên của tờ báo Orange County Register, nhờ tôi bắt liên lạc với anh Bùi Đình Thi để cô phỏng vấn. Tôi đến gặp gia đình anh Thi tại nhà. Hiện nay họ không còn ở California, và tôi cũng không nhớ lúc đó nhà họ ở đâu. Tôi gặp cả anh Bùi Đình Thi và vợ anh, chị Đinh Ngọc Liên, và một cháu nào đó. Anh Thi cho biết đang làm công việc giao báo nhà và bỏ báo thùng cho báo Register. Sáng phải dậy thật sớm, chiều về sớm nên hôm nay mới gặp được tôi. Khá vất vả nhưng đủ sống. Trong câu chuyện, anh chị Thi dắt tôi đến trước bàn thờ trên bày ảnh tượng Chúa, nói rằng, mấy năm trước đây, Cha Nguyễn Hữu Lễ có đến nhà anh chị ăn cơm, và ra trước bàn thờ nói lời tha thứ cho anh Bùi Đình Thi về những gì anh đối với Cha ở Thanh Cẩm. Anh Chị cùng nhắc lại, Cha Lễ thề trước bàn thờ, trước tượng Chúa rằng đã tha thứ, và không bao giờ nhắc lại chuyện cũ nữa.

Chị Bùi Bùi Đình Thi nói như khóc, không hiểu sao bây giờ Cha lại nói mấy chuyện này ra, lại còn khép tội anh Thi là giết người. Nhà em có giết ai đâu. Tôi cố an ủi chị, nhưng nói cho rõ, chuyện ở trên khu kiên giam tôi không nhìn thấy, không nghe thấy vì tôi không ở đó, tôi ở dưới buồng. Theo tôi, anh Thi có thể là người cứng rắn, nhưng với cá nhân tôi, anh Thi chưa từng bao giờ làm điều gì gọi là không phải, không hay, trái lại, có lần giúp đỡ tôi nữa.

Tôi hỏi anh Thi ở “sở làm” có gì thay đổi không, anh bảo không, công việc tôi vẫn vậy, cũng chẳng ai để ý. Có lẽ không nhiều người Việt Nam làm ban giao báo, người Mễ nhiều. Chúng tôi cười vui vẻ với nhau. Tôi chợt nhớ hỏi anh chị có cho tôi dắt cô Bảo Anh làm ở báo Register đến hỏi chuyện không. Họ đồng ý.

Cuối Tháng 5, 2001, tôi đưa Đỗ Bảo Anh đến nhà anh Bùi Đình Thi. Chị Thi nói anh Thi bất ngờ kẹt chuyện gì đó, nhưng chị sẵn sàng nói chuyện, vì hầu như mọi chuyện chị đều nắm vững. Tôi về trước, để Bảo Anh được tự nhiên khi nói chuyện, tôi cũng nhắc Bảo Anh, tên chị Thi là Đinh Ngọc Liên.

Khoảng tháng 5 hay 6 năm 2003, anh Phạm Phú Minh báo tôi tin phía Luật Sư của anh Bùi Đình Thi muốn gặp hai chúng tôi. Lâu rồi, tôi không nhớ lắm, hình như là một luật sư người Nam Mỹ. Ông ta muốn tìm nhân chứng bênh vực anh Thi. Có lẽ ông ta là Luật Sư Cãi Miễn Phí (Public Defender). Nói chuyện qua loa, ông hẹn hai đứa chúng tôi ngày ra tòa. Hôm đó, chúng tôi theo ông ra tòa, nhưng ông nói hai đứa ngồi ngoài, hình như phía ông cũng có mấy người nữa, nhưng họ đến trước, đã vào trong. Cuối cùng, không thấy ông ra đưa chúng tôi vào, chúng tôi ra về. Tôi đoán, có lẽ những nhân chứng bên nguyên đã thuyết phục được Bồi Thẩm Đoàn, nên Luật Sư bên bị không tranh cãi nữa, hoặc không gọi thêm nhân chứng nữa. Tôi định bụng ra tòa, tôi sẽ khai không thấy anh Bùi Đình Thi đánh chết ai, có nghe sầm sì, nhưng ở trong tù, nhiều chuyện được kể ra như thật, nhưng ngay người kể cũng không hề nhìn thấy, nghe thấy. Ở đây tôi muốn nói thêm điều này, tôi không tin tất cả những người làm nhân chứng kết tội anh Thi “thực sự nhìn thấy, hay nghe được” từ anh Thi những hành động rõ ràng, lời nói rõ ràng, khiến một hay hai người đồng tù bị chết. Tôi sẽ khai một vụ cụ thể xẩy ra cho chính tôi, anh Bùi Đình Thi khám xét thấy tôi mang một nón sắn vào trại, là điều cấm kỵ, mà anh không nói gì, để tôi mang vào, không báo cáo. Tôi đã kể đâu đó vụ này. Mấy cậu bé Phục Quốc, “lang lác” được đống sắn, mang xuống sông lúc tắm rửa, để vào cái nón, lấy quần áo ướt phủ lên trên, đưa tôi cầm lên. Mấy cậu nhỏ không để ý, gọi tên tôi lớn rồi ngoắc xuống bờ sông. Chàng Trật Tự Thi có lẽ nghe, biết, thấy lúc nãy tôi không có gì trên tay, bây giờ lại một đống quần áo, ắt phải đoán ra. Xếp hàng vào trại, chàng đi xét. Đến lượt tôi, chàng khẽ nhấc lên một phía quần áo, lòi ra sắn. Chàng nhìn tôi cười cười, cái kiểu cười như muốn nói, ủa ông mà cũng thế à. Xưa nay chàng chưa từng khám tôi, vì thế mấy cậu nhỏ yên chí, lâu lâu nhờ tôi mang “hàng lậu” qua cổng trại. Kỳ này mấy cậu làm lộ quá, chàng Trật Tự cũng muốn “thử khả năng nghề nghiệp”, xem có đúng không. Tôi cũng dự định khai anh Búi Đình Thi có cứng rắn, nhưng vừa phải, và khi nào có mấy tên Công An để ý nhìn đến. Bình thường, anh cũng vui đùa với mọi người. Đối với những ai tỏ ý khinh miệt anh, chọc tức anh, dĩ nhiên phản ứng anh phải là gay gắt. Anh Bùi Đình Thi, về nhân dáng, tôi chủ quan nhìn thấy có vẻ cục cằn, nhiều khi thô lỗ. Tôi có chứng kiến tận mắt cảnh anh đánh Ông Già Đệ một cái đang lúc xếp hàng ở cổng đợi nhập trại. Không rõ vì sao, tôi cũng không tìm hiểu. Ngoài ra, không nhìn tận mắt anh đánh ai. Quát tháo, xô đẩy mấy cậu bé đứng vào hàng, tôi thấy, nhưng không phải là anh đánh đập người khác. Tôi có nghe kể chuyện anh làm mấy chuyện giúp bạn đồng tù. Chỉ nghe kể, không chứng kiến, nên không viết ra đây. Nhưng phải kể chuyện đọc được từ mấy bài báo tôi liệt kê bên trên, rằng anh Bùi Đình Thi giúp anh Trác Ngọc Anh có hộp sữa đặc, để anh Anh chuyển cho Đại Tá Trịnh Tiếu sau khi Đại Tá bị đánh nhừ tử vì trốn trại. Có người nói vì anh Thi sợ anh Anh nên làm như vậy, Có thể. Nhưng vì gì thì cũng là hành động tốt. Tóm lại, anh Thi là một người giữ chức Trật Tự có ngôn ngữ khe khắt, hung dữ hơn mấy anh khác, nhưng nghe nói anh phụ tá của anh tên Phát, lại dữ dằn hơn và biểu lộ bằng hành động. Nghe nói thôi. Nhưng vẫn tự hỏi, nếu ông Linh Mục Lễ gặp anh Phát ở Mỹ, thì sao?

Tôi xin ghi thêm một ý này: Nếu so sánh hành động của một anh Trật Tự khó khăn, hung bạo, với việc làm của những anh làm ăng ten báo cáo bạn tù khác, tôi cho rằng anh ăng ten nguy hiểm hơn nhiều. Anh ăng ten là kẻ dấu mặt chúng ta ít biết được, anh ăng ten gây hại “sinh mạng chính trị” của người đồng tù, có thể khiến người đồng tù kéo dài thời gian bị tù, phải gánh chịu thêm khó khăn trong cảnh sống (bị cho vào khu kiên giam, kỷ luật, bị cùm, bị …, biết đâu từ đó có thể chết người.) Anh ăng ten có thể vu khống vì thù ghét cá nhân khiến bạn tù lâm nguy, … Anh ăng ten có thể gây nhiều chuyện lắm trong nhà tù, mà xã hội nhà tù thường không biết là ai để đề phòng. Xin bình tâm suy xét, phán đoán, dù sự phán đoán là quá sớm theo lời Chúa dậy.

Bây giờ, tôi nói ý kiến chủ quan của tôi về vụ án Anh Bùi Đình Thi. Xin nhắc lại, mấy ý này là của tôi, rất chủ quan.

Về ông Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ

Ông Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ có đến California nhiều lần. Mấy anh thân cận ông vẫn gọi tôi đến chơi nhân dịp đón tiếp ông. Tôi đều đến, những bạn tù xưa thường hay đến với nhau khi có dịp. Nhưng tôi không thấy có thể kính trọng, săn đón ông như mấy bạn tù kia. Đã nói, tôi là một tên gàn gàn dở dở ương ương, nên nhìn người cũng theo cách đó, khó giống nhiều người. Ờ trong tù, lúc nằm bệnh xá, tôi lại gần gụi với Cha Lan, tôi quên tên đầy đủ của Ngài, có thể là Phạm Ngọc Lan. Tôi thấy Ngài là môt vị chăn chiên khiêm nhu, uyên bác mà nói chuyện như bác nông dân Bắc Kỳ, rất gần gụi bạn tù khác. Cha Lan hơn tôi chắc khoảng 12, 13 tuổi, vẫn cứ cậu cậu tớ tớ với tôi. Chưa thấy Cha xưng “cha” với ai. Cư xử bình thường thì “tôi” với “anh”, “các anh”. Với mấy vị cùng lứa, Cha rất kính trọng, gọi “Cụ”, “Ông”. Còn ông Linh Mục Lễ, ông ta có vẻ ngồi trên ngai Tổng Giám Mục. Thái độ lúc nào cũng bề trên, dạy dỗ. Có khi tôi nghĩ, có thể đôi khi soi gương, ông tự thấy có vầng hào quang quanh khuôn mặt mình. Nghĩ nhiều phần là bậy, nhưng tôi vẫn phải ghi ra.

Cái chuyện ông đã thề trước bàn thờ nhà anh Bùi Đình Thi, nếu có thật, thì ông không còn xứng đáng là một “giáo dân bình thường”, đừng nói đến tước vị Linh Mục. Bởi tôi mới nghe có một phía, nên không dám nói lời khinh suất với ông.

Cái chuyện ông viết ra, với sự tuyên thệ, để người ta có thể truy tố anh Bùi Đình Thi, là một hành vi bất xứng với chiếc áo Linh Mục ông mặc. Bởi vì, một giáo dân bình thường đã được học đức “tha thứ”. Một Linh Mục mặc áo chùng thâm, cái đức tha thứ còn lớn gấp bội. Bảo rằng ông tố cáo để mọi người, để hậu thế biết rõ sự thật ở Trại Thanh Cẩm. Đã chắc gì những điều ông tố cáo là sự thật. Ngay cả tín hữu của ông cũng nói rằng ông tố cáo sai. Ông thừa biết, mỗi bên của rặng núi Pyrénées đều có chân lý của mỗi bên, và chưa chắc giống nhau. Bảo rằng tố cáo để kẻ làm xấu bị trừng phạt. Chúa đã nói với ông đừng phán xét vội, đợi ngày đến trước mặt Chúa hãy nói chuyện. Sao ông vội vã thế.

Tôi đã thú nhận rằng rất chủ quan, nhưng chưa đủ chủ quan để gọi ông là kẻ háo danh, cầu lợi, dù phải gây cho kẻ khác khốn cùng. Nhưng lòng tôi nghĩ thế. Ông khiến tôi nhớ về một truyện dịch, ngắn, đọc hồi nhỏ của Alphonse Daudet, không nhớ ai là dịch giả, là truyện “Thánh Lễ Nửa Đêm”. Nguyên tác có tên “Conte de Noel”. Truyện kể cha Thomas Arnoton làm thánh lễ nửa đêm. Đầu óc cha bị các món ăn hấp dẫn xâm chiếm, nên rút ngắn thánh lễ. Đọc bản dịch thấy các món ăn được mô tả hấp dẫn thật. Cha bị Chúa phạt, cho làm 300 “Thánh Lễ Nửa Đêm”, Cho nên từ nhiều năm rồi, cứ đến đêm Noel, dân địa phương thấy trong ngôi nhà thờ hoang phế vẫn có thánh lễ diễn ra. Chỉ vì ham ăn mà bị phạt như vậy. Không biết một kẻ chăn chiên vì ham danh vọng, lợi lộc, quyền lực để hại toàn bộ đời một con người, làm tan nát một gia đình, thì sẽ bị phạt như thế nào. Tôi vốn định đề nghị với Chúa, do tội vu cáo, là tội nói dối, và hại người là tội làm ác, cho kẻ chăn chiên đó 300 năm làm Trật Tự trong nhà tù Cộng Sản. Nhưng nghĩ lại, trừng phạt một người theo kiểu đó lại làm hại cả ngàn người “dưới trướng” người đó thì không nên. Cả ngàn người sẽ khốn khổ vô cùng, khốn khổ gấp trăm lần khi anh Bùi Đình Thi làm Trật Tự. Lạy Chúa nhân từ, tôi tin Ngài có cách của Ngài.

Tôi không muốn viết gì thêm về ông Linh Mục Lễ, mặc dù biết bao nhiêu điều tôi muốn viết ra. E rằng mình chỉ thấy chân người khác lấm bùn, còn không thấy chân mình. Vả chăng, tôi không được xỏ chân vào đôi giầy của ông Linh Mục Lễ, làm sao tôi biết nên cư xử thế nào cho phải. Tôi cũng muốn nhắc ông Linh Mục Lễ như vậy, hãy tìm đôi giầy của Bùi Đình Thi xỏ thử chân vào, có khi lại vừa với chân ông hơn chân anh Thi đấy. Cái lối suy nghĩ gàn gàn dở dở ương ương, xin độ lượng với tôi.

Tôi nghĩ về anh Bùi Đình Thi

Với tôi, một người tù sống tại trại giam Thanh Cẩm cùng thời gian anh Bùi Đình Thi ở đó, tôi không có điều gì để than phiền về anh Thi. Trái lại, khi anh Thi làm Trật Tự, tôi còn mang ơn anh khi ít nhất 2 lần anh bỏ qua (một cách lịch sự) việc tôi vi phạm điều cấm đoán của trại tù.

Với tôi, anh Bùi Đình Thi là một “người tù Miền Nam” hoàn toàn bình thường như bất cứ ai trong những người tù Miền Nam bị nhốt tại trại Thanh Cẩm. Tôi tin rằng anh vẫn giữ đầy đủ nhân cách một người tù bình thường. Anh có thể nổi nóng trong vài trường hợp nào đó. Một sự nổi nóng rất bình thường xét về khía cạnh tâm lý con người, và con người trong tù. Từ sự nổi nóng đưa đến những hành động quá đáng là điều dễ hiểu. Nhưng lấy chuyện anh “đánh ông già Đệ” để đưa kết luận anh “giết ông Tiếp”, rồi “giết ông Văn” là kém ý thức, là không công bằng, với một vài người trong số kết tội anh, là ác độc.

Tôi không tin tất cả những người làm nhân chứng kết tội anh Thi “thực sự nhìn thấy, hay nghe được” từ anh Thi những hành động rõ ràng, lời nói rõ ràng, khiến một hay hai người đồng tù bị chết. Xin bình tâm nhìn lại, “tự mình nhìn rõ, thực sự nhìn rõ, tự mình nghe thấy, thực sự nghe thấy, từ anh Thi  những hành động, lời nói …”. Trong hoàn cảnh ở khu kiên giam, khu kỷ luật trại Thanh Cẩm, chuyện nhìn được bên ngoài, nghe được bên ngoài, không phải là điều dễ dàng. Nhìn được bên ngoài thì tin được, nghe được bên ngoài, chưa đáng tin 100%. Xin nhớ lại đi, trong đời sống thường nhật, đã nhiều lần chúng ta “tưởng là” nhìn thấy, “tưởng là” nghe được … những sự “tưởng là” đó không gây kết quả đáng kể. Còn ở đây, sự “tưởng là” đối với hoàn cảnh anh Bùi Đình Thi đưa đến hững hậu quả rất nghiêm trọng. Tôi kêu gọi những ai từng nghĩ, nói anh Bùi Đình Thi phạm tội sát nhân, dành ít phút cầu nguyện Thiên Chúa Ba Ngôi, cầu nguyện Trời Phật, rồi nhớ lại xem có chính mắt thấy, chính tai nghe những hành động, những lời nói của anh Bùi Đình Thi khiến hai vị đồng tù phải qua đời, hay không. Xin lưu ý, từ lời nói đưa đến hành động, không phải là chặng đường giản dị, dễ dàng, và tất yếu. Nếu vị nào, sau khi nghĩ lại, thấy chỉ có 1% nghi ngờ, hãy can đảm nói lên. Nói lên giờ này không đưa được anh Thi trở về cõi thế, nhưng giúp thêm sức mạnh cho chị Đinh Ngọc Liên và các cháu, nhưng quan trọng hơn cả, trả “sự thật” trở lại với cõi đời này. Sự can đảm nói lên này lớn lao như bất cứ hành động phi thường nào trong chúng ta.

Bây giờ, để bổ túc những gì tôi muốn ghi lại về Nhà Tù Thanh Cẩm, mời quí vị đọc một bài ngắn tôi kể chuyện “tù Thanh Cẩm” được viết cho “Đặc San Thanh Cẩm” năm 2012. Ngoài ra, nếu quí vị quả thực rảnh rỗi, không sợ phí phạm thì giờ, mời quí vị xem mấy đoạn văn vần tôi ghi về thời kỳ ở Thanh Cẩm, cũng như một thứ bổ túc vậy. Tôi có để mấy đoạn đó trong blog này.

Nhân đây, xin nói sơ qua về nhóm cựu tù Thanh Cẩm, gồm những người tù chính trị Miền Nam nhốt tại trại Thanh Cẩm. Có lúc con số tù chính trị Miền Nam tại trại này lên đến gần ngàn người, nhưng từ Quận Cam, California, Hoa Kỳ, chúng tôi tìm cách liên lạc chỉ được chừng hơn 300 người, hơn 250 người ở ngoài nước, gần 50 người còn sống trong nước. Chúng tôi đã tổ chức Đại Hội Thế Giới kỳ 1 cho cựu tù Thanh Cẩm, vào năm 2008, có anh ở Việt nam qua dự. Năm 2012, lại tụ họp anh em một lần nữa. Điểm đặc biệt của nhóm tù này là không hề lập thành hội. Chúng tôi tự xưng là “Gia Đình Cựu Tù Thanh Cẩm” trong đó bao gồm cả thân nhân gia đình các cựu tù nhân còn sống hay đã qua đời. Không lập hội nên không xin giấy phép, không có nội qui, không có điều lệ. Cứ “khơi khơi” gặp nhau. Các vị ở Miền Nam California mỗi năm gặp nhau chính thức một lần vào dịp “tân xuân”. Gặp nhau ăn uống một buổi, chuyện trò, rồi “bầu bán” (tức là ép nhau) anh này làm việc này, anh kia làm việc kia. Rồi khơi khơi tự ý góp tiền, không tiêu chuẩn, không niên liễm, có nhiêu góp nhiêu. Có anh góp $20, có anh góp $500. Gặp dịp tổ chức Đại Hội, mấy anh khá giả góp $1,000., có anh “bao chót”. Không ai có biên nhận. Phải ép mãi mới có người nhận giữ tiền để chi tiêu “quan, hôn, tang, tế”. Có lần, anh giữ tiền thất cơ lỡ vận, tán gia bại sản, anh em đành xí xóa cho nhau. Rồi lại tìm người ép uổng làm Thủ Quĩ. Vậy mà lúc nào trong quĩ cũng có năm, bảy ngàn đồng. Khi bạn tù từ nơi xa đến chơi, hú nhau gặp mặt, chẳng ai nói phải góp tiền, anh nào có tiền cứ trả hết, chẳng ai than phiền. Đúng là “một gia đình”. Do vụ anh Bùi Đình Thi, trong gia đình có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng chưa hề mang ra tranh cãi. Tôn trọng ý kiến riêng rẽ của nhau là chính.

Tôi kể đời tù trại Thanh Cẩm theo kinh nghiệm và hiểu biết cá nhân của tôi. Muốn đọc những gì có tính văn kiện chính thức, có tính biên khảo, hoặc giả muốn xem liệt kê “tội ác cộng sản” xin tìm nơi khác. Ông (hay bà) google “biết” hết. Bây giờ hãy đọc “Những Mảnh Vụn” đã in trong Đặc San Thanh Cẩm năm 2012.

Góp Nhặt Những Mảnh Vụn

Ghi của Người Đi Ủng

10 giờ sáng ngày 16 Tháng 11, 2012, chúng tôi lái xe từ Quận Cam, Nam California, trực chỉ Seattle, cực bắc bờ tây nước Mỹ. Chiếc xe Corolla của Lê Tinh Anh mới nhờ người bạn tậu cho chạy bon bon trên đường thiên lý. Chàng tuổi trẻ không hổ danh “Nha Kỹ Thuật”, lái xe an toàn và chính xác như ngày xưa “nhảy toán.” Kỳ “nhảy” này chàng mang nhiệm vụ chuyển thư mời dự Đại Hội Thanh Cẩm Kỳ II đến tận tay quí anh Thanh Cẩm vùng Seattle, Washington State (WA). Tôi được chàng cho đi ké, vừa có người đỡ tay lái ít dặm đường, vừa có người tán dóc cho đỡ buồn ngủ. Và sau 20 giờ lái liên tục, trừ đôi lần ngừng đổ xăng, “ăn tối”, đúng 6 giờ sáng ngày 17 tháng 11, 2012, chúng tôi đậu xe ngay trước nhà Đặng Hữu Chí, mang theo “mối thảm hoạ” quấy rầy gia chủ, người tù chính trị trẻ nhất trại Thanh Cẩm. Phải chú thích ngay về hai chữ ‘ăn tối” ghi trên, có nghĩa là mua hai ly mì ăn liền tại trạm săng, xin nước sôi đổ vào, đứng ăn ngay cạnh “con ngựa sắt” đang im lìm ngủ gật trong gió lạnh núi rừng.

Vừa gặp mặt, tôi cho Chí biết ngay rằng suốt đêm lái xe, hai anh em luôn nhắc đến nỗi ước mơ một tô phở nóng hổi tại Seattle. Cái gì chứ thứ này là “cây nhà lá vườn” của Chí. Chàng đang làm chủ và cố vấn trông nom cho hệ thống trên 14 tiệm phở mang tên “Than Brothers”, bao trùm hầu như toàn bộ Seattle. Trong dịp Đại Hội này, quí vị nên gặp Chí hỏi về chuyện nấu phở của anh, rất nhiều điều tình cờ và kinh nghiệm thú vị. Hình như chàng học nấu phở từ “sư phụ Tiến.”

Ngoài anh Đặng Hữu Chí là người thành công trong công ăn việc làm, quí anh Thanh Cẩm ở tiểu bang Washington đều có đời sống tương đối ổn định, con cái thành đạt. Nhưng điểm đặc biệt của quí anh ở đây là tinh thần tương thân tương ái giữa các người cựu tù cộng sản rất sâu và bền. Quí anh thường ở quây quần trong khu vực Seattle nên mỗi khi có chuyện vui buồn, ới gọi nhau khá dễ dàng. Thí dụ một anh cao tuổi, sống đơn chiếc vì con cái bận đi làm xa, muốn kê lại cái tủ, cái bàn nặng nề, đóng mấy cái kệ để đồ cho gọn ghẽ, chỉ cần ới một tiếng là có mấy anh buổi tối đi làm về ghé qua. Mọi nhu cầu của vị cao niên chỉ vài buổi tối, hoặc một ngày cuối tuần là được thoả mãn. Đúng là tinh thần anh em thật sự. Có thể nhân số các anh tương đối ít, cho đến nay chúng ta ghi nhận được khoảng 13, 14 người, nên liên lạc thường xuyên, thâm tình rất nặng. Nhưng một phần cũng là nhờ một vài anh không nề hà công việc tổ chức sinh hoạt vất vả, mất thì giờ, tự nguyện đứng ra gánh vác như anh Chí, cậu em út của vùng, anh Cần, sẵn sàng thu vén nhà cửa đón khách, anh Soạn, chăm chỉ điện thoại thúc dục khắp nơi … Một yếu tố khác giữ cho tình thân bền chặt là các anh không lấy chuyện quan điểm cá nhân làm điều quan trọng. Ý kiến về các việc nổi sóng trong cộng đồng liên quan đến mấy vị cựu tù Thanh Cẩm, các anh gác lại, không bàn tán, không thảo luận, dù mỗi anh mỗi ý thì xin giữ lấy. Cùng lắm, trao đổi riêng tư. Nhờ vậy không gây ra chuyện tranh cãi giữa nhau. Hầu như cứ một, hai tháng các anh lại gặp nhau một lần, kể cả anh Nguyễn văn Cao nhiều tuổi nhất, đã ngoài 80, đi đứng bắt đầu khó khăn nhưng không vì thế mà vắng mặt. Nếu buổi tối anh Cao không lái xe được, đã có các anh trẻ hơn chia nhau đưa đón, dù anh Cao không ở ngay Seatle chăng nữa. Mỗi khi có khách phương xa, lại là dịp các anh họp mặt đón khách tưng bừng, đãi đằng hậu hỹ, lại còn chia nhau “nuôi” khách, đưa khách đi chơi nhà nọ nhà kia, chỗ này chỗ khác. Chỉ cần một cú phôn hôm trước, hôm sau đã có đầy đủ nhân số. Có khi mới đón đám khách này tuần trước, lại có đám khách khác tuần sau, cũng chẳng anh nào ngại ngần không đến gặp nhau. Thản hoặc anh nào vắng mặt là do việc riêng gì cấp bách lắm, quan trọng lắm. Chúng tôi ghi dài dòng về Thanh Cẩm Seattle với nỗi ước mong chúng ta, những người cựu tù Thanh Cẩm, đều giữ được tinh thần thân thiết như quí anh ở Seatle và vùng phụ cận.

Tôi là kẻ được đi ké anh Lê Tinh Anh, không nhiệm vụ, không công trạng gì, nên cố ghi lại đôi điều góp nhặt bên lề các buổi gặp gỡ anh em Thanh Cẩm, nhân khi anh em bù khú, nhắc lại chuyện xưa, ôn qua chuyện mới. Phần ghi chép này chỉ chú ý các chuyện vui vui trong đời tù cải tạo, gợi lại hình ảnh một vài nhân vật anh em hằng nhớ đến, tất cả như những mảnh vụn tháng ngày đã qua. 

Một số nhân vật:

Cụ Nguyễn Văn Dõng đi tù Cộng Sản với chức vụ Phó Thống Đốc Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam (Ngân Hàng Trung Ương VNCH). Cụ Dõng nằm trong số 195 người tù Chính trị Miền Nam từ trại Long Thành chuyển ra Thanh Cẩm. Trưa ngày 6 Tháng 12, 1976, đoàn xe đò chở 196 người tù Miền Nam đổ xuống khu vực trại Thanh Cẩm, thuộc huyện Cẩm Thuỷ, Thanh Hoá. Tại sao có sự sai biệt 1 người, 195 người từ trại Long Thành, đến Thanh Cẩm thành 196 người? Kẻ ghi chép những mảnh vụn này tình cờ chứng kiến chuyện bàn giao giữa cán bộ công an trại Long Thành và cán bộ công an trại Thanh Cẩm:

Đêm ngày 5, rạng ngày 6 Tháng 12, chuyến tàu Sông Hương chở một số tù Miền Nam đến cảng Hải Phòng, trong đó có số tù từ trại Long Thành. Tất cả được lùa lên bến cảng như một đoàn quân ma trong ánh đèn leo lét. Một số phụ nữ sắc phục công an tươi cười, niềm nở đến thăm hỏi đoàn tù đang ngơ ngác, âu lo, lóng ngóng theo tiếng thét xếp hàng của những công an canh tù. Những nữ công an (công an gái, theo cách gọi Miền Bắc lúc đó) nói các anh yên tâm, sẽ được đưa về những nơi đầy đủ tiện nghi học tập ít tháng rồi sẽ được về với gia đình. Họ vẫn sợ những cuộc nổi loạn dọc đường cho nên thu xếp tất cả, từ những phụ nữ niềm nở đón tiếp, đến các cảnh ném đá của trẻ em dọc đường, … để cho tù phải e dè nếu có âm mưu nổi loạn. Đều là dối trá, lừa gạt. Những phụ nữ kia chắc có người tưởng thật, những trẻ em kia chắc nhiều em căm thù thật theo nếp tuyên truyền lếu láo.

Hai tay công an đứng ngay bên chỗ tôi ngồi xổm đang xoi đèn bấm lên một tờ giấy nhầu nát. Họ châu đầu vào nhau cãi vã. Qua ánh đèn, nhìn từ dưới lên tôi thấy những nét chữ nguệch ngoạc. Danh sách thuyên chuyển tù nhân chỉ cần “giản dị” như vậy, y như hồi còn ở trong rừng. Giọng nói the thé của miền Thanh Hoá cự rằng: Sao bảo Long Thành đưa ra 196 thằng mà đếm đi đếm lại chỉ có 195? Giọng Miền Nam trả lời cộc lốc: Thì chắc là có thằng nào sót lại. 195 thì nhận 195 cho rồi. “Đồng chí” công an Thanh Cẩm nhất định không chịu, thiếu một người về trại, sau này lấy đâu bù cho Bộ. Tôi thấy “đồng chí” Miền Nam chạy đi đâu đó một hồi rồi dắt đến một anh tù cao lêu khêu giao cho “đồng chí” Miền Bắc.  Anh Nhãn, không nhớ rõ họ gì, Nguyễn văn Nhãn hay Phan văn Nhãn, thuộc đám tù từ Miền Tây, bỗng dưng được tách ra cho nhập đám Long Thành để đi về Thanh Cẩm. Không rõ tay công an Long Thành điều đình sao với cánh Miền Tây và đám trại khác sẽ nhận lãnh, để móc được anh Nhãn ra.

Cụ Nguyễn Văn Dõng, người có chữ ký trên những đồng bạc chúng ta dùng thời VNCH, thuộc nhóm tù từ Long Thành, là nhóm tù Miền Nam đầu tiên đến trại Thanh Cẩm. Cuối năm 1977, một số tù từ Quảng Ninh được đưa về đây, sau đó đầu năm 1978, mấy đợt tù quân đội từ các trại phía bắc, gần biên giới, cũng về đây, tránh cuộc tấn công của Tàu. Đợt cuối cùng thêm tù vào Thanh Cẩm là đợt một số Linh Mục Thiên Chúa Giáo. Ngoài cụ Dõng, nhóm Long Thành còn nhiều nhân vật chức vụ khá cao thời VNCH, và tuổi cũng khá cao, như cụ Lê Tài Triển, Tổng Thư Ký Bộ Ngoại Giao, Cụ Tạ Văn Ấm, Thẩm phán, Bác sĩ Trương Khuê Quan, Giám Đốc Quốc Gia Nghĩa Tử, Chánh án Vũ Đức Vinh, Thượng Nghị Sĩ Nguyễn Văn Đôn, Chủ tịch Uỷ ban Quốc phòng Thượng viện, Chánh án Toà án Mặt Trận Nguyễn Cao Quyền…

Cụ Dõng mất trong năm 1977 tại Thanh Cẩm. Có lẽ cụ là người qua đời đầu tiên trong số tù chính trị trại này. Cụ và cụ Tạ Văn Ấm quen thân nhau, nhưng người con của cụ ở Pháp không chịu về thăm Việt Nam, nên đã không thể can thiệp cho cụ, trong khi cụ Ấm được về sớm. Một bạn tù ở Thanh Cẩm cho biết cụ được ông Nguyễn Hữu Thọ bảo lãnh. Nhưng vai trò ông Thọ đã lu mờ nên cụ vẫn bị đưa đi Bắc. Theo anh Tr.V.Chung., khi cụ gần mất, anh Chung có đề nghị lấy hai củ sâm của cụ pha nước cho cụ uống, nhưng cụ từ chối và nói: Không kịp. Cụ giao anh Chung giữ 2 củ sâm đó. Khi bà cụ thân sinh Đ.V.A, từ Sài Gòn ra thăm anh A., anh Chung nhận thấy bà cụ sức yếu vì tuổi hơn 70, đi chặng đường quá dài, quá vất vả, nên đã đưa ĐV.A một củ sâm để đưa cho cụ dùng. Cơ duyên để dùng một củ sâm cũng không phải là điều giản dị và tính toán trước được.

Trong hồi ký “Câu Chuyện Của Đời Tôi” của ông Nguyễn Hữu Hanh, bản đăng trên Talawas năm 2006, hiệu đính bản xuất bản năm 2004 tại California, tác giả có nhắc đến cụ Nguyễn Văn Dõng, nội dung như sau: Tháng 3, 1968, ông Nguyễn Hữu Hanh xin từ chức Thống Đốc Ngân Hàng Trung Ương VNCH để về làm việc với World Bank. Cả hai ông Thiệu, Tổng Thống và ông Kỳ, Phó Tổng Thống từ chối đơn xin từ chức này. Dằng dai đến Tháng 8 cùng năm, ông Hanh đề nghị: “Tôi cố tìm cách đề nghị người phó của tôi là Nguyễn Văn Dõng. Nhưng tên của Dõng không được chấp nhận…” Mãi rồi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng “chỉ bổ nhiệm Dõng làm Quyền Thống Đốc. Vài tháng sau Thiệu cử một người cháu là Lê Quang Uyển làm Thống Đốc Ngân Hành Trung Ương… và Dõng vẫn chỉ là Phó.

Các bạn tù từ Quảng Ninh về Thanh Cẩm còn nhớ về cái chết của cụ Dõng. Các bạn kể rằng khi đó họ mới về trại ít tuần, một buổi chiều sau giờ lao động, tự nhiên thấy đám quạ kéo về bay quần quần trên khu Nhà 4, nơi cụ Dõng nằm bệnh trong “cái gọi là bệnh xá”.  Hôm sau, mấy người tù hình sự khiêng quan tài cụ đi về đồi nghĩa trang. Anh em các đội lao động dọc đường chỉ biết đứng im tiễn biệt cụ. Cho đến Tháng 11, 2011, một số anh em cựu tù sống ở Seatle, nhân khi họp mặt, vẫn còn nhắc đến buổi trưa buồn bã đó. Không biết gia đình cụ Nguyễn Văn Dõng có tìm được và bốc mộ cụ về Nam chưa. Điều khôi hài là sau khi cụ mất được 3 năm, trong một đợt thả tù chính trị, cụ có tên tha về trong danh sách kỳ đó. Tên cụ được đọc oang oang giữa sân trại. “Thế nà thế lào?”

Cụ Lê Tài Triển chỉ ở Thanh Cẩm một thời gian ngắn rồi chuyển đi trại khác. Suốt hai năm đầu ở Thanh Cẩm, tù Miền Nam không được liên lạc gia đình, không có quà cáp. Cụ Triển cho anh Chung biết suốt cả năm cụ không đánh răng. Sau anh Chung tìm cách lo cho cụ ít muối để cụ dùng, vì trong tù cấm lưu trữ muối.

Cụ Tạ Văn Ấm: Ngạch Thẩm Phán. Cụ có con là kiến trúc sư vẽ hoạ đồ và trông nom việc xây cất trụ sở mới của Đại Sứ Quán Chính phủ Hà Nội tại Paris sau 1975. Ông kiến trúc sư này nhân dịp gặp Thủ Tướng Chính phủ Hà Nội trong lễ khánh thành toà nhà Đại Sứ mới đã nhắc đến ông bố đang bị đi cải tạo. Ông Phạm Văn Đồng hứa cứu xét. Cụ Tạ Văn Ấm sau đó được ông con thăm nuôi tại trại Thanh Cẩm, có lẽ là người được thăm nuôi đầu tiên trong số tù chính trị của trại này khi tù chưa được nhận quà gửi qua bưu điện. Sau bữa ăn tại nhà thăm nuôi giữa hai bố con, ông kiến trúc sư định thu dọn mọi thức ăn thừa đổ đi nhưng cụ Ấm cản lại. Cụ chỉ cho bỏ thùng rác chỗ xương gà không còn dính tý thịt nào, còn mọi thứ gom lại cho cụ mang vào trại. Bọn công an luôn luôn giám sát cuộc thăm nuôi, cụ Ấm không thể nói gì với con. Nhưng qua việc thu góp đồ ăn thừa, cụ Ấm muốn mô tả cho người con hiểu được đời sống trong nhà tù cộng sản ra sao. Cụ Ấm là người được về rất sớm tại trại Thanh Cẩm.

Bác Sĩ Trương Khuê Quan khổ người vốn đầy đặn hơn các cụ Dõng, cụ Triển, nhưng sau ít tháng ở Thanh Cẩm đã sọp hẳn đi. Bác sĩ là người thường xung phong khi có lời kêu gọi xuống bếp lột vỏ sắn (khoai mì) vì mỗi lần đi như vậy, đều được “bồi dưỡng” vài củ. Ở Thanh Cẩm cây sắn được trồng theo các triền đồi của rừng lim. Đó là loại sắn kỹ nghệ. Củ sắn nào nhiễm phải nhựa lim đắng chát, sau bữa ăn nhiều khi người ta cảm thấy như say nuớc trà, muốn ói mửa. Nếu lúc đó tưởng rằng bị cảm mà uống viên thuốc cảm vào, có thể mất mạng. Anh em trong tù, nghĩ cụ Quan là bác sĩ, nên tìm hỏi cụ rằng nhựa sắn kỹ nghệ ở đây có độc không, ăn nhiều có tốt không. Câu trả lời của cụ rất giản dị: Ai không ăn cứ đưa tôi ăn hết cho. Chưa biết sắn kỹ nghệ tai hại thế nào, nhưng đói ăn chắc chắn giết con người dần mòn. Nhóm tù người thiểu số giáp biên giới Trung Hoa, bị chính quyền Hà Nội nghi là tiếp tay cho Tàu trong trận tấn công 1978, đưa về nhốt ở Thanh Cẩm, mỗi ngày đều chết vài người. Chết vì đói, vì ăn bậy. Đói quá gặp thứ gì ăn thứ đó.

Bên lề

Trong buổi tối mấy anh em rủ nhau đến nhà anh Phạm Xuân Soạn nhậu nhẹt, có món vịt lộn do chính anh Soạn đứng bếp, tôi gặp lại anh bạn cũ ở bộ Dân Vận, tên Viên. Anh Viên không ở Thanh Cẩm, chỉ ở chung với Chung và tôi ở trại Long Thành. Cũng chuyện vui buồn sau 75,  Viên nhắc lại chuyện cụ Phạm Trọng Nhân ở Bộ Ngoại Giao cùng chung nhà 2 với Viên và tôi. Trại Long Thành tổ chức thi đua văn nghệ để tù giết thì giờ, đỡ gây chuyện phiền phức. Cụ Nhân bị anh em nhà 2 (mỗi nhà nhốt trên 100 người) ép phải nhận phần văn nghệ, đã sáng tác vở kịch “Chiến Sĩ Triều Trần”. Một anh trông nhẹ nhàng, hiền lành là Lê Văn Cẩn, khoá 10 QGHC, bị buộc đóng vai công chúa, anh Đỗ Hữu Liêm đóng vai Trần Bình Trọng. Đến phần văn nghệ nhà 2, từ trên sân khấu, Đỗ Hữu Liêm chỉ gươm xuống đám Công an cao cấp trong Ban Giám Thị ngồi mấy hàng ghế đầu và quát to lên rằng: “Ta thà làm quỉ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”. Thế là hai ngàn người tù vỗ tay ầm ầm, và bọn cán bộ hiểu ngay ngụ ý của câu nói cũng như cử chỉ vừa rồi. Về sau kiểm điểm lu bù, và có lệnh cấm không được diễn kịch lịch sử, chỉ được nói đến chống Mỹ cứu nước. Cụ Nhân ngạch sứ thần ngoại giao, vốn người Hành Thiện, Nam Định, tuy có liên hệ gia đình khá thân với Trường Chinh nhưng không cho con gái nhờ vả, nên chắc cũng lãnh khoảng 10 năm tù.

Thuốc lào

Từ một người không hút thuốc, sau khi ra Bắc vài tháng, hầu như ai cũng hút thuốc lào. Bên hình sự, họ sẵn sang đổi cả suất ăn lấy một điếu (trong nhà tù gọi là “một bi”) thuốc lào. Một anh đội trưởng kể lại: Khi đưa đội đi làm, ngoài anh cán bộ quản giáo, thường có thêm một, hai anh cán bộ quản chế, còn gọi là cán bộ bảo vệ đi theo canh chừng tù. Mấy anh ấy hay xin thuốc lào. Anh đội trưởng phải chia thuốc lào thành 3 loại khác nhau: Thuốc ngon gọi là loại số một, cho mấy anh bảo vệ tử tế, thả lỏng cho tù thoải mái, anh nào hắc búa, cho loại lật gọng, hút xong chưa kịp buông điếu, đã ngã ngửa ra, tay run lật bật, loại thứ 3, thuốc lào rởm, dành cho mấy anh vô thưởng vô phạt. Có người kể rằng, anh V.D. Cử, nấu nước cho đội khi đi lao động, rất hay bị xin thuốc lào. Hôm đó, theo đội có một anh quản chế dễ thương, nghĩa là khi thấy tù muốn “lấy cắp” khoai, sắn gì cũng mặc. Cử cho anh ta một bi thuốc lào loại số một ngon nhất, đắt nhất xứ Bắc Kỳ. Hút điếu thuốc xong là cảm thấy rất phê mà rất đằm, khói vào đến đâu đã đến đó, không ho, không sặc, không quay cuồng đầu, không tay chân lẩy bẩy. Kéo xong điếu thuốc, anh quản chế khen lấy khen để. Vừa lúc một anh quản chế khác bước vào, nghe khen, phán lớn: Anh Cử, cho tôi một bi nào. Cử sốt sắng cho tuy trong bụng chửi thầm. Dĩ nhiên, anh chàng quản chế hắc ám đã được Cử cho một bi loại “lật gọng”, chưa kịp buông điếu đã ngã chổng kềnh, mồm súi bọt mép. Đáng đời!

Bác sĩ

Mấy anh bạn tù tự giác được đi lung tung rừng này, nương kia. Các anh thường ghé vào nhà dân làm quen. Gặp người bị cảm sốt, hoặc tiêu chảy, bệnh này bệnh nọ uống đủ thứ thuốc này thuốc nọ, lá này lá nọ trong rừng, bệnh không thuyên giảm. Nói là “uống đủ thứ thuốc”, thật ra chỉ là nói theo thói quen, còn dân miền Bắc bệnh nào cũng thế, chỉ có “Xuyên tâm liên”, mỗi lần uống cả vốc tay hàng trăm viên thuốc, cho nên người miền núi chỉ trông vào lá thuốc hái trên rừng. Các anh tù Miền Nam chỉ cần cho một viên trụ sinh, một viên Tylenol, bách bệnh thuyên giảm. Dân làng cứ thế gọi các anh ấy là bác sĩ. Một anh bạn tù kể chuyện, anh thiếu uý Bộ, trong trại gọi là “Ban”, nghĩa là thuộc ban Giám Thị, cao hơn các anh cán bộ quản giáo, quản chế, ghé “nhà lô” đội xyz chơi, tiện thể chờ một anh tù hình sự do ‘Ban” cử đi công tác riêng. Hỏi công tác gì, Ban trả lời là cho nó đi hái mấy thứ lá rừng về nấu uống vì Ban bị đau bao tử. Anh bạn của chúng ta hẹn Ban ngày mai ra đây, anh ấy sẽ cho vài viên thuốc uống thử xem. Hôm sau, Ban ra gặp thật, lại giữa lúc bao tử đang đau. Anh bạn chúng ta bèn cho Ban 2 viên Malox. Anh bạn kể chuyện: Các anh biết không, anh chàng Ban đó mới chỉ uống thử một viên, ít phút sau nó nhìn mình như được gặp “đồng chí Lê Nin” ấy. Chưa bao giờ đụng đến âu dược, chỉ một viên thuốc vào thôi là bụng êm ngay lập tức. Ban tỷ tê hỏi, thuốc này ở đâu hay vậy. Đáp rằng của miền Nam trước đây bào chế đấy. Ban ra chiều tư lự. Đánh nhau ở mặt trận văn hoá là vậy.

Anh bạn tù khác tên Chiến, hình như vốn là Trung Sĩ Cảnh Sát ở Mỹ Tho thì phải, chẳng hiểu duyên cớ gì cũng bị tống ra Bắc. Hoặc chính anh là nhân vật tôi đã kể đâu đó, được tay công an trại Long Thành lấy từ nhóm tù Miền Tây, để bù cho đủ 196 người theo yêu cầu của công an Thanh Cẩm. Trước đây tôi yên chí anh tên là Nhãn, có thể vì tôi nghe không rõ giọng Miền Tây. Anh được cử coi “nhà lô” đội rau xanh do Trần văn Chung làm đội trưởng. Anh hay xin thuốc cảm và tiêu chảy của anh em. Anh Chung kể lại, một hôm Chiến hỏi xin thuốc trị tiêu chảy. Anh Chung có lọ thuốc tiêu chảy hiệu con rồng, mới dùng có một ít. Anh Chiến xin hết chỗ còn lại.  Hỏi để làm gì, Chiến mới khai ra trong làng, hôm qua không hiểu dân làng ăn phải cái gì, hầu hết đều bị tiêu chảy, hái hàng tạ lá rừng về nấu thành thuốc, uống cũng không hết. Sau này Chiến cười cười nói: Anh Chung biết không, mỗi người được em cho một muỗng, uống xong, họ nhỉn mình như thánh sống. Uống đến đâu, nóng đến đó. Họ chỉ cần vậy thôi, cơ thể chưa bao giờ biết các loại thuốc này, nên hiệu quả tức thì. Từ những chuyện như vậy, dân địa phương càng ngày càng yêu mến tù “Nguỵ’. Các cô sơn nữ đang tắm suối, chẳng may gặp anh Chiến tình cờ đi qua, thì cũng vẫn thoải mái, chẳng chạy trốn, cũng chẳng kêu la. “Thân nhau đến thế cơ đấy!”

No Quá Cũng Chết

Anh Lê Tinh Anh kể chuyện bên mấy buồng hình sự ở trại Thanh Cẩm. Thường bên đó tù ít khi có thăm nuôi. Thản hoặc người nhà có vào thăm thì cũng chỉ vài ba ký thực phẩm, vài “bò” gạo (đơn vị đong gạo bằng lon sữa bò). Có hai anh tù hình sự được người nhà vào thăm, mang cho nồi xôi gà. Hai anh cố ăn bằng hết ngay lúc thăm vì nếu mang vào trại, sẽ phải nộp tất cả cho “đầu gấu” (ở miền Nam gọi là “đại bàng”, một tù hình sự đàn anh trong buồng giam). Quà cáp đã nộp rồi, đầu gấu cho lấy về cái gì thì được hưởng cái đó. Cố ăn nhiều quá, đêm đó các anh bội thực. Có kêu cứu thì y tế trại cũng chẳng quan tâm. Các anh chết vì ăn no. Có lẽ cũng là cái chết mà nhiều người miền Bắc ao ước.

Tư Tưởng tốt: 100 đồng

Nghe anh Chung kể lại về ngày anh được thả cho về. Cùng đợt thả này có Ng.C M. Sau khi mọi người được lãnh “Giấy Ra Trại”, bỗng anh M. chạy đến anh Chung: Anh Chung này, anh phải giúp em chứ giấy ra trại thế này thì về địa phương nó đì cho chết. Xem kỹ giấy ra trại của M. Chung đồng ý là với phần ghi nhận về tư tưởng của M., Chung không nhớ nguyên văn, nhưng rõ ràng là xấu. Giúp bạn, Chung tìm tay Trung Uý Công An lo về hồ sơ. Hai bên thoả thuận sẽ có bồi dưỡng khoản tiền, trao đổi giấy tờ tại ga xe lửa Thanh Hoá, trước khi bọn tù lên tàu về Miền Nam. Chung kể lại: Các ông biết không, bọn nó tính toán hết rồi. Anh chàng M. mới có thăm nuôi ít ngày thì được thả, chắc chắn tiền bạc người nhà dúi cho còn nhiều. Tên Trung Uý lo hồ sơ là người đánh máy giấy ra trại. Giấy của M. lúc hắn giao cho tôi ở ga xe lửa cũng chính là tờ giấy hắn phát  trước đó mà tôi mang trả xin sửa. Hoá ra, khi đánh máy, hắn đánh máy một câu có ý rất xấu cho M. Nhưng trong câu này, ở một chỗ nào đó tôi không nhớ chính xác, có một khoảng cách có thể thêm một, hai chữ. Tôi không nhớ hắn thêm chữ gì, nhưng nội dung trở thành tốt cho M. và hắn được trả cho 100 đồng. Chung lắc đầu, về khoản gian manh chúng mình còn thua bọn V.C nhiều lắm.

Được Jimmy Carter và Hoa Quốc Phong bảo lãnh

Ở đội xây dựng có anh T. thường gọi là T.“Bông”. Anh Bông này đi khá nhiều đội vì có nhiều ý kiến “khá chí lý” nên dễ bị đì. Hình như anh đi qua đến 10 đội. Ý kiến nổi bật nhất của anh là: “Tao hả? Tao thì chỉ có Jimmy Carter và Hoa Quốc Phong bảo lãnh là về thôi.” Mỗi lần chuyển đội như vậy, các đội trưởng đều được lệnh theo dõi anh. Bây giờ, nhân buổi họp mặt vui vẻ,  anh kể: “Vậy mà chỉ có hai thằng đội trưởng nói nhỏ với tôi về lệnh đó là thằng Nghĩa và thằng Lê Bá Khanh. Thằng Khanh gọi tôi ra hỏi nhỏ: Ê “Bông”, mày làm gì mà cả trại được lệnh phải theo dõi mày vậy? Rồi nó chỉ cho tôi 3 thằng làm ăng ten trong đội để tôi đề phòng”. Anh cười kể tiếp câu trả lời: “Thì tao không phải gia đình cách mạng, không có công trạng gì, thì chỉ có hai thằng chủ tịch với tổng thống đó cho tao về thôi, không biết chừng cho tao đi Mỹ nữa đó”. Chắc anh Khanh này chỉ có nước lắc đầu. Trả lời câu anh em hỏi 3 cần ăng ten đó là ai, “Bông” từ chối tiết lộ, nhưng nói: “Ê, có một thằng là Thiếu tá lận, mà bây giờ hình như là Hội Trưởng hội gì đó.” Anh “Bông” tiên đoán gần đúng, sau này chương trình HO ra đời dưới thời Tổng Thống Reagan, không biết lúc đó Hoa Quốc Phong còn làm Chủ tịch bên Tàu không.

Thầy Giậy Võ

Trong nhóm tù Miền Nam từ trại Quảng Ninh về Thanh Cẩm có một số các bạn trẻ tuổi. Có bạn khi vào tù mới 16, khi đến Thanh Cẩm khoảng gần 18. Một số bạn bị tù vì “theo Phục Quốc.” Vì còn trẻ nên các bạn hành xử trong tù cũng khác lớp cha anh.

Đặng Hữu Chí có lẽ là người tù chính trị trẻ nhất Thanh Cẩm. Sau năm 1975 Chí mới 16 tuổi nhưng đã là “Chánh Án”. Chí tổ chức trong lớp học phiên xử Hồ Chí Minh với đầy đủ các thành phần kết tội, biện hộ và chàng là Chánh án. Bị cáo Hồ không tiện ra trình toà nhưng có luật sư đại diện. Cuối cùng “Ông Chánh Án” tuyên bố xử tử hình bị cáo. Thế là chàng vào Phan Đăng Lưu, Lê Văn Duyệt, rồi Quảng Ninh, cuối cùng là Thanh Cẩm. Khi ở Phan Đăng Lưu có tục lệ hay điểm danh tù. Mỗi người đứng lên khi nghe kêu tên và phải nói tội danh của mình. Đến lượt Chí, chàng phải hô thật to “tội xử bắn Hồ Chí Minh”. Cả phòng cười rần rần. Một ngày nào đó có buổi tập họp chuyển trại ở Lê Văn Duyệt. Bọn cán bộ bảo rằng anh nào chưa đủ 18 tuổi, tức là sinh từ 1960 trở đi, và anh nào tuổi từ 60 trở lên, sẽ được ở lại. Cả phòng chỉ có 3 người dơ tay. Chí vừa đứng lên, cán bộ quát, “Anh Chí, anh sinh năm 1959, ngồi xuống.” Nghĩa là họ thân ái tặng ngay một tuổi cho Chí. Lúc chàng nhìn qua, thấy ông Đệ đứng lên, bọn cán cũng nói ngay, anh Đệ, anh mới 59 tuổi thôi. Rồi ông Tuyên cũng chưa đủ 60 tuổi. Cả hai ông già cùng được “giảm tuổi quân dịch”. Tất cả đều lên tàu ra Bắc. Hay thật!

Tại Thanh Cẩm, nhân mấy phút ngồi nghỉ chờ việc đến, Chí ba hoa với mấy cậu bạn cùng lứa: “Bọn mày biết không,  Mai Ngọc Y, Lê Thiên Bảo là do tao dạy võ đó!” Hai anh Y và Bảo đều đai đen nhu đạo, huấn luyện võ thuật ở Phủ Tổng Thống, cũng đang ở Thanh Cẩm. Bọn cán bộ vẫn sì sào truyền miệng về nghề võ của hai anh. Một tên cán bộ thoáng nghe Chí nói, bèn chốp ngay lấy. Hai ngày sau, Chí được ra khỏi đội lao động, đi tự giác. Việc của chàng là cà nhỏng theo tên cán bộ kia đi khắp nơi, vào làng, ra chợ,… Mấy tháng trời tên công an ung dung đi lại không sợ đám thanh niên địa phương vì đã có “sư tổ” đi kèm. Rồi có lúc chàng Công An nghĩ ra, trước năm 1975 Chí tuổi bao nhiêu mà đã là thầy của Y với Bảo? Chàng cho Chánh án trở về đội lao động cầy cho bã người ra.

Có ngon cởi áo công an

Mỗi bạn trẻ đều có vô số chuyện vui nghịch ngợm cho đời tù bớt  nhàm chán. Đôi khi, chuyện nghịch ngợm trở thành chuyện liều vì điên tiết với bọn công an coi tù. Đi theo đội lao động thường có mấy tay công an trẻ măng. Mỗi tay một khẩu súng canh tù. Một lần, bực mình chuyện gì đó, “Dũng Cận” và Việt trong nhóm Phục Quốc đứng ra giữa khu lao động, gọi mấy tay công an quản chế: “Cán bộ có ngon cởi quần áo công an ra, đánh tay đôi nào.” Mấy tay công an im lặng lảng đi. Nhưng từ đó, mấy tay này ngoài súng, luôn mang theo một cây sào dài, khi ngồi đâu thì gác lên đùi. Cả bọn tù khổ sai vác đá không ai được phép đến gần họ trong vòng đường kính là cây sào đó. Họ chỉ sợ một anh chàng tù nổi điên, ném cục tá to tướng vào đầu thì về với bác Hồ ngay. Vác đá nặng, đi đường dốc, mà tù chỉ được ăn uống thiếu thốn, run lẩy bẩy, dễ trượt chân té vào cán bộ lắm. Anh chàng Quân, chắc hơn Chí vài tuổi, một buổi sáng trên đường đi làm, mang theo trái bắp bằng nửa cánh tay tù khẳng khưu.  Quân vừa đi vừa gặm từng hạt cho lâu, tay cán bộ đi theo ngứa mắt, cú đầu Quân một cái. Quân nhảy ra khỏi hàng đứng khuỳnh tay: “ĐM., mày chơi không?” Tay quản chế lảng ngay đi về cuối hàng. Tù tự coi như cùi rồi, đâu còn sợ lở nữa.

Nghề Đội Trưởng

Một cuốn sách gối đầu giường của những người sinh hoạt phong trào Hướng Đạo là cuốn “Nghề Đội Trưởng” của Trưởng Cung Giũ Nguyên biên soạn. Nhưng ở đây là “nghề đội trưởng ở trong tù cộng sản” mà sách đó chắc chắn không nói đến.  Anh Đặng Hữu Chí nói về nghề đội trưởng của anh Trần Văn Cần, đội trưởng đội xách cát. Chí cho rằng địa vị anh Cần lúc đó rất khó khăn. Cầm đầu một đám trẻ cứng đầu, bọn trẻ sẵn sàng cãi lệnh cán bộ, không chịu làm, Cần phải làm sao bây giờ. Mà nếu không hoàn thành chỉ tiêu, bọn công an đì cho cả đội toé bo bo ra. Cho nên Cần phải khôn khéo, vừa lo cho anh em, vừa làm cho bọn cán bộ vừa ý. Thực ra cách dễ nhất là bắt anh em làm hộc sì dầu (nói vậy, làm gì có sì dầu mà hộc), nếu không “báo cáo cán bộ” là xong. Không thiếu các đội trưởng trong tù làm kiểu này. Cần để anh em tuỳ theo sức lực từng người mà làm việc, nhưng “chấm công” vẫn đầy đủ như chỉ tiêu. Sức lực của Chí chỉ đủ làm được một nửa chỉ tiêu. Nếu làm đủ chắc Chí không còn sức mà nấu phở bây giờ. Trong khi lái xe đưa bọn tôi đi thăm cảnh Seattle, Chí tâm sự rằng: Nếu một đội trưởng giỏi, biết cách sống, không làm mất lòng cán bộ quản giáo nhưng anh em trong đội được sống dễ thở, vui vẻ.  Nếu đội trưởng chỉ biết thân mình, chỉ lo làm vừa lòng bọn cán bộ, anh em trong đội sẽ cực lắm, không khí đội buồn thảm, cả đội bị đì ná thở. Đội sướng hay cực không phải vì công việc của đội, mà còn tuỳ tài đội trưởng.

Trong buổi họp mặt ngày 19 tháng 11, 2011, các anh Thanh Cẩm – Seattle nhắc lại nhau nghe đủ thứ truyện vui buồn đời tù cộng sản. Chuyện tù này kéo dài cả sau khi ra khỏi trại Thanh Cẩm về nhà tù lớn hơn là nước Việt Nam. Thí dụ chuyện anh Ng. M. S. Anh “Bông” kể rằng anh S này vốn là sĩ quan không quân, sau khi ra trại về vùng xa xôi, hẻo lánh ở Lâm Đồng. Anh S. tâm niệm rằng những gì cộng sản nói đều là giả dối, báo chí cộng sản loan đều là thất thiệt, lỡ nghe theo mà làm dễ mang hoạ lắm. Khi có tin nộp đơn đi Mỹ theo diện H.O., anh không tin, và còn sợ nếu nộp đơn thì bọn phường xã sẽ lại khép tội anh theo đế quốc Mỹ. Có một anh Không Quân, bạn của S., nghe tin, chạy lên Lâm Đồng, tìm tòi mãi mới ra vợ chồng anh S. đang sống lúi sùi trong nỗi sợ hãi thường xuyên. Anh Không Quân thuyết phục anh S. ra nộp đơn, đưa cả tiền bạc để “người bạn cách ly tin tức” này có đủ chi phí đơn từ. Lúc đó, đã nhiều người đi Mỹ rồi, theo diện H.O., mà anh S. vẫn không tin. Cuối cùng, nghe lời bạn, anh S. cũng liều một chuyến. Bây giờ anh Ng. M. S. và gia đình đang ở Hoa Kỳ.

Anh Lê Tinh Anh kể chuyện anh D. V. H. ở Thanh Cẩm, bàn giao chức vụ Văn Hóa cho Lê Tinh Anh, ra tù về ở Cầu Dây. Anh H. cũng nghe tin vụ H.O., nhưng không dám nộp đơn, vì ngại địa phương biết quá khứ của mình. Vốn là khi về ở Cầu Dây, với giọng nói còn thuần chất đặc biệt một địa phương ở Bắc Kỳ, anh H. có vẻ như một cán bộ đã về hưu. Chính quyền thôn xã cố mời anh H. tham gia sinh hoạt địa phương, sinh hoạt đảng, nghĩ anh chắc phải là cán bộ cao cấp đã nghỉ việc. Anh H. chạy về Thủ Đức ở. Bọn Thủ Đức còn mời anh ra sinh hoạt trong Ban Bí Thư Huyện. Anh cứ phải một mực từ chối, nói rằng tuổi cao rồi, không còn sức gánh vác việc nước, việc đảng.

Những mảnh vụn trong đời tù nhiều lắm vì đời tù kéo dài cả chục năm. Xin hẹn dịp khác sẽ kể hầu quí vị thêm những mảnh đã góp nhặt trong suốt 4 ngày ở Seattle cùng những bạn tù đáng quí. Cùng Lê Tinh Anh, tôi xin cảm ơn quí anh Thanh Cẩm vùng WA về thân tình đã dành cho nhau.

Buổi trưa ở Thanh Cẩm

Để cho đúng, tiểu tựa này phải đặt là “Buổi trưa “lẩn thẩn” ở Thanh Cẩm.” Bởi vì nhiều vị có thể bực mình về chuyện kể trong các buổi trưa này, và thực sự mấy chuyện kể dưới đây rất “lẩn thẩn”. Chuyện một tên gàn!

Buổi trưa là một khoảng thời gian trong một ngày. Buổi trưa, hay buổi chiều, buổi tối, buổi sáng trong nhà tù, vẫn là ở tù. Nhưng với tôi, “buổi trưa” có một cái gì đấy đặc biệt lắm lắm trong cuộc sống ở nhà tù Thanh Cẩm. Đúng ra, nói “buổi trưa” không hẳn toàn bộ những điều đặc biệt lắm lắm này thuộc về “buổi trưa”. Có một số rất ít nó xẩy ra vào buổi sáng, và buổi chiều, khi 9 tiếng kẻng báo đóng cửa phòng giam. Nhưng tôi ghép tất cả vào “buổi trưa”, vì cảm giác xẩy ra ở buổi trưa nhiều lắm. Hơi có vẻ khó hiểu, lôi thôi, quí vị chịu khó hiểu vậy. Để tôi kể cho nghe. Nhưng phải nói ngay, cái chữ “buổi trưa” này chỉ là các buổi trưa ngày nghỉ không phải đi lao động. Ngày đi lao động tôi thường dỗ mình chìm vào giấc ngủ ngắn ngủi trước khi 3 tiếng kẻng báo giờ tập họp đi lao động buổi chiều, nên không có “buổi trưa”.

Đó là những buổi trưa tôi ngồi trên khu đất rất cao trong trại giam K1, ngắm trời, nhìn đất, theo sông, tưởng núi. Để tôi nói lại khu đất này. Từ buồng 4, buồng tôi thường ở, là buồng giam cao nhất trong trại, ở mé phải của trại, đứng ở cổng trại nhìn vào, tôi bước ra khỏi cổng buồng. Rẽ về bên phải, tôi leo ít bậc tam cấp, lên một khu đất rộng gần bằng chiều ngang của trại, vào sâu chừng 50 mét thì đụng bức tường đầu tiên của trại giam. Sau bức tường đầu tiên này còn bức tường cao lắm, ngăn trại giam với bên ngoài. Sau này, khu đất cao bị khu Nhà Kỷ Luật của trại giam lấn. Bức tường bao quanh khu kỷ luật mới nằm chình ình giữa thanh thiên bạch nhật, chỉ để lại bề sâu khu đất khoảng 25 mét, hạn chế cái mênh mông khoáng đãng của vùng không gian tự do cho riêng tôi.

Tôi nhớ có đọc một truyện ngắn viết nhan đề“Trạng Quỳnh Đi Xứ”, không nhớ rõ in ở đâu, có thể báo “Sáng Tạo” vào cuối tập niên 50, đầu những năm 60, có thể tác giả là một trong mấy vị Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Sĩ tế, hay ai đó.  Tôi nhớ vì câu này trong truyện: “Tàng thức mang mang, thùy năng câu thúc.” Cho nên tôi nói “vùng không gian tự do cho riêng tôi” vì ở đó, tôi được “gần như” tự do suy nghĩ. Tôi nói “gần như” bởi tôi không tin có sự “tuyệt đối” trong tự do. Tự nó, cái ý niệm “tự do” đã bị giới hạn trong “ý niệm” của con người. Tự nó, hai chữ “tự do” đã giới hạn tự do trong ngôn ngữ loài người. Và cụ thể hơn cả, tự do của người khác đã giới hạn tự do của tôi, cái khung cảnh tôi đang sống đây, ngay cả “trời. đất, sông, núi” cũng đã giới hạn sự suy nghĩ của tôi.  Tàng thức mang mang, có bị câu thúc đấy chứ.

Tại khu đất “trên cao mênh mông”, có một cái bể xây bằng gạch, không có nắp đậy. Thành bể là hai hàng gạch song song xây với vữa là vôi trộn cát, không trét xi măng trong, ngoài. Đó là cái bể chứa vôi, không sợ rò, rỉ. Các bạn tù gánh vôi đổ vào đây, từ đó, bạn tù khác dùng đánh vữa xây khu nhà đen, và nhà mái bằng, trước khi bọn Long Thành chúng tôi đến trại. Lâu ngày. Còn lớp vôi đóng dưới đáy, thành bể vẫn còn nguyên, trở thành ghế ngồi cho tôi khi lên khu đất cao này. Từ “ghế ngồi”, tôi ngoái lại sau lưng nhìn lên núi đá vôi phía sau trại giam. Đôi khi, ngoái người lâu sẽ mỏi, tôi ngồi ngay thành bể phía trong, ngắm nhìn bức tường trại giam, nhìn hàng kẽm gai chia hai ngả chạy trên đầu tường, rồi nhìn vượt lên trên nữa, là sườn núi đá vôi đang khai thác nham nhở, trông dáng vẻ chịu đựng. Ngồi đàng hoàng như vậy, tôi có thể nghe “tiếng núi”. Lúc tôi có thể ngồi trên thành bể ngắm khuôn mặt xam xám của đỉnh núi đá vôi là khi tôi đã ở trại giam Thanh Cẩm hơn 3 năm, khi đó, chim chóc hầu như đã chạy khỏi sườn núi, không phải tất cả chim chóc thì ít nhất cũng là vài loài chim đặc biệt đã bỏ đi. Chúng nhường không gian lạnh lẽo này cho lũ tù chúng tôi đập đá, nên đêm đêm, không còn nghe tiếng thúc dục dai dẳng “bắt cô trói cột”, cũng không nghe tiếng gõ đều đều của loài chim gõ kiến. Nghe “tiếng núi” là nghe lời thì thầm của ngọn núi đá vôi, thường là những âm thanh khe khẽ, buồn buồn, sẽ sàng như tiếng Bà Mẹ thì thầm với đứa con nhỏ, rằng để yên cho Bố (nhắm rượu, đọc sách, nghỉ ngơi, nghĩa là ông Bố làm chuyện gì cũng là chuyện quan trọng và cao cả, đừng ai quấy rầy. Trời đất ạ! Đảng là Bố của nhân dân đấy, các bạn tin không.) Nghe vậy, chán lắm, tôi thường ngồi thành bể phía trước, nhìn ra phía cổng trại, qua bên kia bờ sông Mã. Đã bảo “lẩn thẩn” mà, và còn lẩn thẩn dài dài, vị nào không chịu nổi, “vứt mẹ nó’ mấy “buổi trưa” này đi.

Từ thành bể phía trước, tôi nhìn qua bên kia sông. Lại nhớ lời bài hát “bên kia sông là ánh mặt trời” của Nguyễn Đức Quang, rồi nhớ tiếp “mặt trời chân lý chói trong tim” của Tố Hữu. Tôi vẫn tin rằng tim ông Tố Hữu là tim heo, tức là tim con lợn. Tim heo ăn nhạt nhẽo, vô duyên. Chắc là tim ông giống tim con heo trong “Trại Súc Vật” của George Orwell. Quí vị nào nghi ngờ, xin hỏi các bác sĩ tài giỏi nhất nước lo chuyện sức khỏe cho Bộ Chính Trị, chắc ăn hơn, hỏi mấy vị bác sĩ bên Nga, bên Tàu. Và như vậy, cái “chân lý” của ông Tố Hữu, và “cả bọn” ông, là thứ chân lý của bầy heo. Từ thành bể xây hai hàng gạch, tôi nghĩ đến bầy heo Bộ Chính Trị. Có vị bảo như thế là tôi được tự do suy nghĩ, tức là “thùy năng câu thúc.” Vâng, đúng là vậy. Nhưng có vị bảo, nếu tôi không bị cái hình ảnh “mặt trời chân lý chói trong tim” của những trái tim heo, tôi đã tức khắc làm được thơ nhớ vợ khi mới đặt đít ngồi lên hai hàng gạch, ngắm cảnh sông nước hữu tình. Vâng, cũng đúng như vậy. Vậy thì, tôi bị cái ông Tố Hữu câu thúc rồi. Phật bảo phải “buông, xả”. A, khó nhỉ! Cái ông Tố Hữu và bè lũ của ông ở khắp nơi, buông “khắp nơi” là rơi vào được chốn vô định. Chưa buông được nên chưa vào được chốn vô định, nhưng tôi vẫn lẩn thẩn nghĩ rằng, ngay cả ở chốn “vô định’ đó, vẫn có một cái gì đó “định”, là âm thanh nguyền rủa cái chân lý của ông Tố Hữu và bè lũ. Tôi tin vậy.

Không “vô định” được, nhưng tôi “gần như” tự do, nên tôi để cái thứ “chân lý” đó qua một bên, bởi vì, có một bạn tù nào đó đang đến bên tôi. Những buổi trưa ngày nghỉ các bạn tù thường nấu nướng thứ gì đó để gia tăng dinh dưỡng cho cơ thể, cũng là một thú vui, một cách giết thì giờ, mà “thì giờ” trong tù nhiều quá, “giết” mãi cũng vẫn còn dài dằng dặc. Từng nhóm bạn hợp nhau nấu ăn chung, rồi “trà lá”, tiếng trong tù chỉ chuyện quây quần hút thuốc lào, uống nước chè, bàn chuyện nhà, chuyện thiên hạ, chuyện trên trời, chuyện dưới đất. Cũng là cơ hội các “cần ăng ten” thu thập dữ liệu báo cáo. Riêng tôi, đôi khi tham dự cùng các bạn nhỏ “thùng” cháo sắn cải thiện, còn bình thường, tự mình “cải thiện” một chút gì giản dị, rồi ra ngồi ngắm đất trời cùng dòng sông Mã. Gọi là “thùng cháo sắn” vì phải gần đầy thùng cháo nấu bằng khoai mì với ít rau rừng gì đó mới đủ cho gần chục bạn trẻ vui chơi đại tiệc ngày nghỉ. Mỗi thùng gánh nước khoảng 20 lít, gần đầy thùng, tức khoảng 17, 18 lít cháo. Các bạn lấy “lượng” làm chính, “chất” hay “phẩm” chỉ là phụ. Nếu bữa nào có được gói mì ăn liền cho vào, đó là yến tiệc của vua. Thậm chí, một nửa gói mì cũng đã là oai nhất thiên hạ. Đại yến xong, bạn thì được phân công thu dọn chiến trường, bạn lấy đàn ra ca hát, bạn thì lang thang. Và, có bạn bước ra ngoài cổng, thấy tôi “với trời bơ vơ”, chạy lên “bơ vơ cùng nhau”. Vậy thì, nếu có ai đến cùng ngồi bên tôi trên thành bể chứa vôi thường là một cậu nhỏ nào đó, hoặc đôi khi anh bạn Dân Vận, như anh Phạm Phú Minh chẳng hạn. Bạn Dân Vận ở Thanh Cẩm có mấy anh, Hùng Cò tức Cậu Sáu Long An, Nguyễn Thanh Phàn, Trần Văn Chung, Ngô Bá Hoằng và Phạm Phú Minh. Anh Minh còn là bạn trong các sinh hoạt thanh niên, sinh viên ở Chương Trình Hè 65. Các bạn nhỏ đến bên tôi vào những “buổi trưa Thanh Cẩm” thường là Tuấn Nhí hay Xuân Trường, có thể tên thật của bạn là Hoàng Sơn Trường, tôi gọi Hoàng Xuân Trường, lâu dần thành thói quen.

Chúng tôi “cùng bơ vơ” giữa đất trời lồng lộng. Buổi trưa mùa đông “nắng vàng rực rỡ” như một bài hát của Phạm Duy, hoặc buổi trưa mùa hè khi nhiều mây che khuất mặt trời, đều là những lúc cảnh vật chung quanh “gấm vóc” vô cùng. Phải nói là tất cả các buổi trưa Thanh Cẩm, mùa nào cũng vậy, trời nắng, trời mưa, trời đông giá lạnh hay trời hè oi bức cũng vậy, đều cho tôi cái cảm nhận “giang sơn cẩm tú,” rằng đất nước mình đẹp quá, giầu quá, và hơn tất cả, “con người” quá. Tôi cảm nhận thực sự chứ không phải tưởng tượng. Một thí dụ để thấy cái chất “con người” đó, tức là cái chất “văn hóa’ đó, bàng bạc đâu đây nơi núi rừng Thanh Cẩm. Chúng ta có nghe trong nhạc Phạm Duy “… chiều khô nước mắt rưng sầu, tan thân thiếu phụ nát đầu hài nhi, …” Lúc còn là một tên thanh niên thành thị tôi vẫn băn khoăn về hai chữ “chiều khô”. Chắc chắn chữ “khô” ở đây không chỉ là “không ướt”. Chiều khô không chỉ là chiều không có mưa. Cho đến một buổi chiều, trên thành bể vữa anh Phạm Phú Minh và tôi cùng ngồi ngắm nhìn sông nước núi rừng Thanh Cẩm, chúng tôi cùng bật ra cảm nhận, buổi chiều hôm nay đúng là “chiều khô”. Quí vị ạ, quí vị phải ngồi, đứng nơi miền đất cao ấy của trại tù Thanh Cẩm, miền đất cao vượt ra khỏi trại giam con người, miền đất cho chúng tôi có được “tàng thức mang mang” mà mấy bức tường cao không câu thúc nổi, vào một buổi chiều mùa đông, quí vị  sẽ thấy đúng cái “chất khô” của Phạm Duy. Trời lành lạnh, càng lạnh khi ngọn núi đá vôi đã che mất ánh nắng đổ xuống trại Thanh Cẩm, nhưng không ngăn nổi nắng vàng vẫy vùng bên kia bờ sông Mã. Núi bên đó, rừng bên đó, và giải đất chạy dài theo bờ sông bên đó, vẫn chan hòa ánh nắng, một thứ ánh nắng nhẹ như tơ trời, có lẽ cũng đang phất phơ theo cơn gió thoảng từ mặt sông thổi lên. Cái “khô” từ nắng, từ gió, từ núi rừng, từ mấy mái lều hoang trên giải đất yên ắng bên kia sông, cái “khô” ngay cả từ mặt nước mênh mang kia, bủa lấy chúng tôi. Toàn bộ không gian đó đượm “chất khô” một cách bình thản, nhẹ nhàng, thâm sâu. Và phải chăng, cái “thời gian” đó cũng thấm đẫm “chất khô” của buổi chiều đông. Nên phải nói ở đây, Phạm Duy không chỉ là một nhạc sĩ “sống” quá nhiều, mà sự mẫn cảm của Phạm Duy còn đồng điệu được với đất, trời, non, nước, và với con người. Giờ khắc đó, buổi chiều hôm đó, lúc khoảng 4, 5 giờ chiều, lạ lắm, lòng tôi cảm được một chút buồn vương nào đó, một thứ quạnh vắng nào đó, một chút mênh mang nào đó, trong cái không gian bàng bạc phủ lên núi rừng sông nước. phủ lên nắng và gió bao la. Tôi cảm nhận được “chiều khô nước mắt rưng sầu”. Ngay cả khi nắng tắt dần đi, mấy cụm mây dầy xám dấu đi ánh mặt trời, thì cái không gian kia, cái ánh sáng chạng vạng kia, vẫn mang chút gì rất “khô” cho buổi chiều trên vùng sông Mã, Thanh Cẩm. Tôi tưởng rằng cái “chiều khô” này chỉ xẩy ra ở Miền Trung của quê hương chúng ta. Có lẽ không. Có thể một ai đó cảm được “chiều khô” trên “cánh đồng còn trơ cuống rạ” nơi nào đó của vùng đồng bằng bên bờ sông Đuống. Thưa quí vị, đã nói là “lẩn thẩn”, thí đúng nó là lẩn thẩn.

Có lần ngồi với cậu Tuấn Nhí trên thành bể vữa, tôi nói thực ra những tháng ngày này hầu như ai cũng thấy sự khổ đau đè chĩu lên xác thân và tâm trí, riêng tôi, vẫn thấy chan hòa niềm vui, vẫn thấy mình “sống”, có khi còn “sống” nhiều hơn trước đây. Tôi nói với cậu bé Phục Quốc, thí dụ những mẻ vữa mùa hè khiến tôi đổ nhiều mồ hôi. Những giọt mồ hôi trước đây vẫn chẩy trên khuôn mặt tôi, đôi khi đọng vào lưỡi tôi chút vị mằn mặn, vào những buổi trưa đi bộ, đạp xe đi học, đi giậy học, trên đường phố Sài Gòn. Lúc đó, tôi hoàn toàn thờ ơ gạt đi những giọt mồ hôi, gạt đi như không hề nhận biết cái thứ chất lỏng đó đang từ người tôi tiết ra. Ở Thanh Cẩm, trên bãi vữa gồm cát và vôi, những giọt mồ hơi rơi xuống thêm vào cái chất sền sệt kia để gắn liền những hàng gạch xây nên nhà tù, thì tôi cảm thấy thực sự từ trong con người tôi tiết ra, thực sự sức lực tôi đang được vận dụng, tôi thực sự “đang sống”, đang “nhất định sống” chờ đến ngày thoát khỏi nơi đây. Những giọt mồ hôi ở đây thực sự là đời sống của tôi, không phải những giọt mồ hôi thờ ơ trước kia. Tôi “sống” nhiều hơn thời tôi lang bang trên đường phố Sài Gòn. Tôi “sống ý thức” hơn. Và tôi nhận biết hơn những giọt mồ hôi. Và tôi ý thức rằng tôi đang mất muối, mất đường, tôi cần làm ít hớp nước trà nóng pha chút muối, chút đường. Và tôi tận tình thưởng thức cái vị chát đó, vị mặn đó, vị ngọt đó. Tôi đang hưởng thụ, tôi đang hạnh phúc, tôi đang sống.

 Tôi nói với Tuấn Nhí, hoặc một bạn trẻ nào đó rằng, thực sự chuyện chúng minh được ra ngoài trời làm việc là điều tốt. Người ta vẫn gọi lao động trong các nhà tù Cộng Sản là khổ sai. Điều đó đúng khi bọn cai tù đòi hỏi tù nhân phải làm quá sức lực. Tôi biết các bạn tự giác đi rừng lúc đầu rất cực khổ vì phải chặt rất nhiều cây tre, cây luồng, rồi còn phải vác lên dốc, xuống dốc, qua suối, xuyên rừng mang về trại nạp cho đủ. Nhưng rồi, hoặc do tình hình cởi mở hơn, thoải mái hơn, do “chỉ tiêu” ít ai đạt được, công việc cũng bớt đi. Đi rừng thành cái ưu đãi vì tù nhân dễ dàng “cải thiện” hơn, giao dịch dân làng thuận tiện hơn, … Nhưng nói chung, những tháng ngày ở Thanh Cẩm, trừ vài lần tôi quả thực thấy quá khổ, như lần vớt luồng của mấy tháng đầu tiên, còn bình thường, tôi thấy không có gì quá cực nhọc. Đừng phản kháng, đừng gây rối, đừng để ăng ten báo cáo tư tưởng chính trị, ít khi chúng tôi bị nhốt trên Nhà Kỷ Luật, Nhà Kiên Giam. Còn bình thường, bọn Quản Giáo, bọn Bảo Vệ có hò hét bắt làm việc liên tục, bắt khiêng vác nhiều cho đạt chỉ tiêu, nếu chúng ta chỉ làm chừng 50% “cái chỉ tiêu” đó, có khi ít hơn, thì cũng chỉ bị mang ra bôi bác hạch họe cho bọn công an nói sướng mồm, rồi cũng huề. Cùng lắm bị cho tên vào biên bản, bị cho tên vào báo cáo Ban Giám Thị, vài hình thức răn đe, rồi cũng huề. Nhất định phải sống để về, thì không gây cớ cho bọn nó hành hạ thể xác mình, mình sẽ tồn tại để về. Vậy thì, với tôi, cho tôi ra khỏi phòng đi làm việc tốt hơn nhốt tôi triền miên trong một căn phòng chật hẹp. Dĩ nhiên, bọn Cộng Sản có nhiều lý do để bắt tù làm việc, chứ không vì chúng nhân đạo. Nhân đạo không có trong tự điển bọn Cộng Sản, bởi chữ “nhân”, dù nhân là con người hay nhân là từ bi, nhiều phần không hợp với chữ “Cộng Sản”. Hai chữ “Cộng Sản” có thể đi đôi với chữ “nhân” ở trường hợp này, là chữ “bất nhân”. Ở đây, có thể hiểu “bất nhân” là “không thuộc về con người”. Tôi vẫn dùng nhóm chữ “bọn cộng sản”, cố tránh dùng “người cộng sản”. Có người tin khỉ, vượn có thể là thủy tổ loài người, nhưng khỉ, vượn không phải là “con người.”

Cũng tử “vùng đất cao” trong trại, từ cái thành bể vôi sót lại của thời kỳ chuẩn bị đón “lũ tù Miền Nam”, một buổi trưa tôi nghĩ về “tối hôm qua”. Ba kỳ rồi tôi không có quà gia đình gửi vào, nghĩa là gần 6 tháng liên tiếp. Không phải gia đình tôi không gửi, nhưng “bọn chúng” vẩn giả bộ là Bưu Điện làm mất quà để lấy đi một vài gói quà trong các đợt trại lấy quà từ Bưu Điện huyện Cẩm Thủy. Trong số 50, 60 người nhận được quà, độ hai hay ba người “mất quà” trở thành “có thể chấp nhận được.” Khi người này mất, lần sau người khác mất, cũng được thôi. Riêng mấy lần liên tiếp, tôi lọt vào số “người mất quà.” Nhưng bây giờ tôi không nói chuyện bị mất đó. Tôi nói chuyện hệ lụy của nó, là, “Tôi Đói!” Cũng có người sẽ thắc mắc, thế “bọn chúng” là ai mà lấy quà của tôi? Tôi cũng không nói chuyện này. Chỉ nói chuyện “Tôi Đói!” Tôi nói chuyện tôi đói, nói chuyện “tối hôm qua,” bởi vì đêm hôm qua, và vài đêm liên tiếp trước đó, cứ khoảng 1, 2 giờ sáng, tôi lồm cồm bò dậy. Trời lạnh, cơn đói không cho tôi ngủ. Khẩu phần của nhà tù Cộng Sản ở Miền Bắc không khi nào đủ cho một tù nhân. Về lượng không đủ, về chất càng gần “số không.” Ngay lúc đang ăn con người đã cảm thấy “đói”, giống như một thi sĩ  đã viết: Đang ôm nhau mà đã nhớ nhau ngày sắp tới. Vừa mới ăn xong, vẫn cảm thấy “đói”. Và ban đêm trời lạnh, cơn đói lùng xục cơ thể, lùng xục tâm trí. Cả cái bộ óc hầu như chỉ còn lại mấy sợi tế bào thuộc về cảm giác đói và no. Ngay cả tế bào cảm sự no cũng cùn nhụt rồi, chỉ còn mấy sợi “thần kinh đói’ mà thôi. Tôi lồm cồm bò dậy, ngồi đung đưa hai chân nơi mép sạp trên. Tôi đung đưa hai chân vì mấy sợi thần kinh đói đang gào thét, đang đòi hỏi, đang thuyết phục toàn bộ sự suy nghĩ của tôi. Tôi suy nghĩ, đắn đo chọn lựa, chưa đưa ra quyết định, nên đôi chân đung đưa chờ đợi. Bọn khốn bảo rằng tôi đang “tư duy.” Tư duy cái tiên sư nhà nó! Đói!

Tôi nghĩ rằng nếu bây giờ tôi leo xuống đất, đến một cái mùng nào đó, lay anh bạn tù đang ngủ, nói rằng cho tôi bát cơm nguội trong cái nồi để dưới “gầm giường”, tức là dưới gầm sạp dưới, chắc chắn anh bạn bảo tôi cứ tự nhiên, còn đưa tôi “cái gô” đựng món đồ kho, măng kho chẳng hạn, để tôi ăn. Và bạn ta lăn quay ra ngủ tiếp. Từ cái chỗ đong đưa đôi chân, tôi nhìn xuống thấy hằng hà sa số các nồi xoong, gô, hộp,  đủ thức đồ đựng hàng ngàn món ăn, dưới gầm cái sạp gỗ chạy dài hàng mấy cây số. Tôi biết chắc rằng, hầu hết chủ nhân các xoong nồi kia sẵn sàng chia sẻ với tôi những gì họ có. Ban ngày, mấy bạn rủ tôi ăn chung, tôi vẫn từ chối.  Bây giờ, có thể có vài bạn bực mình vì tôi làm mất giấc ngủ, trời lạnh, ngủ lại hơi khó, nhưng sẽ không có ai từ chối tôi. Chao ơi, ngay giờ phút đó, nếu tôi được ăn chút gì từ mấy cái nồi dưới “gầm giường” cho cơn đói tạm biến đi, không biết có thể gọi là tôi đã ở Thiên Đường hay Niết Bàn hay không. Cái cơn đói nó ghê gớm lắm, nó có hàm răng gậm nhấm, nhay nhay mãi mấy sợi thần kinh của tôi, có lúc tưởng nó có thể làm tôi điên tiết hét lên. Vài sợi thần kinh tự trọng, thần kinh “giữ vững” còn sót lại trong bộ óc tôi yếu ớt phản kháng. Không thể làm thế được, không thể làm cái việc tôi vừa mới “tư duy” là cứ chèo xuống đất, mở đại một cái nồi, kinh nghiệm cho biết nồi nào chứa cơm, lấy bát cơm ăn không cũng được. Sẽ không ai biết chuyện tôi “ăn trộm”. Hoặc giả, mình xin nhận là đã lấy, không xin trước vì sợ làm chủ nhân mất ngủ. Dằng co, suy nghĩ giữa đêm khuya. Tiếng ngáy đều đều của các bạn tù trong buồng. Có khoảng 70, 80 bạn tù tầng trên, tầng dưới. Trời lạnh, càng lạnh khi đói. Tôi cố nghĩ đến chuyện khác, về công việc chẳng hạn, cũng không xua nổi ý nghĩ về mấy nồi đồ ăn dưới gầm. Tôi nghĩ về gia đình, về vợ con, về Đẻ tôi. Được một lúc thôi, mấy món đồ ăn dưới kia lừng lững hiện ra, chiếm đoạt toàn bộ tâm hồn, trí óc, thể xác tôi. Quí vị ạ, “cái đói” là “cái đói”. Không thể là cái gì khác, không thể lấy cái gì thay thế nó. Cũng có bạn nói, tôi từng bị đói, chịu đựng, rồi sẽ qua đi. Không, ở đây khác lắm. Cái đói ở chốn tận cùng của xã hội, cái đói ngay trên lằn chỉ mỏng manh chia đôi sự sống và cái chết, khác lắm. Cái đói ở giữa lằn ranh của Thiện và Ác. Các bạn coi phim cao bồi chưa, cái cảnh một chàng cao bồi bị sợi dây thòng lọng choàng vào cổ đang đứng trên mình ngựa. Chỉ cần con ngựa phóng đi là chàng rơi xuống, mất điểm tựa, là cổ bị thắt. Cái đói nơi nhà tù Cộng Sản là cái thòng lọng đó.

Cuối cùng, tôi thu hết “sức lực”, quyết định chui lại vào mùng, vào mền, và cố dỗ giấc ngủ. May quá, tôi thắng được nó, “cơn đói”. Đó là “may’. Không phải là tài, giỏi. Vậy thì, mấy đêm đó cũng là những gì tôi “lẩn thẩn” vào những buổi trưa Thanh Cẩm. Bọn Cộng Sản có mấy thứ vũ khí để kiềm chế nhân dân, kiềm chế xã hội, là công an trị, là thông tin bịp bợm, là tạo nghi ngờ giữa những con người, và kiểm soát bao tử con người. “Cái đói” là vũ khí khủng khiếp của bọn Cộng Sản. Gọi là lẩn thẩn, thực ra tôi “nghĩ đúng” về bọn Cộng Sản. Nhân đây tôi muốn nói với các bạn trẻ đang say sưa lý tưởng Xã Hội Chủ Nghĩa rằng, khi nào các bạn bị bọn nó bỏ đói, lúc đó các bạn sẽ biết lý tưởng đó ra làm sao. Nhân dân khổ lắm, các bạn ạ, khi sống với bọn cầm quyền Xã Hội Chủ Nghĩa, với bọn Cộng Sản.

Cũng như những phần khác trong “Tự Sự Đời Tôi”, thường tôi không “kể hết” tất cả ở từng gia đoạn cuộc đời. Một số chưa kể vì không muốn gây tác hại cho người khác, một số chưa kể vì còn băn khoăn có nên kể ra không, có đáng kể ra không, một số chưa kể vì tôi xấu hổ, chưa đủ can đảm kể hết cái xấu, cái bậy của mình, ngay cả nhiều điều tôi không nghĩ là xấu, là bậy, nhưng dưới con mắt bình thường của xã hội xưa nay, bị coi là xấu, là bậy. Chuyện “chưa kể” không ảnh hưởng gì tới tính “thật” của câu chuyện. Chưa kể không phải là nói dối, lừa bịp, bịa đặt. Có thể tôi nhầm, nhưng không sạo.

Lại thêm một thắc mắc: “Sạo Ke,” (hay Xạo Ke), chữ Ke ở đây nghĩa

Nhà Tù Thanh Cẩm

Xin nhắc lại, rất nhiều câu nói trong suốt tự sự này không để chữ in nghiêng hay trong ngoặc kép, vì tôi chỉ thuật lại ý của câu nói, không nhớ được nguyên văn câu nói.

Chuyến Đi Biển Thứ 3

Chúng tôi, bọn tù từ trại Long Thành, được dồn xuống khoang hầm của tàu Sông Hương. Tôi vẫn tin con tàu đó mang tên Sông Hương, nên cứ gọi tên đó cho chuyến hải trình này. Và tôi còn tin thêm một điều nữa, tàu này trước khi đón tù từ Nam ra Bắc, đã chở than đá từ Bắc vào Nam, vì chúng tôi chen chúc nhau ngồi, nằm trên một tấm thảm toàn là vụn than trải khắp khoang tàu, còn bụi than bám đầy thành tàu.

Đến lúc này, đời tôi đã qua 3 cuộc hải trình.

Chuyến đi biển đầu tiên vào năm 1954, từ Bắc vào Nam. Chuyến thứ hai trên chiếc Hải Vận Hạm HQ 5, từ Sài Gòn ra Trường Sa năm 1974. Chuyến thứ ba này từ Sài Gòn ngược lên Hải Phòng, cuối năm 1976.

Chuyến lênh đênh đênh trên biển đầu tiên tôi còn bé, chưa cảm thấy gì ngoài sự kinh ngạc con tàu quá đồ sộ. Chuyến thứ hai, tôi cảm được tiếng nhạc và lời ca của Phạm Duy: “Ra khơi, thấy lòng phơi phới, …” Chuyến thứ 3 này, tôi giải tỏa được một phần thắc mắc từ lâu, người ta chở súc vật trên tàu như thế nào.

Khi nhóm Long Thành xuống đến tầng hầm chở than của tàu Sông Hương, các bạn tù từ trại nào đó đã nằm la liệt trong khoang tàu. Không rõ là con tàu này lớn thế nào, nhưng chở số tù, tôi nghĩ, vào khoảng từ 1000 đến 1200 người, có thể hơn nữa, vì khi lên ở bến Hải Phòng, tôi nhớ đông lắm, gấp hàng 7, 8 lần con số từ Long Thành (195 người.) Như thế có nhiều nhóm tù trong chuyến ra Bắc này. Có lẽ các bạn khác từ Miền Tây, Miền Đông, hoặc từ các trại giam như “Khám Chí Hòa”, các trại tù do quân đội cộng sản giam giữ.

Rất đông nên có người ngồi dựa thành tàu, không có chỗ nằm. Tôi may mắn được mấy bạn thu xếp cho một chỗ nằm vì suốt cuộc hành trình, tôi say sóng, lúc tỉnh, lúc mê. Bạn Trần Văn Chung lại phải săn sóc tôi, lo lãnh đồ ăn, thức uống để ép tôi ăn uống, và tìm đâu được thuốc say sóng cho tôi uống. Tôi có nghe tiềng thì thầm về ai đó tự tử. Trí óc lơ mơ, không chắc tôi nghe đúng. Sau này, sự việc dồn dập, cũng quên không hỏi lại về chuyện đó. Tôi cứ nằm bệt như vậy, không thải ra ngoài thứ gì cả nên cũng đỡ phải trở dậy. Lúc tỉnh táo, nghe được tiếng mọi người kháo chuyện, lúc này đang ở đâu, có lẽ ngang với Nha Trang, rồi Đà Nẵng, rồi ra tới “địa phận Miền Bắc”, trên vĩ tuyến 17, tức là đã ra khỏi đất nước “mình”, quê hương “mình”. A! Chữ “mình” này quan trọng lắm, thân thiết lắm, quí vị chưa qua cảnh “tù Miền Bắc”, chưa cảm nổi cái chữ giản dị này đâu. Chúng tôi đã không còn sống giữa “dân mình”, không còn được dân mình bảo bọc. che chở.

Cũng có lúc tôi tỉnh dậy vì những tiếng la oai oái. Đại khái, kéo lên từ từ thôi, đổ hết xuống đầu tôi rồi đây nè, cho xin nước để rửa đi. Đó là, cứ lâu lâu, có vài bạn tù lực lưỡng được cho lên mấy tầng trên, dòng dây xuống để kéo mấy “thùng vệ sinh” lên, rồi mang đổ xuống biển. Đôi khi, gặp mấy thùng đầy gần tràn những thứ của nợ, thế là, dù người kéo có khéo đến mấy thì cũng có những rơi rớt sóng sánh,  chất thải được trả lại cho lũ sinh vật bên dưới. Nhóm Long Thành tránh được tai vạ đó vì khi xuống đến tầng hầm thì các bạn nhóm cũ đã chiếm lãnh phần khoang tàu có mái che được mở ra, có thêm khí trời, đôi khi vài cơn gió thoảng. Một chút không khí, một chút gió nhẹ, quí lắm ở nơi chốn gần như bít bùng. Nhưng chính cái chỗ mái hầm mở ra cũng là nơi thòng xuống ngày hai bữa đồ ăn, nước uống. Phần ăn, phần uống, có lệnh cõi trời bên trên ban xuống là bao nhiêu, nhưng thế nào ở cõi địa ngục a tì cũng xuy xuyển chút ít. Chẳng đáng gì, say sóng quá, mấy ai thèm lưu ý chuyện vụn vặt. Khổ một nỗi, cái lỗ cổng thông với cõi trời bên trên kia cũng là nơi đưa đi chất thải. Về sau rút kinh nghiệm, khi mấy thùng của nợ được một nửa, chậm lắm là 2 phần 3, là đã có tiếng kêu xin kéo thùng. Lại những tiếng ĐM đặc trưng của Miền Bắc, của Thủ Đô, của “đất ngàn năm văn vật”, trước khi một, hai anh tù cao lớn, to con được “thăng thiên” Các anh kể lại cảm giác tuyệt vời khi đứng ở cõi trên, Bao nhiêu là không khí, bao nhiêu là gió, và biển thì mênh mông. Nghe các anh kể, dù giữa cơn say sóng lơ mơ, cồn cào, khốn khổ, tôi bỗng nhớ lại rằng trời đất vốn rất mênh mông. Cũng từ đó tôi thêm sức chịu đựng cái nghiệt ngã của say sóng với ý nghĩ để tự an ủi rằng, lịch sử thì dài dằng dặc, xá gì mấy ngày vật vã trong cái thùng nhếch nhác bụi than này. Rồi sẽ qua đi mọi chuyện đời nặng, nhẹ.

Sau này, vào năm 1979, khi các vị linh mục Công Giáo về trại Thanh Cẩm, tôi biết rằng có thể cùng chuyến tàu chúng tôi đi Bắc, có Giám Mục Nguyễn Văn Thuận.

Cũng từ các anh kéo thùng, lớp linh hồn đọa đầy dưới này mới có chuyện bàn tán rằng tầu đang chạy qua vùng nào của giải đất hình chữ S. Lạ lắm, biết là mình sẽ bị đưa ra Bắc, đang bị đưa ra Bắc, nhưng tâm tưởng cố cưỡng lại, nuôi mối hy vọng hão huyền rằng không ra hẳn ngoài Bắc, còn được ở với dân chúng Miền Nam. Đã học rằng đất nước mình là một giải đất hình chữ S, chạy từ Bắc vào Nam, mà sao bây giờ vẫn cố cưỡng lại định mệnh phải lưu đầy nơi miền bắc của đất nước mình. Bị nhốt trong nhà tù ở Miền Bắc tức là vẫn được ở tại quê hương Việt Nam, nhưng tôi tưởng như miền bắc này là vùng đất ở mãi Tây Bá Lợi Á, hoặc ở tận Châu Phi. Những ngày ở Long Thành, loa phóng thanh ồn ào chuyện “Thống Nhất.” Thống nhất ở đâu nhỉ? Thống nhất cái gì nhỉ? Lòng tầu lại đụng vào cơn sóng, lại nhộn nhạo trong bụng, trời đất chênh vênh, trí tưởng tôi chìm dần, chìm dần trong tiếng loáng thoáng mơ hồ của Trần Văn Chung, Bí, dậy ăn tí đi này, …

Thời lượng của cuộc hải trình từ Nam ra Bắc với tôi rất lãng đãng. Nằm bẹp suốt, tôi không rõ là chuyến đi mất bao lâu. Có lẽ là 3 đêm 2 ngày, hoặc 3 đêm, 3 ngày. Tôi chỉ nhớ rõ là lên Tàu ở Tân Cảng, Sài Gòn vào buổi tối, xuống tàu ở cảng Hải Phòng vào lúc quá nửa đêm. Tôi xin trích đoạn ngắn tôi viết trong bài “Những Mảnh Vụn”, đăng trong Đặc San Thanh Cẩm năm 2012, coi như tôi đang kể tiếp chuyện ở cảng Hải Phòng.

“Đêm ngày 5, rạng ngày 6 Tháng 12, chuyến tàu Sông Hương chở một số tù Miền Nam đến cảng Hải Phòng, trong đó có số tù từ trại Long Thành. Tất cả được lùa lên bến cảng như một đoàn quân ma trong ánh đèn leo lét. Một số phụ nữ sắc phục công an tươi cười, niềm nở đến thăm hỏi đoàn tù đang ngơ ngác, âu lo, lóng ngóng theo tiếng thét xếp hàng của những công an canh tù. Những nữ công an (công an gái, theo cách gọi Miền Bắc lúc đó) nói các anh yên tâm, sẽ được đưa về những nơi đầy đủ tiện nghi học tập ít tháng rồi sẽ được về với gia đình. Họ vẫn sợ những cuộc nổi loạn dọc đường cho nên thu xếp tất cả, từ những phụ nữ niềm nở đón tiếp, đến các cảnh ném đá của trẻ em dọc đường, … để cho tù phải e dè nếu có âm mưu nổi loạn. Đều là dối trá, lừa gạt. Những phụ nữ kia chắc có người tưởng thật, những trẻ em kia chắc nhiều em căm thù thật theo nếp tuyên truyền lếu láo.

Hai tay công an đứng ngay bên chỗ tôi ngồi xổm đang xoi đèn bấm lên một tờ giấy nhầu nát. Họ châu đầu vào nhau cãi vã. Qua ánh đèn, nhìn từ dưới lên tôi thấy những nét chữ nguệch ngoạc. Danh sách thuyên chuyển tù nhân chỉ cần “giản dị” như vậy, y như hồi còn ở trong rừng. Giọng nói the thé của miền Thanh Hoá cự rằng: Sao bảo Long Thành đưa ra 196 thằng mà đếm đi đếm lại chỉ có 195? Giọng Miền Nam trả lời cộc lốc: Thì chắc là có thằng nào sót lại. 195 thì nhận 195 cho rồi. “Đồng chí” công an Thanh Cẩm nhất định không chịu, thiếu một người về trại, sau này lấy đâu bù cho Bộ. Tôi thấy “đồng chí” Miền Nam chạy đi đâu đó một hồi rồi dắt đến một anh tù cao lêu khêu giao cho “đồng chí” Miền Bắc.  Anh Nhãn, không nhớ rõ họ gì, Nguyễn văn Nhãn hay Phan văn Nhãn, thuộc đám tù từ Miền Tây, bỗng dưng được tách ra cho nhập đám Long Thành để đi về Thanh Cẩm. Không rõ tay công an Long Thành điều đình sao với cánh Miền Tây và đám trại khác sẽ nhận lãnh, để móc được anh Nhãn ra.”

Có hai điều vui vui ở đoạn trích trên: Nhóm Long Thành xuống tàu ở Tân Cảng gồm 195 người, lên đường từ Hải Phòng về trại Thanh Cẩm lại có 196 người theo đúng danh sách thông báo. Hay là mấy “đồng chí công an” ở Long Thành giờ chót giữ lại một người khỏi đi Bắc vì “bác hồ” trên tờ giấy bạc nói “giữ thằng đó lại?” Dám lắm, cứ cung cách giải quyết lấy thêm một “tên tù” từ đâu đó bỏ vào cho đủ số của Long Thành thì chỉ mấy anh “Miền Nam” mới làm được. Mấy “đồng chí Miền Tây” xuề xòa, cho mấy “hình bác hồ” làm kỷ niệm là xong hết. “Dễ mà!” Cái thằng tôi may mắn chứng kiến cuộc bàn giao kiểu rừng rú mới biết chuyện, ngay chàng Nhãn cũng chẳng hiểu vì sao bị đưa vào nhóm trại Thanh Cẩm. Chàng đồ rằng cái lon trung sĩ cảnh sát của chàng nặng ký lắm mới bị đưa vào đám “cấp lớn.”

Nhớ lại, cuộc bàn giao mất gần cả tiếng đồng hồ, giữa hai giọng nói, một giọng như qua quít cho xong, một giọng “khẩn trương và nghiêm túc”. Chàng nghiêm túc đi lên đi xuống hàng tù ngồi xổm dưới đất, đếm đi đếm lại vẫn không đúng con số vừa ý, cương quyết không nhận. Tôi nghĩ bụng, kiểu này biết đâu bọn nó tống mình về lại Miền Nam cũng nên. Dĩ nhiên biết là mình nằm mơ lên cung trăng còn dễ hơn, nhưng cứ mơ trở lại “quê mình” cho bớt phần tuyệt vọng (Vậy thì tôi ra đời ở tỉnh Bắc Ninh, Bắc Việt, nhưng bây giờ lại thấy “quê mình” là ở Sài Gòn). Chàng xuề xòa cằn nhằn, 95 hay 96 cũng “dậy” mà, có nhiêu nhận nhiêu cho rồi… Khi một chàng trong bọn công an Long Thành biến đi, mọi chuyện ngưng đọng, tôi mới có dịp nhìn đến đám đàn bà con gái mặc quần áo công an đứng xa. Như đoạn trích trên kể lại, bọn công an gái đang đợi bàn giao xong sẽ đến thi hành nhiệm vụ giả nhân giả nghĩa.

Gần sáng cán ngố mới bàn giao xong tù. Nhìn quanh bãi cảng mấy nhóm tù khác đã biến đi rồi, chỉ thấy công nhân bến cảng bắt đầu làm việc. Chúng tôi vẫn ngồi ủ rũ đợi xe đến đón. Có liếng lầu bầu, mấy thằng cha  mê mải ở đất Thủ Đô, sáng ra chắc lại lòng lợn tiết canh, be rượu. Gần trưa rồi chưa thấy xe đâu. Họ nói về mấy tay công an của trại nhưng đêm qua được ở Hà Nội, chờ nhận đoàn xe thuê của công ty nào đó đưa chúng tôi về Thanh Hóa. Rồi xe cũng đến. Chúng tôi được lệnh lên xe. Những chiếc xe hàng bóng loáng, hầu như mới toanh, ghế ngồi còn tươm tất, sạch sẽ. Các đồng chí Miền Bắc vào Nam theo cái kiểu “Miền Nam nhận họ, Miền Bắc nhận hàng”, lựa toàn những hàng tốt, mang hết về Bắc. Cái bọn phồn vinh giả tạo lại có toàn những thứ sản phẩm không giả chút nào.

Đường về Thanh Cẩm

Bây giờ tôi không nhớ đoàn xe chở tù của trại Thanh Cẩm gồm mấy chiếc, có lẽ là 4. Có vẻ như mỗi xe chứa 56 chỗ ngồi cho hành khách, không kể chỗ ngồi của tài xế và phụ lái ở băng trên cùng. Ở dưới đường nhìn lên, tưởng đây là những xe chở khách bình thường, hoặc chở các nhóm công, nhân viên đi “tham quan”, khó lòng nhận ra mấy chiếc xe đẹp đẽ, tươm tất kia đang chở tù nhân. Có lẽ “tù Miền Nam” lúc đó trông còn tươm tất, có khi còn hồng hào, sáng sủa hơn bọn cán bộ ốm đói của Miền Bắc. Sự thực, bọn chúng tôi cứ hai người ngồi hai ghế sát nhau bị còng chung một còng số tám. Lâu lâu lựa chỗ vắng vẻ, mấy tên công an cho xe ngừng, cả bọn xuống xe đi tiêu, đi tiểu, vẫn hai người còng chung. Anh nào đại tiện cứ việc “ị đồng”, anh không ị vẫn phải chôn chân đứng cạnh, ngắm trời đất bao la, “gửi gió cho mây ngàn bay”. Không biết trong các tác phẩm hội họa của Việt Nam, có “họa sĩ nhân dân” nào vẽ cảnh đó chưa, một vị ngồi xổm, một vị đứng ngay sát cạnh làm thơ?

Xe chạy được chừng tiếng đồng hồ, một anh tù được tháo còng, xách một thùng nước, tay cầm vài cái ly nhựa, múc nước chuyền cho bạn tù khác uống. Khoảng quá trưa, đợt đái, ị đầu tiên. Cùng lúc đó, tôi nghe tiếng bọn công an lao xao hỏi nhau, sao chưa thấy mấy đứa đi ô tô con mang gì đến. Chắc là mấy tay sĩ quan chỉ huy “cuộc hành quân” đi xe nhỏ riêng. Họ có nhiệm vụ đi trước mua đồ ăn thức uống cho đoàn, cả tù, cả công an. Tình cờ tôi ngồi xe đầu mới được nhìn, được nghe mấy hoạt cảnh cán ngố ra tỉnh. Vài anh công an người Mường hay Thổ gì đó của vùng rừng núi, ngay lúc đó tôi chưa biết miền thượng nào, lần đầu tiên ra tỉnh thành. Hải Phòng vốn là xứ cảng, gần gũi văn minh mấy nước Liên Sô vĩ đại, Ba Lan, Tiệp Khắc “hạng nhất” Âu Châu, nên lắm điều kỳ lạ. Chạy qua Hà Nội, Thủ Đô Lương Tâm của thế giới, lại càng hiện đại nhất hoàn cầu. Cái gì mấy anh cũng hỏi nhau, anh nào hơi thành thạo, tha hồ nói thánh, nói tướng. Cái chuyện “bánh tây” chẳng hạn. Hành quân “đi đón” mang theo cơm nắm muối vừng (tôi đoán mò vậy.) Hành quân “chở tù về” có ngân khoản, mua bánh mì kẹp vài miếng mỡ bên trong, trở thành của lạ thế gian ít có. Chỉ đất nước ta mới giầu có thế này. Đó là cuối năm 1976, cán ngố miền Bắc chưa được vào Nam nhiều, anh nào vào rồi cố ở lì, không chịu về cho thiên hạ “thay phiên.” Nhìn, nghe cảnh đó, tôi nghĩ bụng, thế thì “bỏ Mẹ” mình rồi, bị nhốt giữa bọn “mán” này, miếng mỡ lầy nhầy cũng quí, chỉ còn con đường tiêu tùng. “Làm thầy thằng ngu” đã khốn nạn. lại còn làm “tù” của mấy thằng ngu, không chết cũng thành đần độn, giở hơi.

Sau này tôi nghe chuyện tù Miền Nam bị ném đá. Đoàn tù chúng tôi không bị như vậy. Lúc chiều tà, xe lại ngừng cho tù xuống tiêu tiểu. Mấy tay công an đã chặn sẵn hai đầu đoàn xe. Có mấy người dân loay hoay xa xa, bọn trẻ em trên cánh đồng, tất cả đều đứng yên chỉ trỏ. Có lẽ nhìn thấy lấp lánh chiếc còng sắt, họ mới biết chúng tôi là tù Miền nam. Nhưng không ai phản ứng. Có thể vì chúng tôi đi xe còn mới toanh, tổ chức cho ném đá thì hư hại xe. Đoán mò vậy thôi. Hoặc chuyện ném đá thành trò cũ rồi, không cần tái diễn. Từ Hải Phòng, sau này tôi biết hầu như các nhóm tù khác thường đi xe lửa về trại tù ở mạn Bắc. Nhóm chúng tôi chạy ngược về Nam, Thanh Hóa, nên được đi xe “ô tô” chở hành khách.

Nhá nhem tối thì đoàn xe đến cầu Long Biên. Thằng Bắc Kỳ trong tôi thực sự bồi hồi, cảm động. Từ trên xe nhìn loáng thoáng xuống mặt cầu, thành cầu, vẫn y như cách đây hơn 20 năm về trước. Thuở nhỏ, Đẻ tôi mấy lần đưa tôi qua cây cầu lẫy lừng này của Miền Bắc, của Hà Nội Cố Đô. Lúc thì ngồi trên xe ca (xe đò), lần cuối cùng đứng trên xe lửa đi Hải Phòng để vào Nam, tôi vẫn tò mò xem xét cây cầu vì nghe danh tiếng của nó. Nay trở lại, không một mảy may thay đổi. Thành cầu sắt rỉ sét, vẫn vậy. Mấy trạm “bót” nhỏ tí hai bên đầu cầu, vẫn một màu vôi trắng bạc thếch, bẩn thỉu. Xe bò từng chút, gập ghềnh, dón dén, như sợ cây cầu già nua đau xương đau cốt. Xin đọc “Thanh Cẩm, Một Chặng Đời Tôi” để thấy rằng “Xe qua từng dốc cầu cao, gập ghềnh nhịp gỗ, lao xao gió lùa”.

Bấy giờ là đầu tháng 12, cuối thu rồi, đầu đông rồi, gió lạnh bắt đầu từng cơn trên sông Hồng.  “Hồng Hà … mênh mông …  Hồng Hà trôi xuôi, đưa nước trên ngàn về khơi …”. Lời bài hát của Đỗ Nhuận, âm điệu thiết tha hào hùng của Đỗ Nhuận day dứt trong tôi. “Du Kích Sông Thao”, một thời tôi yêu thích bài hát vì hai chữ “Hồng Hà”. Bây giờ, nắng chiều đã tắt, không còn “chia nửa bãi” nữa, Hồng Hà sao quá thê lương, quá lạnh lùng. Thằng Bắc Kỳ là tôi trở lại Miền Bắc, trở lại cố hương, sao lại đớn đau, buồn bã thế nhỉ. Vì mình? Buồn lâu rồi, nhưng quá buồn thương cho vùng đất thân yêu này, cho con sông thân yêu này, cho dĩ vãng huyền sử này. Vua Lý Thái Tổ trao kiếm nơi đây cho Rùa Vàng. Bây giờ cây kiếm dựng nước đó ở đâu, sao không giữ nước cho dân tôi. Tôi ôm tâm trạng sầu thảm, tủi, nhục gặp lại “Hà Nội, cố đô yêu dấu, nằm soi bóng bên giòng sông Nhị”. Tôi không nhớ câu này trích ở đâu ra, nhưng nhớ từ bé đến bây giờ.

Xuống cầu, ngoặt về bên phải (hình như vậy), chạy qua Bến Nứa ngày nào nhộn nhịp, nay có vẻ hoang sơ hơn. Có lẽ là buổi tối, khách dùng xe đò từ Hà Nội đi các tỉnh không còn. Hà Nội vẫn dáng hình như vậy, đường phố chật hẹp, lấp lánh ánh đèn, nhưng ủ rũ hơn thời nào, sơ xác hơn thời nào trong tôi. Chiến tranh kết thúc rồi, của cướp từ Miền Nam mang về đây cũng nhiều rồi, sao nhà cửa vẫn như hai chục năm trước, nước sơn, nước vôi không rõ vì đèn xe loáng thoáng chiếu vào, nhưng nét xộc xệch vẫn hiện ra từ các khung cửa sổ, cửa ra vào, từ cả những tấm phản, chiếc bàn kê ngay giữa nhà cho tôi cảm tưởng chúng im lìm, buồn bã dưới ánh đèn tù mù vàng ệch.

Chạy ven Hà Nội chừng nửa tiếng, xe rơi vào một không gian âm u. Con đường trước mặt tối tăm. Lác đác nhà hai bên đường, không biết có nên gọi những mái tranh kia là nhà không, cũng tối tăm. Cả một chặng đường dài dằng dặc chúng tôi chỉ bắt gặp chừng một, hai xe hơi ngược chiều, vài người đi bộ nép sát vệ đường, vài chiếc xe đạp lờ mờ trong đêm. Có lẽ chúng tôi đã nhập vào Quốc Lộ 1 nối liền Hà Nội – Sài Gòn. Xe chúng tôi đang chạy trên mấy chặng đường nối tiếp những phố quận, thị trấn, Khoảng một hai tiếng đồng hồ lại gặp vài chục ngôi nhà tụ nhau từng nhóm, đó là những huyện lỵ, nhưng không rõ tên, hoặc thuở xưa tôi chưa từng nghe đến. Duy có lần ánh đèn xe quét qua tấm bảng xộc xệch ven đường, tôi nhận ra hai chữ “Phủ Lý”. Ngày xưa, Đẻ tôi đưa tôi vào tá túc một đêm ở nhà ai đó gọi tôi bằng chú. Mấy chục năm sau từ Mỹ trở về, tôi biết là ai, khi tôi vào thăm một căn nhà cách quốc lộ chẳng bao xa. Cuộc đời chúng mình có nhiều điều kỳ lạ như thế. Một đêm, cườm tay lạnh ngắt chất thép cái còng, kẻ tù nhân ngồi ườn oài buồn bã trên một chiếc xe đò, chạy qua nơi phố lỵ biết là ngày xưa có nhà ai đó quen mình. Ai đó, đang yên giấc ngủ trong một ngôi nhà nào đó, bỗng thức giấc vì tiếng xe chạy ì ầm, chiếc nọ tiếp chiếc kia ngoài đường nhựa. Người thức giấc lại chìm vào giấc ngủ, không biết có người họ hàng quen biết đang lướt qua ngoài kia để đi vào rừng sâu núi thẳm, dễ dàng bỏ lại tấm xương tàn nơi đó. Cũng vì vậy, tôi thường ngẫm đi ngẫm lại, để thấy rằng, cuối cùng, “có gì đâu!” Lại nổi cơn triết lý vô duyên.

Tôi chìm vào giấc ngủ bao lâu không biết, chắc độ chừng hai, ba tiếng đồng hồ. Tỉnh dậy vì nghe tiếng lao xao. Cả một khu đèn đuốc rực sáng. Rồi nghe tiếng người ta trao đổi, tiếng anh tài xế hỏi, cứ để bọn nó ở trên xe hở? Phải! Cho xuống đi bộ qua thì biết bao giờ mới xong. Có tháo tay nó ra không? Rách việc! Và tôi nhận ra một điều đặc biệt, không còn anh công an nào trên xe. Băng trên chỉ có tài xế. Nhìn ra ngoài, xe đang chúc đầu xuống dốc. Nhìn xa hơn, sóng sông phản chiếu ánh đèn lấp lánh. Xa lắc, nhóm đèn sáng rực như bên này, có lẽ là đầu cầu bên kia. Xe chúng tôi đang chậm chạp bò qua cây cầu nối hai bờ sông. Tôi ép sát đầu vào cửa kính, cố nhìn xuống ngay sát thành xe. Ánh sáng đèn ở bến đủ cho tôi thấy xe đang nhích từng chút trên mặt nước, chòng chành. Không thấy mặt cầu đâu. Cầu nổi, nhưng lúc đó mặt cầu chìm dưới nước. Tài xế chạy xe theo mấy tấm bảng trắng nhỏ có lẽ báo cho biết giới hạn của cây cầu. Mùa đông giá lạnh. Trời đêm giá lạnh. Gió sông giá lạnh. Nỗi sợ hãi ngấm ngầm trong tôi giá lạnh. Nếu xe lọt xuống sông thì sao đây? Làm sao mở kính xe để thoát ra. Thoát ra rồi, hai đứa còng tay vào nhau, sẽ ra sao đây? Mười mấy năm rồi tôi không đi bơi, biết có giữ mình nổi được không. Có lẽ chiếc xe bò mất gần thế kỷ mới lên được bờ bên kia. Tôi nghe anh tài xế thở ra. Chắc anh bây giờ mới hoàn hồn. Anh nói với tên công an nhảy lên ghế băng trước, tao chưa bao giờ chở khách đi đêm qua cái cầu Hàm Rồng này, lại còn để ngồi trên xe. Trong cuộc chiến tranh, tôi đã nghe đến tên cây cầu Hàm Rồng nhiều lần. Không ngờ có ngày mình chui vào cái hàm con rồng ma quái trên dòng sông Mã. Cầu Hàm Rồng bằng sắt đã bị trúng bom trong chiến tranh, chỉ còn trơ vài nhịp cầu nghiêng ngả, chưa được sửa chữa. Xe cộ  phải chạy trên cây cầu nổi. Ban đêm, nước sông dâng cao mấp mé mặt cầu. Bọn Công An áp tải tù có xuồng máy đưa qua sông.

Trước khi ghi tiếp, tôi phải ngừng lại ở hai chữ “rách việc” trên kia. Tôi là tên Bắc Kỳ chính cống. chắc là có “lai” đôi chút ngôn ngữ của Miền Nam, trước đây chưa từng biết đến hai chữ “rách việc”. Sau này, lưu trú ở Thanh Hóa hơn 7 năm cũng chưa nghe, hoặc là có nghe thoáng qua mà không hiểu nên nó không chui vào cái đầu chứa toàn óc bò. Có lần từ Mỹ về sau năm 2000, trong câu chuyện với vài vị văn chương chữ nghĩa, quả thực có nghe 2 chữ cao quí trên, định hỏi ý nghĩa, sau đó lại quên. “Việc” mà “rách” thì lạ nhỉ. Tìm trong “Đại Từ Điển Tiếng Việt” của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, trang 1189, có: “Rách việc tt. Chỉ thêm rắc rối, phiền phức đến công việc của người ta thôi”. Thế mới biết, óc bò, còn phải học nhiều.

Tôi không nhớ rõ xe chúng tôi có chạy qua Thành Phố Thanh Hóa hay không. Lúc đó đã quá nửa đêm, chừng 2, 3 giờ sáng. Rồi trời sáng hơn, bắt đầu nhìn được cảnh vật chung quanh, tôi nhận ra là xe mình đang nhịp nhàng như theo sóng sông, với những tiếng rên siết từng hồi, bánh xe từng bước lăn theo con đường thiên lý lồi lõm ổ gà. Chúng tôi đang đi giữa núi rừng. Mấy chàng công an trẻ ôm cây súng dài gật gù theo nhịp “sóng”, chợt thức giấc, hỏi nhau, sắp tới chưa. Qua câu chuyện của họ, tôi hiểu rằng trại giam chúng tôi sẽ tới thuộc tỉnh Thanh Hóa, nhưng cũng cách tỉnh lỵ cả trăm cây số, và xe sẽ phải nhàn nhã ngao du mất 4 hoặc 5 giờ đồng hồ. Những chặng đường sau đó cho thấy con số 4 giờ kia là có lý. Có những lúc tôi tưởng xe bỏ đường cái, chạy vào đất rừng, nhìn ra phía trước chỉ thấy lờ mờ như xe đang chạy theo lòng suối cạn. Những cơn mưa tháng hè cuốn đi đất đá trải đường, bây giờ chưa tu sửa được. Đầu xe có lúc ngóc lên cao, có lúc chúi xuống thấp, nhấp nhô theo khe suối, sườn đồi, đôi khi chênh vênh bên bờ vực sâu hút. Tôi không hiểu nếu có xe chạy ngược chiều, làm sao họ tránh nhau. Chẳng gặp xe nào cả, ngoài vài chiếc xe trâu khệnh khạng lê từng bước chân trâu. Giữa núi rừng, tiếng máy xe chúng tôi hẳn phải vang to, nhưng tài xế cứ bóp còi inh ỏi như áp đảo tinh thần chàng “lái’ xe trâu. Hay đó là cách “nói chuyện” với anh trâu già? Hay bóp còi cho chính chàng tài xế tỉnh ngủ? Cũng có thể là tiếng còi “tự hào”, xe của tao là xe ô tô đây!

Có lúc chúng tôi thấy xa xa mấy dẫy nhà dài trong khu hàng rào tre nứa. Bao quanh bên ngoài là những thửa ruộng, chỗ thấp, chỗ cao. Chàng cán bộ trẻ theo xe giải thích đó là Trại giam Lam Sơn. Hàng trăm người cùng màu áo quần xanh xám là phạm nhân lui hui trên đồng. Ở đây đất thịt, họ còn cấy được lúa. Bắt đầu thấy rải rác nhà sàn. Nhớ lại Phạm Duy, mái nhà sàn thở khói âm u. Không nhạc sĩ nào “sống” được nhiều như ông ta, nên gia tài âm nhạc, lời ca của ông là một thiên sử hình ảnh nhân văn, xã hội. “Tiếc rằng” ông không kinh qua nhà tù cộng sản. Về già, ông mới có cơ hội “trải nghiệm” (chữ nghĩa quê một cục) nhà tù lớn là đất nước Việt Nam, để cho gần trăm triệu người dân Việt được nghe nhạc của ông, được biết đến một gia tài văn hóa.

Sương mù, khí rừng khí núi lạnh  buốt. Có lúc trời lấm tấm mưa, hay là “hạt móc” từ tàn lá bên đường rơi xuống? Nhưng khi về đến “đất trại”, nắng đã lên khỏi “một con sào”. Lâu lắm mới lại nghe mấy chữ quê hương đó trong câu nói hân hoan của chàng công an trẻ được trở về nơi trú ngụ quen thuộc. Cái quen của chàng là cái lạ của tôi. Nỗi hân hoan của chàng là nỗi bâng khuâng của tôi. Nói “bâng khuâng” là cách dùng chữ văn hoa cho bớt phần bi thảm. Những gì “khủng khiếp” chờ đợi tôi ở nơi thâm sơn cùng cốc này? Tôi sẽ tồn tại được bao lâu, gia đình tôi có tìm được nắm xương tàn của tôi?

Nỗi bi thảm không lan man được lâu. Xuống xe, lỉnh kỉnh đồ đạc, mấy trăm thước lếch thếch kéo nhau lê những bước chân vô định. Leo một con dốc, xuống một con dốc dọc theo bức tường đá cao lêu nghêu, kẽm gai hai ngả đầu tường. Sau bức tường câm nín sẽ là cuộc sống vĩnh viễn của đời ta? Những tiếng líu lo rừng núi thị uy với đám người thất thế sa cơ. Lũ hình nhân líu díu qua khung cổng trại dữ dằn, vào sân xếp hàng, ngồi xuống. Hai trăm (196) tên tù ngơ ngác ngồi nghe tiếng Việt mà không hiểu gì nhiều. Có ai kéo tay tôi, Ê, Bắc Kỳ, “ổng” nói gì vậy. Tôi lắc đầu, ra dấu chẳng hiểu gì hơn mấy bạn Nam Kỳ. Có ai dơ tay, tên cán bộ đang liến thoắng giảng giải hất hàm ta dấu. Một ông già trong đám tù đứng dậy lắp bắp, Thưa anh … Một tên lên tiếng quát. Các anh không được gọi cán bộ là “anh”. Giọng già nua run rẩy, thưa đồng chí. Tiếng quát lớn hơn, ai “đồng chí” với lũ các anh. Muốn nói với cán bộ, thưa cán bộ. Gặp cấp cao hơn, thưa “Ban”. Cái này hơi lạ, nhưng thì giờ đâu thắc mắc. Sau này biết rằng, mấy chàng công an binh nhì, binh nhất là “cán bộ”, còn mấy anh sĩ quan làm ở “Ban Chỉ Huy Trại’ là “Ban”. Có ai cất lời hướng dẫn bọn tù Miền Nam ôn tồn kết thúc, từ đây, có việc nói với cán bộ, các anh “thưa Cán Bộ” và “thưa Ban”. Các anh không được gọi chúng tôi là “anh, chị”. Chúng tôi gọi các anh là “anh”, hay “phạm nhân”. Hồi ở Long Thành, giai đoạn bán hàng quảng cáo, cũng mấy anh công an áo vàng dậy rằng, xưng hô giữa chúng ta là anh và tôi, không được gọi chúng tôi là “ông, ngài.” Không được xưng mình là em, cháu. Về đây, mấy bạn tù hình sự cứ tôn hầu hết mấy anh cán ngố là “Ban”, còn giữa “tinh thân mật” thì xưng hô là “ông”, còn mình là “con, cháu, em”.  Anh nào bỗng dưng là “ông” đều hớn hở ra mặt! Ở đáy tận cùng xã hội, ngoi lên một chút cũng vui.

Đó là buổi sáng ngày 6 tháng 12, năm 1976. Ngay lúc đó tôi tự hẹn mình phải nhớ, nên mới nhớ rõ ngày tháng. Lúc đó khoảng 10 giờ sáng, giờ chúng tôi được phân phối về phòng giam.

.

Bắt cô trói cột

Thế là 196 người chúng tôi từ trại giam Long Thành (nhắc lại, đúng ra chỉ có 195 tù từ Long Thành) đã được đưa đến trại giam Thanh Cẩm. Nghĩa là chúng tôi từ một trại giam ở Miền Nam thuộc công an của Bộ Nội Vụ Hà Nội, chuyển ra một trại giam ở Miền Bắc cũng thuộc công an Bộ Nội Vụ. Nhiều bạn tù bên quân đội phải chuyển rất nhiều trại. Khi bị nhốt ở Miền Nam, họ di chuyển từ trại nọ qua trại kia, tùy tình hình xây dựng trại phía quân đội Hà Nội. Những sĩ quan VNCH cấp cao phải đi Bắc, cũng được giao cho các đơn vị Hà Nội đóng quân miền thượng du Bắc Việt quản trị. Nên cũng phải chuyển trại nhiều lần. Đến lúc chuẩn bị cuộc chiến tranh Biên Giới Tàu –  Việt 1978, quân đội Hà Nội giao tù cho phía công an, cũng là lúc các trại giam của công an được xây dựng nhiều hơn, mở rộng hơn, gia tăng sức chứa tù nhân.

Trại Thanh Cẩm thuộc Bộ Nội Vụ, nghĩa là chế độ giam giữ có tính cách chính qui, nghiêm ngặt, khốc liệt. Trại mang tên Thanh Cẩm là do ghép hai chữ, Thanh của tỉnh Thanh Hóa, Cẩm của huyện Cẩm Thủy. Huyện Cẩm Thủy đúng ra chưa phải là một huyện hoàn toàn miền núi, núi rừng chỉ chiếm hơn 40% diện tích tự nhiên. Cho nên Cẩm Thủy là nơi có tiếng về sản xuất nhiều bắp. Theo những nhà nhân chủng học Miền Bắc, người ta tìm thấy nhiều dấu tích Người Việt Cổ tại Cẩm Thủy, dấu tích của hai nền văn hóa Đông Sơn và Hòa Bình. Địa danh Cẩm Thủy đã có từ khoảng năm 1460 – 1469. Là một huyện phía tây – bắc của Thanh Hóa, nên Cẩm Thủy có đường tiếp cận với biên giới Lào, thông qua huyện Tuyên Hóa ở cực tây. Khúc sông Mã chảy qua Cẩm Thủy rộng, là nơi mở ra từ thượng nguồn để chảy xuống đồng bằng, nên mùa mưa nước lũ cuồn cuộn như sóng biển. Thi sĩ Quang Dũng đã ghi lại: “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.

Tuy diện tích huyện chỉ có 40% là núi rừng, nhưng trại Thanh Cẩm đã được xây dựng tại nơi hiểm hóc nhất, khắc nghiệt nhất, vì là vùng núi đá vôi. Từ huyện lỵ tới trại là chặng đường gần 20 cây số, hầu như người ta chỉ đi bộ, đi xe trâu. Ai thuộc loại sang cả, sắm được chiếc xe đạp đã đủ là đại gia địa phương. Vào những năm 1976, 1977, 1978, xe đạp đếm chưa đủ 10 đầu ngón tay tại xã Cẩm Thành, địa bàn của trại giam Cẩm Thủy. Có lẽ chỉ trại tù mới có xe hơi ở nơi này. Trại dựa vào dãy núi đá vôi ở phía sau, phía trước cổng là dòng sông Mã, xa xa là núi non trùng điệp. Có những sườn núi trắng toát một màu vào cuối đông, lúc cỡ tháng 4. Trắng toát một màu không phải vì tuyết, mà do mùa hoa “”trẩu” nở, cánh hoa trẩu màu trắng. ở giữa nhụy đỏ hồng. Núi đá vôi có đặc điểm quái ác đối với đời tù. Mùa hè cực nóng, núi giữ hơi nóng lại, ban đêm nhả ra, như hơi thở hừng hực lan vào các phòng trại giam. Oi bức càng thêm oi bức. Mùa đông, núi giữ lại khí lạnh, đêm cũng nhả ra, lạnh cóng tâm can. Càng lạnh khi dạ dày trống rỗng, bụng đói mèm. Ở đây, tôi hiểu được thế nào là “Lửa cơ đốt ruột, dao hàn cắt da.” Nhiều đêm, thời tiết xuống đến không độ C, tiếng chim “bắt cô trói cột” càng tăng thêm độ lạnh. Chắc quí vị không tin chuyện cái thứ âm thanh lanh lảnh, sắc, gọn “bắt cô trói cột” có thể làm cảm giác lạnh tăng lên (đôi khi cũng nghe cả tiếng chim chim gõ mõ). Lạnh lắm lắm. Lạnh tê tay chân, và lạnh cả khối óc. Khối óc tê liệt theo tiếng chim vang vang nơi sườn núi. Tiếng chim đơn độc trong không gian buốt giá như nhắc nhở các thân phận tù đầy về nơi chốn họ đang thoi thóp sống, về nỗi tao ước trong tuyệt vọng được gặp lại gia đình, Bố, Mẹ, Vợ Con … Chúng tôi đến đây vào Tháng 12, giá lạnh núi rừng đã bắt đầu khốc liệt, và tiếng chim ma quái chào đón ngay từ đêm đầu tiên. Các cánh cửa sổ đều mở, khí núi lạnh buốt cứ thế tự nhiên tràn vào. Tiếng chim khuya khoắt cũng tự nhiên len qua tấm chăn chùm đầu, xoáy vào, xoáy vào … Nếu quí vị nhờ ông (bà) google tìm giùm, tiếng “bắt cô trói cột” còn được nghe thành nhiều tên khác.

Trở lại ngày mùng 6, Tháng 12, năm 1976. Khoảng 10 giờ sáng chúng tôi được đưa vào các dãy nhà của trại Thanh Cẩm. Lúc ngồi ở sân nghe mấy cán ngố lảm nhảm, tôi đã quan sát thấy toàn bộ khuôn viên trại gồm 7 dãy chia làm hai bên đối xứng. Khu bên trái, ngoài 3 dãy nhà tranh, mãi tuốt trên cao là một căn  nhà nhỏ, sau này tôi biết là khu “kiên giam”. Phía bên phải, gồm 4 dãy nhà song song nằm ngang, xếp lớp như bực thang vì thế đất càng vào núi càng cao. Ngay gần cổng vào, tức là nơi thấp nhất, cũng có một khu nhà phụ trội. Đó là nhà bếp. Một sân trại bằng đất nện chia cách hai khu. Nhìn từ cổng vào, 4 dãy nhà bên phải được xây bằng gạch, mái ngói. Họ cho tù chính trị Miền Nam ở mấy dãy nhà gạch.

Mỗi dãy nhà dài chừng 50 mét, rộng chùng 7 hay 8 mét, thường nhốt chừng 70, 80 tù nhân. Khi cần, có thể nhét trên 100 người. Hai dãy sạp hoặc bằng gỗ, hoặc bằng xi măng đối diện nhau, rộng chừng 2 mét 5, lối đi ở giữa rộng chừng 2 mét hơn. Hai dãy sạp chạy theo chiều dài căn buồng, chừa chỗ cho các cửa ra vào. Phía trên dãy sạp “tầng dưới” lại còn sạp “tầng trên” bằng gỗ. Tù nhân có người nằm tầng trên, có người tầng dưới, với bề ngang chỗ nằm rộng chừng 1 mét đến 1.2 mét, trải vừa chiếc chiếu đơn. Cuối mỗi dẫy nhà là một phòng nhỏ dùng làm nhà cầu kiểu ngồi xổm. Toàn bộ căn phòng có 2 cửa ra vào, chừng 10 đến 12 cửa sổ dành cho sạp tầng trên và sạp tầng dưới. Cửa sổ luôn luôn phải mở dù trời nóng hay lạnh để bọn cán bộ đi tuần đêm kiểm soát. Thời gian sau này, mùa đông đôi khi có người nằm ngay chỗ cửa sổ khép hai cánh cửa lại, bọn cán bộ cũng chỉ ghé mắt xem qua. Càng về sau, không khí tù thoải mái hơn, thay vì tiếng quát mắng bắt mở cánh cửa sổ, mấy chàng công an trẻ cào cào hay gõ nhẹ nhẹ vào cánh cửa, kèm theo tiếng thì thầm: Anh gì này, cho thìa mỡ nào. Hôm nay tôi kiếm được vài gốc măng, chút nữa về xào lên ngon cực. Hoặc là, anh cho mượn cái điếu và cho xin một “bi”. Rét quá, kéo một cái cho ấm người.

Trong phần ghi chép này tôi hay dùng chữ “Trại Thanh Cẩm”. Ý nghĩa của nhóm 3 chữ này (nhà quê gọi là “cụm từ”) thay đổi tùy theo nội dung tường thuật. Đúng nhất, “Trại Thanh Cẩm” phải được hiểu là toàn bộ khu đất đai dành cho “Nhà tù mang tên Thanh Cẩm”, rộng cả chục mẫu, kể cả phần đất núi, rừng chung quanh. Trên hơn chục mẫu đó có các vườn tược, đất đai trồng các loại ngũ cốc (trừ cây lúa), các khu nhà làm nghề mộc, nấu rượu, lò gạch, … Có khu “gia binh” dựng mấy chục ngôi nhà cho cán bộ có gia đình, mấy dãy nhà dành cho cán bộ độc thân. Gần khu này là khu làm việc của “Ban Giám Thị” trại. Ngay sát đó, là khu nhốt tù chính, được gọi là K1, tức là khu nhốt “tù chính trị Miền Nam”. Khu K2, nhốt tù hình sự Miền Bắc, cách K1 chừng 2 cây số, cho đến khi tôi rời trại vào năm 1984, khu này vẫn còn là nhà tranh vách đất.

Nhưng bình thường, tôi dùng 3 chữ “Trại Thanh Cẩm” để chỉ khu nhà tù nhốt chúng tôi, tức khu K1, còn gọi là Khu A.

Thuốc độc

Buổi sáng đầu tiên tại trại giam Thanh Cẩm là một buổi sáng tôi nhớ mãi trong chặng đời tù đầy, không phải vì nó là “đầu tiên”, mà vì mối thắc mắc về bữa ăn ngay trưa hôm đó. Tôi đã kể, khoảng 10 giờ sáng chúng tôi được phân phối về 4 dãy nhà bên phải của trại giam. Cả bọn còn đang lui hui thu xếp đồ đạc, phân chia, chọn lựa chỗ nằm theo sự cắt đặt của các đội trưởng thì khoảng 11 giờ đã có tiếng kêu ngoài sân ra nhận cơm trưa.

Cả bọn ra sân, xếp hàng chờ lãnh phần ăn, tay mỗi người cầm sẵn vài vật dụng cá nhân dùng trong bữa ăn: Cái tô, hay hộp, hoặc gà mên (gamelle – cạp lồng) bằng nhựa hay nhôm, kèm theo cái muỗng nhôm. Với tôi, hai vật đó đủ cho một bữa ăn hồi ở Long Thành. Ở trại giam Thanh Cẩm, nhiều khi không cần vật nào cả cũng xong một “bữa”. Tuy nhiên, phần nhiều bạn tù khác thường mang thêm một hay hai cái chén nhỏ, hộp nhỏ. Họ không muốn trộn thức ăn vào với cơm. Điều này đúng cho khoảng 3 hay 4 ngày trong một năm. Đó là mấy ngày Tết, ngày lễ trọng đại như ngày (gọi là) Quốc Khánh mùng 2 Tháng 9, trại cho tù ăn cơm trắng, mấy miếng thịt bạc nhạc kho lõng bõng nước, bát canh rau gì đó. Phần ăn ngày Tết thường được ăn dè sẻn, để dành cho mấy ngày sau, không thể trộn lẫn tất cả để ăn một lần. Còn đối với bữa ăn hàng ngày là mấy củ sắn, hơn chục củ khoai lang “đuôi chuột”, thì cần gì bát với đĩa. Gọi là “khoai lang đuôi chuột” vì củ khoai lang nhỏ tí, dài ngoằng như cái đuôi chuột. Lâu lâu (nhờ phúc nhà) có được một củ khoai lang ra hồn, trời ơi, cái lưỡi như được nếm vị ngọt của cả đất trời.

Ra đến “nhà ăn”, tôi thấy mỗi tổ 10 người được chia sẵn 4 cái xoong đựng thức ăn đặt trên bàn. Một xoong đựng đầy cơm trắng. Một xoong đựng chừng hơn hai chục miếng thịt heo thái to, đó là món thịt kho, mỡ nổi lềnh bềnh trên nửa xoong nước, một xoong đựng canh miến nấu với váng mỡ, và một xoong ai cũng xuýt xoa là ra xứ lạnh này mới được ăn thịt đông. Vọc muỗng vào xoong thịt đông mới biết là “bé cái lầm”. Đó là món khoai mì (từ Thanh Hóa ra phía Bắc, gọi là sắn), nấu kiểu gì không biết, nhưng chất nước sền sệt đông lại phủ lên mấy miếng khoai mì cắt nhỏ, trông y hệt thịt đông xứ Bắc.

Chia chác xong mọi người mang bữa trưa vào ăn trong phòng để trốn cái lạnh của đất Bắc. Còn lại ở nhà ăn chưa đến chục người ngồi ăn tại 6 cái bàn. Theo thói quen, tôi và một bạn tù thu dọn hơn hai chục cái xong xếp vào một chỗ ở góc nhà ăn. Phải nói “theo thói quen” vì sau này, tôi biết rằng cái chuyện tự nguyện thu dọn đó không có ở xã hội cộng sản. Cũng như hai tiếng “xin lỗi”, “cảm ơn” hầu hết người ngoài Bắc không nhớ đến. Có tiếng ai nói, trại này họ cho ăn khá hơn Long Thành đấy nhỉ. Thực tình tôi cũng nghĩ như vậy, nhưng vẫn nói đùa, có lẽ là giai đoạn quảng cáo, chứ Miền Bắc đói kém, dân không đủ ăn, không lẽ tù tụi mình là món hàng quí hiếm sao. Tôi vẫn đinh ninh theo kiểu Cu Ba, sẽ có trao đổi chúng tôi với máy cầy hay gì gì đó của Mỹ.

Ngồi xuống bàn ăn, tôi mới có cơ hội nhìn quanh khu mình đang ở. Lúc vào trại tôi đã thấy 4 bức tường đá bao quanh trại giam cao đến 5, 6 mét, không kể hàng kẽm gai trên đỉnh tường. Chung quanh mỗi dẫy nhà lại có một bức tường bằng gạch cao từ 2 mét tới hơn 3 mét. Mấy hôm sau tôi mới biết tường bao quanh có hai độ cao chênh lệch vì trại giam làm trên sườn núi, về phía sông Mã ở trước cổng trại đất thấp, vào sâu trong núi, đất cao. Từ dãy nhà dưới cùng là bếp tới dẫy nhà trên cùng tôi đang ở, độ cao chênh lệch đến hơn chục mét. Riêng cái sân chúng tôi ngồi buổi sáng được ủi bằng phẳng ngang với nền nhà bếp. Nhà chúng tôi ở độ cao nhất, nhưng phía sau dãy nhà vẫn còn một khu đất cao hơn nữa trước khi chạm vào lớp tường trong bao quanh toàn bộ các dẫy nhà. Ngoài lớp tường trong, là lớp tường ngoài cao hơn nữa. Hai lớp tường cách nhau dải đất rộng chừng 3 mét. Ở đầu dãy nhà, nhưng cách ra hơn 2 mét, là nhà ăn, chỉ gồm mấy cái cột và hai mái ngói ở trên, không có tường bao quanh. Trong nhà ăn kê 6 cái bàn dài, mỗi bàn ngồi được 6 người trên hai băng ghế. Tôi ra đẩy nhẹ cánh cửa của cổng ra vào khu nhà, nhìn xuống sân trại, và cổng trại, sâu hun hút, mấy chàng tù làm nhà bếp đang đi thu nhặt nồi xoong mấy dãy nhà tù mới đến. Một số bạn tù trong nhà tôi mang đồ ăn thừa đổ vào mấy chiếc xoong. Có người nói sao không để dành đến chiều. Chỗ ở chưa ổn định, chưa ngăn nắp, mọi người sợ đồ ăn đổ ra chỗ nằm. Vả chăng, chiều có đồ ăn chiều, lo gì! Nhưng chiều hôm đó tôi lại một phen “bé cái lầm”. Buổi chiều, mỗi tổ chỉ có hai xong đựng đồ ăn. Một xoong “xôi đậu xanh”, một xong chứa nước gì đen đen, sặc mùi mắm. Hóa ra, cái gọi là xôi đậu xanh kia là bắp trộn gạo, và chất nước đen đen là “nước chấm” mắm tôm. Nhiều chàng ngẩn ngơ, “hụt hẫng”. Miến và thịt sáng nay đổ hết rồi. Từ bữa trưa ngày hôm sau lại càng thê thảm, chỉ có khoai mì luộc và nước chấm. Với người ăn khỏe, mấy củ khoai mì không đủ cho một bữa, nhưng vẫn ngắc ngứ, ăn hoài không hết.

Mấy tháng sau, khi đã quen với các bạn tù hình sự, chúng tôi mới biết khía cạnh “khôi hài đen” của bữa trưa đầu tiên trên đất trại Thanh Cẩm. Câu chuyện cười, nhưng cười ra nước mắt. Cuộc sống trong tù rất thiếu thốn. Ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, nhất là đối với các bẹn tù hình sự Miền Bắc. Mấy bạn tù hình sự Thanh Cẩm càng đói rét vì đất trại là đất núi, chỉ trồng được khoai mì, thứ khoai mì kỹ nghệ. Ven sông Mã, có chỗ trồng được khoai lang, bắp, đậu phộng, đậu xanh. Khoai lang thì được ăn, nhưng củ khoai như đuôi chuột. Bắp cũng đượcc ăn, nhưng mỗi cái bắp teo như cổ tay trẻ 3 tuổi thiếu ăn, cùi bắp cõng chừng hai, ba chục hột bắp. Đậu phộng, đậu xanh để dành cho Ban Quản Trại. Lúa gạo hoàn toàn không cầy cấy được. Mà chủ trương của bọn Hà Nội là nhà tù phải tự túc ít nhất 30% lương thực, thực phẩm. Tiêu chuẩn 100% đã không đủ no, tự túc khoảng30%, 40%, tức là chỉ cấp phát 70% hay 60%,  lại càng thê thảm. Sau này, tù “Chính trị Miền Nam” còn có gia đình gửi quà tiếp tế, còn tù hình sự Miền Bắc đói triền miên. Cái buổi sáng đầu tiên ở trại, bọn Miền Nam được cho “ăn tươi”, tức là có thịt lợn (heo). Mấy ngày lăn lộn trên tàu, một ngày một đêm ngồi xe trên đường về trại, nhóm tù Miền Nam ai cũng mệt lử, chẳng thiết gì ăn, và tưởng như bữa cơm nào chẳng giống nhau. Cơm và đồ ăn đổ lại vào xoong rất nhiều.

Bình thường, các bạn tù hình sự gặp được mấy xoong đồ ăn đó sẽ tranh nhau mà ăn, ngay cả những bạn tù làm nhà bếp, một nơi no hơn những bạn dưới “làng”, cũng sẽ chia nhau. Nhưng lần này, mấy xoong đồ ăn bỏ chổng trơ, không bạn nào dám mó đến. Nhà bếp bàn nhau không biết đổ đi đâu chỗ đồ ăn này. Đổ vào nồi cám lợn ăn, không được. Lỡ lợn chết thì sao. Đổ vào hố rác trại dùng làm phân bón, cũng không được, cây cũng chết vì chất độc. Các bạn tù hình sự khi ở ngoài đời, có bạn bắn nhau với công an, có bạn chửi nhau tay đôi với đảng viên, với viên chức chính quyền, nhưng họ có cùng chung một niềm tin với toàn bộ xã hội, rằng “bọn ngụy” này nguy hiểm lắm. Họ tin rằng bữa cơm ngon như vậy, trong trại giam cả năm mới có một lần, ngoài xã hội cũng không phải dễ có miếng thịt mà ăn, vậy mà bọn ngụy không ăn, tức là chúng bỏ thuốc độc, đánh lừa “ta”, hại ta. Ít lâu sau, khi đã biết rõ hơn “bọn ngụy”, các bạn tù hình sự ngồi ôn lại bữa cơm trưa hôm đó, vừa cười vừa tiếc. Sự tuyên truyền của cộng sản thật khủng khiếp. Cả một xã hội bị bịp. Thành phần chống lại trật tự xã hội cũng bị bịp. Họ tin rất thật tình vào những điều bịp bợm đó.

3 dòng thác cách mạng

Cuộc sống hàng ngày ở trại giam Thanh Cẩm: Mỗi sáng, vào lúc 6 giờ, 9 tiếng kẻng đánh thức tù nhân. Cán bộ Trực Trại kéo chàng tù “trật tự” đi mở khóa các phòng. Mọi người ra sân xếp hàng, cán bộ đếm số người. Rồi tù nhân tập thể dục. Trong khi đó, tù nhà bếp khênh lên thùng nước sôi để uống, có khi thêm một xoong mấy củ khoai mì, khoai lang cho bữa sáng. Thường một năm có độ hai, ba tháng có ăn sáng, là lúc trại “thu hoạch” mùa màng. Độ 7 giờ, 3 tiếng kẻng tập họp dưới sân trại, mỗi đội ngồi 2 hay 3 hàng, chờ “xuất trại’ đi làm. Mùa hè, trời sáng sớm hơn, giờ giấc của mọi chuyện cũng sớm hơn 30 phút, 5 giờ rưỡi đã phải thức dậy. Bọn tù Miền Nam mới đến, được mấy tuần lễ không theo lịch trình đó. 9 giờ sáng mỗi ngày tập họp tại Hội Trường học tập chính trị. Hội trường là một ngôi nhà lớn, mái lợp bằng các tấm nhựa đen, không có tường bao quanh, cũng không bàn ghế, ngồi bệt xuống đất được chừng hơn 300 người. Sau này, hội trường mở rộng, chứa được 500 đến 700 người. Cuối hội trường là sân khấu, nơi trình diễn văn nghệ, nơi giảng viên đứng giảng bài.

Ở trại giam Long Thành chúng tôi đã phải nghe thuyết giảng mấy bài về chính trị, ra đến trại giam Thanh Cẩm, lại cũng học tập mấy nội dung như vậy. Tôi chỉ nhớ được một đề tài là “Ba dòng thác cách mạng”. Hồi ở Long Thành, tôi có thấy lác đác trong báo chí hồi đó, chắc là báo Nhân Dân, nói về những phát biểu của Lê Duẩn sau khi chiến thắng ở Miền Nam, rằng thắng lợi của Miền Bắc là tất yếu, bởi vì đó là xu hướng chung của “3 dòng thác cách mạng thế giới”. Việt Nam (Cộng Sản Hà Nội) đã phát huy được khí thế của 3 dòng thác này, áp dụng sách tạo vào trường hợp Việt Nam. Thời gian qua, tôi không còn nhớ gì về mấy “lời thánh, tướng” của Lê Duẩn. Nhưng vẫn nhớ nhóm chữ “3 dòng thác cách mạng”, vì tại trại giam Thanh Cẩm, anh chàng giảng viên, Trung Úy tên Tuy, đã nói nhiều điều buồn cười khi giảng về mấy “cái thác” này. Chàng phân tích, theo “lời dậy của đồng chí Tổng Bí Thư Lê Duẩn”, 3 dòng thác cách mạng đó là: Về Quan Hệ Sản Xuất, Về Văn Hóa Tư Tưởng, Về Khoa Học Kỹ Thuật. Trong một lúc cao hứng, chàng vung tay chỉ ra phía cổng trại nói: Đây, các anh thử xem, hãy thử hỏi một em bé đang chăn trâu ngoài kia (tứ là bờ bên kia sông Mã), nó sẽ giải thích cho các anh biết “tia la de” là gì. Trẻ con Miền Bắc chừng 4, 5 tuổi đã học biết nhiều thứ về khoa học kỹ thuật mà ngay chính các anh cũng không biết. Đó là “dòng thác cách mạng về khoa học kỹ thuật” đấy. Cứ cái kiểu giảng như vậy lại khiến tôi nhớ được “3 dòng thác” của chàng, và nhớ cả tên chàng là Tuy, Trung Úy Tuy, chính trị viên. Sau này chàng lên Đại Úy, rồi biến mất. Nghe đồn, chàng bất mãn nên bị cho nghỉ. Có lẽ chàng là người có học nhất trong đám cán bộ ở trại, vì thế thấy nhiều điều lố bịch của chế độ, của nhà nước, sinh ra “ăn nói bậy bạ”, cho nghỉ là phải rồi. Người ta cần những con trâu bảo sao nghe vậy, chứ đâu cần mấy “trẻ chăn trâu biết về tia la de!”

Trong tháng đầu tiên ở Thanh Cẩm, mỗi sáng chúng tôi “cắp sách” xuống hội trường học tập. Thứ Bảy, Chủ Nhật nghỉ. Giảng viên duy nhất là Trung Úy Tuy. Anh ta mở đầu là buổi học tập về “Nội Qui Của Trại”, tức là những qui định các tên tù phải tuân theo. Đó là những điều ít khi được thi hành vì có mấy ai để ý đến, nhưng lại hay được cán bộ viện dẫn khi bắt phạt phạm nhân. Sau đó là 9 bài giảng. Cứ theo mấy bài giảng này, tôi mới nhận chân được con người mình, nhìn rõ dung nhan mình. Tôi là một tên tội lỗi vô cùng, mà không phải chỉ là tội lỗi, mà là tội ác. Tôi ác quá mà tôi không biết. Xin cảm ơn Tung Úy Tuy (không cảm ơn Trời Phật). Đại khái 9 bài giảng toàn những luận điệu như thế, trong đó, đặc biệt có 3 dòng thác của cậu bé chăn trâu bên dòng sông Mã. Sau này tôi biết cả năm cũng không tìm ra cậu bé nào chăn trâu bên kia sông, vì trâu bò quí lắm, dễ gì mấy nhà bên kia sông có được.

Mỗi buổi sáng nghe giảng chính trị chừng 2, 3 giờ đồng hồ. Buổi chiều họp tổ, thảo luận. Trời mỗi ngày một lạnh thêm, được ở loanh quanh trong phòng là sướng rồi. Sau hơn 3 tuần lễ học tập, thảo luận tổ, đến đợt khai báo lý lịch cá nhân, công ăn việc làm, tư tưởng, hoạt động, gì gì đó của tôi trước 1975. Tôi lại không rõ tôi thuộc chi nào trong số các con của vua Hùng Vương thứ 18, nên chỉ khai được lý lịch cái bản mặt tôi. Và cứ cái kiểu kết tội Mỹ Ngụy, thí dụ hồi tôi mới học lớp Đệ Thất trung học, đã bị bọn bạn bè trong lớp ép nghe kể chuyện nó đọc tromg sách “Ái Tình Bửu Giám”. Đó là tội ác của Mỹ Ngụy. Lúc tôi học Đệ Thất trường Trần Hưng Đạo là năm 1956. Do hoàn cảnh di cư, một số học sinh trong lớp đã lớn tuổi cũng được vào học. Có mấy bạn 17, 18, 19 tuổi học chung với chúng tôi. Đúng là “nhất quỉ, nhì ma, thứ ba là các chàng đó”, bầy đủ thứ trò bây bạ, kể cả “bình phẩm” các cô giáo. Để câu giờ khai báo, tránh cái cảnh đi lao động trong trời mưa rét, tôi cứ khai báo cái kiểu đó. Chuyện nọ lằng nhằng chuyện kia, toàn những chuyện ấm ớ, kéo dài được hơn 1 tháng, trong khi mấy bạn khác chỉ cần 1 tuần là “hết chuyện.” Nhưng thiên bất dung gian. Cái kiểu quen với việc viết lách có thứ tự lớp lang, mạch lạc, dù là chuyện tầm phào, tôi bị mấy quan ở Bộ Nội Vụ “đánh giá cao”, họ cử mấy anh cao cấp về Thanh Cẩm cho tôi “làm việc” hai lần, mỗi lần cả tuần lễ và lâu hơn. Chuyện này kể sau.

Các chú chán bỏ mẹ

Chúng tôi từ Trại giam Long Thành đến Trại giam Thanh Cẩm vào ngày 6 Tháng 12, năm 1976, tức ngày 16 Tháng 10 năm Bính Thìn, hai tháng rưỡi sau là Tết Đinh Tỵ. Tết đến, tù được “liên hoan”. Một tiết mục liên hoan là xem trình diễn văn nghệ của trại, do “Đội Văn Nghệ” gồm những tù nhân trong trại. Trại giam chúng tôi gồm 8 dãy nhà như nói ở trên. Đó là “khu A”, tên chính thức là K1. Toàn bộ trại Thanh Cẩm còn khu giam giữ tù hình sự nữa, là “Khu B”, gọi là K2. Đội Văn Nghệ là của Khu B. Một buổi tối, mấy chàng Quản Giáo điệu chúng tôi xuống hội trường. Ở đó đã ồn ào, xôn xao cả mấy trăm chàng tù hình sự. Ánh đèn chập choạng trên sân khấu không chiếu đủ sáng xuống lớp khán giả ngồi bệt xuống đất dưới này, tôi chỉ thấy lao xao tiếng nói, chưa nhận biết được mặt người. Một lúc, ánh lửa từ đóm hút thuốc lào lóe lên, ủa, có cả tù phụ nữ, “tù gái”. Các nàng xoạc hai chân ra, cái điếu cầy bằng ống tre chống xuống đất, hai đầu gối kẹp lại, một tay viên nhúm thuốc lào cho tròn, nhét vào nõ điếu, xong, vẫn bàn tay đó cầm cái đóm, tay kia bật lửa (quẹt máy). Rồi, nàng làm một hơi dài, tiếng nước ùng ục, tiếng không khí qua nõ điếu rít lên ròn tan. Phào, nàng thở từ từ ra, làn khói trắng cuồn cuộn lan vào không gian, cuồn cuộn như 3 dòng thác cách mạng. Có lẽ đây là dòng thác thứ tư của Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa. Trời tối, không nhìn rõ mặt người, tôi đoán rằng khuôn mặt kiều diễm đang đê mê, đôi mắt lim dim, quên hết sự đời. Đôi đầu gối lại xoạc ra, lâu lâu mới khép một lần khi “làm” một “bi”. Không biết mấy tù gái này ở khu nào trong trại. Sau này cũng không thấy xuất hiện. Nghe nói trước đây còn một khu nữa là Khu C, gọi là K3, lo việc canh nông, trồng trọt, nuôi cá là chính. Sau này giải tán khu đó. Hay là các nàng tiên nữ phạm nhân ở khu đó, rồi chuyển đi trại khác. Lại nhớ Phạm Duy: “Trời đầy cô tiên nữ xuống trần gian …”

Ngồi vừa “ấm chỗ”, mấy bạn tù hình sự nói với qua làm quen. Một bạn phán, chán các chú bỏ mẹ! Cứ mong các chú ra giải phóng ngoài này, lại để chúng nó giải phóng các chú!

Sau này, giao tiếp nhiều hơn, mấy chàng tâm sự. Họ nghe nói “Bắc Tiến”, tất cả đều mừng. Họ chờ đợi, chờ hoài cũng không thấy ai “tiến ra” cả. Đến lúc Mỹ dội bom Hà Nội, đầu hàng đến nơi rồi, họ lại mừng. Cũng chẳng có ai ra “tiếp thu’ Hà Nội. “Chẳng nước mẹ gì cả”. Rồi, một ngày, giữa sân trại dựng tấm bảng to tướng, “bản đồ tiến quân của ta”. Cứ mỗi ngày lại thấy thêm mũi tên đỏ báo chiếm được đến đâu ở cái phần đất nước Miền Nam. Cuối cùng, xong! Hết rồi ước mơ “được Miền Nam Giải Phóng”. Lại gặp các chú ở đây, đúng là “chán bỏ mẹ!”

Đôi ủng

196 tù chính trị Miền Nam đến trại giam Thanh Cẩm đầu tháng 12, 1976. Ban Chỉ Huy Trại chia nhóm này thành nhiều đội, nhân số các đội không đồng đều. Tôi không nhớ gồm những đội nào. Tôi thuộc “Đội 2”, khoảng hơn 20 người. Mỗi đội có một tên công an trông coi, gọi là “Cán Bộ Quản Giáo”. Quản Giáo hoặc một tay cán bộ từ Ban Chỉ Huy lo về anh ninh, hoặc Cán Bộ Trực Trại, cử một phạm nhân trong đội là “Đội Trưởng”, và một phạm nhân làm phó, hay phụ tá cho Đội Trưởng, gọi là “Thư Ký Đội.” Cán Bộ Trực Trại là tay cán bộ trông coi toàn bộ khu giam giữ tù nhân. Muốn đưa một phạm nhân ra khỏi trại, hay đưa vào nhập trại, những tên công an liên hệ phải báo cho Cán Bộ Trực Trại biết, phải được sự đồng ý của Trực Trại. Trực Trại trông coi mọi sinh hoạt của phạm nhân trong trại, cử công an canh giữ cổng ra vào, điều động công an tuần tiễu khu nhà giam hàng đêm. Trước Tết Đinh Tỵ, 1977 chừng 10 ngày, các đội tù Miền Nam bắt đầu đi lao động. & giờ sáng tập họp dưới sân cùng với các đội hình sự bên dãy nhà lá. Các đội trưởng báo cáo nhân số cho Cán Bộ Quản Giáo, và Cán Bộ Trực Trại. Trực Trại hoặc tay công an dưới quyền đếm số người xuất và nhập trại. Một khi ra khỏi cổng, thẩm quyền phạm nhân thuộc về Quản Giáo. Quản Giáo thường đeo súng ngắn, có mấy tay công an vác súng dài đi theo giúp trông coi phạm nhân tại nơi lao động, gọi là “Cán Bộ Bảo Vệ”. Tôi cũng chưa tìm hiểu xem hai chữ bảo vệ này có ý nghĩa gì, bảo vệ cán bộ hay bảo vệ phạm nhân. Quản Giáo là thường xuyên, theo sát từng phạm nhân suốt thời gian làm quản giáo. Còn Bảo Vệ, thay đổi hàng ngày, nay theo đội này, mai theo đội khác. Các đội phạm nhân xuất trại lúc từ 7 giờ sáng trở đi, thường đội làm xa đi trước. Đến 11 giờ 30 hay 12 giờ về trại, ăn cơm trưa. Đến chừng 1 giờ  hay 1 giờ rưỡi trưa, lại xuất trại, và khoảng 4 giờ rưỡi hay 5 giờ chiều về trại. Tắm rửa dưới sông, lên xếp hàng nhập trại.

Mấy tháng đầu, họ cho Đội 2 làm mấy việc tạp dịch, dọn dẹp vệ sinh trong toàn bộ  khuôn viên Trại Thanh Cẩm, khu hành chính, khu nhà kho. Đôi khi họ cho ngồi bóc vỏ đậu phộng. Và anh em bắt đầu ăn đậu phộng sống, lén lút nhai tại chỗ chứ không dám dấu diếm mang vào trại. Hoặc công an, hoặc phạm nhân được cử làm Trật Tự, khám phạm nhân rất kỹ trước khi nhập trại. Ăn sống đậu phộng, bắp hạt, lạ thay, chẳng thấy ai kêu đau bụng. Có một lần làm tạp dịch tôi nhớ đời, đó là chuyện “vớt luồng”. Luồng là cây họ “tre”, giống cây tre nhưng thân cây to hơn, Người ta dùng luồng để làm nhà. Trước hết người ta ngâm cây luồng xuống lớp bùn của một cái ao nào đó, thời gian khoảng 6 tháng tới một năm. Bùn thấm vào luồng, mấy chú mọt quen đục rũa gỗ, tre, chết hết, sau này cũng chẳng chú nào dám bén mảng đến cây luồng đã ngâm bùn. Mùa đông năm đó họ cho vớt mấy cây luồng ngâm tại một cái ao từ bao giờ không biết. Trời lạnh như cắt, càng lạnh đối với bọn tù Miền Nam quen thời tiết xứ nóng. Chúng tôi phải cởi hầu hết mấy cái quần dài đang mặc. Nhiều vị có tuổi, mặc đến 3 cái quần dài mới chống nổi khí lạnh. Bây giờ cởi hết ra, trần sì còn lại quần đùi. Hàng tạ vớ cũng phải tháo ra, đôi chân trần lội xuống nước ao. Rồi áo ấm cũng phải cởi bớt nếu không muốn bùn làm bẩn áo. Cứ thế, lần mò trong đám bùn, tìm mất cây luồng nặng chịch, 5, 6 mống tù hè nhau vớt, khênh lên bờ. Tên Quản Giáo mở lòng nhân từ (hay là sợ tù toi mạng?), cho đốt đống lửa, mỗi tên tù làm chừng 25 , 30 phút được cho lên bờ, hơ tay, chân vào lửa ấm. 5 phút sau, xuống lại chốn địa ngục giá băng. Đôi bàn chân lại mò tìm trong bùn, đụng phải cây luồng, hò nhau thò tay lần tìm từ đầu đến cuối thân cây. Chao ôi là kinh khủng, không còn biết chân mình, tay mình ở đâu, có còn liên lạc với thân thể, khối óc mình hay không. Nỗi ám ảnh chuyện ngâm chân, tay trong tảng băng theo mãi trong tôi. Suốt mùa đông, niềm sợ hãi kinh hoàng vớt luồng gậm nhấm trí tưởng thằng tù khổ sai. May mắn, tôi không lần nào gặp lại công việc đó. Hoặc họ giao chuyện đó cho các bạn bên tù hình sự, quen khí lạnh Miền Bắc. Sau buổi sáng vớt luồng, tay chân một số tù Miền Nam xưng đỏ lên, phải nghỉ nhà mấy ngày.

Khoảng 4 tháng sau khi đến trại, đã quen với sinh hoạt và lao động của trại, cán Bộ Quản Giáo cho biết Đội 2 sẽ là “Đội Xây Dựng”. Một đợt thay đổi nhân sự, người Đội 2 đi đội khác, người đội khác vào Đội 2. Mấy tháng rồi, tôi quan sát đội xây dựng bên hình sự có một công việc thú vị, đó là đánh vữa. Theo quan niệm cố hữu, việc đó là công việc nặng nhọc, so với những tay làm thợ xây, gánh vữa. Tay Quản Giáo cho bọn chúng tôi tự chọn việc, hoặc làm thợ xây, hoặc gánh cát, gánh nước, gánh vữa, và trộn vữa (trộn hồ). Khi không đủ theo cấp số, tay Quản Giáo mới chỉ định công việc. Không ai nhận công việc nặng nhọc là trộn hồ, tôi xung phong. Mấy điều khiến tôi chọn việc nặng này là, làm xong việc thì nghỉ. Xong việc nghĩa là lúc nào cũng có vữa (hồ) sẵn cho thợ xây làm việc. Nếu họ xây nhanh, tốn nhiều vữa, phải làm nhiều, họ xây chậm, hoặc ít thợ, việc của tôi nhẹ nhàng hơn. Ngoài ra, người trộn vữa được cấp phát đôi ủng, mỗi năm một đôi, để đạp vôi cho nhuyễn. Mùa đông gió lạnh, mưa phùn, lạnh buốt, tôi là tên duy nhất được đi ủng, đôi chân ấm áp từ lúc ra khỏi phòng đi làm đến khi vào phòng buổi chiều tối. Một điều thú vị nữa là, dù trời mưa hay nắng, tôi làm việc dưới mái che. Sân vữa cần mái che để nắng không làm vữa mau khô, trời mưa có mái che, không cho nước mưa vào, làm vữa nhão. Và, tôi có quyền đốt một đống lửa nhỏ ngay cạnh sân vữa, có thể đun “gô” nước sôi uống cho ấm, ngồi sưởi ấm khi gió lạnh thốc từng cơn. Nhờ đống lửa, tôi lấy thùng sắt dùng gánh nước đun cho nóng, rồi mang xuống ven sông, hoặc vào khu nhà nào đó, tắm nước nóng. Trời ơi, mùa đông tắm nước nóng, tôi không nghĩ mấy tay công an làng nhàng vác súng dài được hưởng cái thú đó, ngay cả mấy tay cao cấp, dễ gì được như vậy hàng ngày.

Xin mô tả kỹ hơn việc trộn vữa. Vữa, tiếng gọi khác là hồ. Phu hồ, là người trộn hồ, tức trộn vữa. Để làm vữa, cần cát, vôi, nước. Đôi khi, rất hiếm khi, cho thêm xi măng, hoặc thay vôi bằng xi măng. Nước, có người chuyên lo việc đó, gánh nước từ sông lên để sẵn mấy thùng cạnh sân vữa, theo nhu cầu tôi tính toán. Vôi, cũng có người gánh vôi từ hố vôi của trại, đổ vào bãi vữa, nhiều ít, theo nhu cầu. Cát, hoặc có người gánh cát, hoặc có người kéo xe cát, đến đổ vào bên cạnh bãi vữa. Sau này, tôi chia sân vữa thành 2 sân nhỏ. Vữa trộn xong, để vài tiếng đồng hồ, sẽ dẻo hơn, hoặc tính kết dính của vữa tăng lên, giúp thợ xây làm việc dễ dàng hơn. Như thế, trước khi kết thúc ngày làm việc, tôi đã có sẵn một sân vữa nhỏ. Ngày mai, ra chỗ làm, tôi chỉ thêm ít nước, đảo chỗ vữa cũ, là vữa đã sẵn sàng. Sau đó, tôi tà tà làm chỗ vữa để dành cho chiều, hoặc hôm sau. Các bạn gánh vôi, gánh nước, gánh cát không phải làm “khẩn trương”, có thể tà tà theo nhịp làm việc của tôi. Khi ít thợ xây, khi công trình xây cất không gấp, một mình tôi trộn vữa cũng được. Khi cần nhiều vữa, tôi có thêm một bạn tù phụ tá, có giai đoạn cần 2 bạn phụ tá. Công việc của tôi là dùng cào, loại cào là một bản bằng sắt, không phải cào có răng, cào vôi ra, lấy chân đi ủng dẵm nát vôi, thêm từng chút nước cho thành chất sền sệt, rồi dùng sẻng xúc cát đổ vào sân vữa, từng chút một, trộn với nước và vôi, sao cho thành một chất vữa vừa đúng mức, để thợ xây dùng. Xúc cát, dẵm vôi, cào vữa để trộn đều, đúng là một công việc nặng. Gặp khi công việc đòi hỏi, thợ xây “gào” vữa, mùa đông mà tôi cũng đổ mồ hôi. Nhưng nếu mấy tay thợ xây phải làm 6, 7 tiếng một ngày, tôi thường chỉ làm chừng 2 tiếng đồng hồ. Nhiều khi làm có một tiếng, nửa tiếng cũng xong. Thực ra, mấy tiếng “gào” cũng chỉ là trò biểu diễn để bọn công an tưởng là bọn tù này làm việc “nghiêm túc”. Thời giờ rảnh, tôi làm gì thì làm, tên Quản Giáo, mấy tên Bảo Vệ để tôi yên thân, không ai có thể yêu cầu tôi làm thêm việc gì khác. Rồi đi tắm trước, ngồi la cà bên đống lửa, làm điếu thuốc lào, húp ngụm nước trà hay nước nóng. Mấy bạn gánh nước, gánh vôi ghé qua ngồi ké đống lửa, phê điếu thuốc lào. Nhưng nếu gặp ngày tên Quản Giáo khó chịu, thấy mấy chàng ngồi, kêu đi làm việc khác. Nhưng tôi thì không. Tôi phải gánh vác “Việc nặng nhất” của đội mà. Suốt 6 năm đầu ở Trại Giam Thanh Cẩm, tôi làm một việc đó. Đầu năm 1983, sau nhiều đợt thả tù mấy năm qua, và sau 2 đợt di chuyển tù vào Nam, số tù Miền Nam còn lại chưa đến 100 người. Lúc đó, họ dẹp Đội Xây Dựng của tù Miền Nam. Họ cho chúng tôi vào Đội Hồ Tiêu. Từ giã mái che sân vữa. Nhưng tôi vẫn còn giữ được đôi ủng. 6 năm, tôi được cấp phát 4 lần ủng. Sau một năm, ủng đâu đã hư. Một bạn nào đó có đôi bàn chân nhỏ bé, có thể được hưởng đôi ủng cũ của tôi. Về sau, họ hạt tiện, 2 năm hay một năm rưỡi mới cho thay ủng một lần.

Khoảng Tháng 3, Tháng Tư năm 1977, người ta rời hết tù hình sự ở 3 dẫy nhà tranh bên trái trại qua Khu Trại Giam B, cách Khu A này chừng hai cây số. Họ cho phá mấy dãy nhà đó. Đội Xây Dựng của các bạn hình sự được giao việc xây cất mấy dãy nhà gạch trên nền đất nhà tranh cũ. Sau đó, Đội 2, Đội Xây Dựng của nhóm Tù Miền Nam được đưa vào làm chung. Đến dẫy nhà thứ 3 từ dưới lên, Đội Xây Dựng hình sự không còn thấy vào làm việc, Đội 2 hoàn toàn đảm nhận việc xây nhà, tiếp tục cho đủ 3 dẫy nhà gạch, mái ngói, khu bên trái. Giữa năm 1978, 7 dẫy nhà trong khu Trại Giam A, gọi là “Khu K1”, đều là nhà gạch, cũng là lúc đón các bạn tù Miền Nam từ Trại Quân Đội, hoặc từ mấy trại Miền Bắc gần biên giới Tàu, về trại Thanh Cẩm. Trại Giam A nhốt toàn tù Miền Nam. Rồi đến đợt gần 40 ông Linh Mục về trong năm 1979, Trại Thanh Cẩm, Khu A, nhốt đến gần 800 tù Miền Nam.

Có giai đoạn nhân số Đội 2 tăng lên gần 30 người, khoảng 12 thợ xây. Tức là trại có những công trình “khẩn trương”.  Bình thường cứ 2 thợ xây cần một thợ phụ lo gánh vữa, gánh gạch đến nơi 2 thợ làm việc. Với 12 thợ xây, cần 2 người gánh vôi, 2 người gánh nước, 2 hoặc 3 người trộn vữa. Có một đội vận chuyển cung cấp vôi, cát, gạch đá cho đội xây dựng. Ngoài chuyện xây dựng bình thường, Đội 2 đã trải qua 3 công trình to lớn và “khẩn trương”. Tôi không nhớ rõ lắm thời gian diễn ra  công trình này. Có thể giữa năm 1978, chúng tôi phải xây lại khu nhà kiên giam, cuối năm 1978, đầu 1979, chúng tôi phải xây hồ chứa nước cho trại. Công trình này sau bỏ dở, có lẽ họ tính toán sai, hoặc không thực dụng, hoặc không có kinh phí. Và đầu năm 1980, chúng tôi xây lại cổng ra vào trại bằng bê tông cốt sắt, bên trên là tầng lầu dùng làm nhà ở cho Trực Trại.

Khi mới đến trại giam Thanh Cẩm (Khu K1), tôi chú ý một ngôi nhà nhỏ, mái có vẻ như làm bằng mấy tấm nhựa đen, ở mãi tít trên cao, sau 3 dãy nhà tranh nhốt tù hình sự. Đó là khu “Kiên giam”, nhà cửa xây kiên cố. Ngôi nhà có mái đen sau này nghe gọi là “Nhà Đen” tôi nhìn thấy từ dưới sân trại không phải là ngôi nhà độc nhất trong khu kiên giam, còn một ngôi nhà nữa có mái bằng ở sâu bên trong. Tường bao quanh toàn bộ khu kiên giam rất cao, khoảng 2 mét rưỡi tới 3 mét, nên phải đứng ở cổng vào khu này mới thấy nhà mái bằng. Tôi vẫn nghe nói “Nhà Kiên Giam”, rồi “Nhà Kỷ Luật”, thực sự không biết nhà nào có tên nào, và tính cách nhốt tù trong hai nhà đó khác nhau ra sao. Bên ngôi nhà đen tôi không rõ, bên nhà mái bằng gồm 8 phòng nhỏ, mỗi phòng có một sạp cao xây bằng gạch đá, mặt trát xi măng. Mỗi sạp đó đều có gắn thanh sắt dài, lủng lẳng mấy chiếc còng. Tù nhân bị nhốt kiên giam suốt ngày, suốt đêm bị còng chân vào thanh sắt đó, nhẹ thì còng một chân, nặng thì còng hai chân. Mỗi sạp nằm được hai hay ba người, nhưng ít khi họ nhốt chung như vậy. Sau này, khi nhốt mấy vị linh mục, họ cho ở chung. Tường chung quanh nhà kiên giam xây bằng đá, bề dày khoảng gần 1 mét. Tường ngăn cách các phòng cũng bằng đá, dày gần nửa mét.

 Sau hơn một năm “hành nghề xây cất”, Đội 2 có vẻ được “tín nhiệm”, nên bọn Ban Giám Thị trại giao việc xây lại Khu Kiên Giam. Lạ thật. Mình từ Miền Nam ra đây, xây nhà cho các bạn tù Miền Nam khác về ở, bây giờ lại xây khu kỷ luật nhốt các bạn tù Miền Nam “vi phạm kỷ luật”. Tự đút đầu vào tù, rồi lại tự xây nhà tù nhốt mình. Thế là thế nào nhỉ.

Có lẽ bọn công an trại chuẩn bị đón một số nhân vật đặc biệt vào khu kiên giam, nên cho xây lớn hơn, nhiều phòng hơn, sức chứa nhiều hơn, mái đổ bê tông. Sau này quả thực khu kiên giam đón các vị linh mục, sau nữa, là mấy nhân vật nổi tiếng như Đoàn Viết Hoạt, Phan Nhật Nam.

Khu kiên giam còn được nới rộng hơn nữa ở mấy năm sau, 1981, 1982. Phía sau dãy nhà trên cùng ở bên phải, hình như gọi là “Buồng 4”, còn một khoảng đất rộng trước khi đến bức tường trong, cao chừng 2 mét rưỡi đến 3 mét, bao quanh trại. Bên ngoài bức tường trong là một bức tường nữa cao chừng 5, 6 mét, trên có hàng rào kẽm gai. Một lối đi giữa hai bức tường rộng chừng 3 mét. Sau bức tường ngoài là đường đi hoặc đất còn bỏ hoang. Trong 7 năm ở Thanh Cẩm, tôi thường được ở “Buồng 4”. Đúng ra, giai đoạn 2 năm đầu, cứ vài tháng họ lại xáo trộn người trong mỗi đội, chuyển từ đội này qua đội khác. Mỗi đội cũng phải chuyển phòng (tức là các dãy nhà), vài tháng một lần. Bất ngờ một hôm nào đó trại cho tù Miền Nam nghỉ đi làm, ở nhà. Rồi một lũ công an ào vào các buồng, hò hét tù mang đồ đạc cá nhân ra bày ngoài sân nhà. Họ kiểm soát, xem xét từng tý mớ đồ đạc hỗn độn này, tịch thu những thứ họ cho là nguy hiểm, mảnh sắt, cái đinh, lọ muối, … Sau đó, thường là đổi buồng. Kể từ năm thứ 3, 1979, trở đi, nhịp độ “bày hàng”, chuyển buồng chậm lại. Tôi, tức là Đội 2, hay được ở “Buồng 4”, hoặc “Buồng 3”, hoặc qua dãy nhà bên trái, ở “Buồng 7”, cũng là buồng ở trên cao. Từ dãy buồng trên cao này, chúng tôi hay ra khu đất cao trên cùng, gần ngang với khu đất Kiên Giam. Khu này khá rộng vì theo chiều rộng cái sân giữa trại ở bên dưới. Buổi chiều, từ khu đất cao này, tôi ngắm được những dãy núi xa xa phủ kín màu xanh của rừng lim, rừng trẩu. Hoa trẩu nhìn từ xa, một màu trắng toát, tưởng như tuyết phủ đầy sườn núi. Ngay trước cổng trại, chạy thoai thoải xuống độ sâu chừng 20 mét, là dòng sông Mã. Bên kia sông Mã là giải đất hẹp dưới chân núi cao chắn ngang như tường thành, vài nóc nhà dân cư, nghe nói hầu hết là dân Hà Nội, sau 1954, “đi kinh tế mới’ vào đây.

Có lẽ khoảng năm 1981, khu đất thênh thang tôi thường ra đứng ngắm núi rừng, bị chiếm dụng để nới rộng khu kiên giam, hay khu kỷ luật. Một dãy nhà chia thành nhiều phòng nhỏ do Đội 2 xây nên, chạy dài theo chiều ngang sân trại. Mỗi phòng một cửa ra vào bằng song sắt. Bên trong cũng bệ xi măng, cũng thanh sắt cùm. Dãy nhà đó cũng có tường cao bao quanh như khu kiên giam. Cho đến năm 1984, dãy nhà kiên giam này chưa có khách, ngoại trừ một bạn tù bị nhốt lẻ loi trên đó, tôi nhớ vào cuối năm 1982. Bạn tù hình sự tên Chiến Chàm, có vết vẽ màu chàm ở thân thể, tay chân. Bạn bị bệnh bao tử, trại chỉ cho ăn toàn sắn (khoai mì). Cuối cùng bạn qua đời vào một đêm mùa đông. Mấy ngày liền bạn kêu la thảm thiết vì bao tử hành, van xin một chút cháo trắng. Tiếng van xin ai oán len vào cửa sổ buồng 4. Bọn tù chúng tôi tìm được gạo nấu bát cháo trắng, nhưng Trực Trại cấm mang cho chàng. Đến đêm thứ tư, tiếng van xin im bặt. Sáng ra, khi mở cửa buồng, Trật Tự báo tin chàng đã chết. Thân thể cứng đờ, lạnh cóng. Ở một đoạn khác, tôi sẽ nhắc lại về bạn Chiến Chàm.

Viết xong mấy dòng trên, tôi không tránh được chuyện thêm mấy chữ sau đây: Sống qua những nhà tù cộng sản, nhất là ở Miền Bắc, một sự thực hiển hiện tôi nhận ra được, là sinh mạng một con người trong nhà tù này, cả ở ngoài xã hội của chế độ cộng sản, không bằng một con chó. Mạng người rẻ lắm. Mạng người như một thứ rác rưởi, nhiều khi người ta muốn phủi tay, vứt đi cho rảnh. Giữ lại chỉ “rách việc.”

Tôi mới đi qua một “công trình” lớn của Đội 2, Đội Xây Dựng, là Khu Kiên Giam. Bây giờ tôi kể về công trình lớn khác, xây cất khu “Cấp Thủy”. Thực ra, tên dự án này là gì tôi không biết, tôi dùng hai chữ Hán Việt đề huề “Cấp Thủy’ cho nó oai, cho rõ tính chất “công trình lớn” của trại.

Trại giam Thanh Cẩm nằm trong xã Cẩm Thành, cách huyện lỵ huyện Cẩm Thủy khoảng trên, dưới 20 cây số. Tôi nhớ mài mại trại giam này nằm trong đất làng Chiềng Chàm, nơi có hơn 90% là người Mường. Sau này người ta gọi huyện lỵ Cẩm Thủy là Thị Trấn Phong Sơn. Tôi không rõ con đường xe chạy từ Phong Sơn về xã Cẩm Thành có đi qua đất trại giam Thanh Cẩm hay không, nhưng tôi biết rõ con đường dân chúng đi lại tại địa phương có xuyên qua đất trại. Con đường đó chạy qua ngay sau lưng khu trại giam K1, tức Khu A, là nơi giam giữ chúng tôi, giữa bức tường cao bao quanh trại giam và chân núi đá vôi. Khi có người nhà đến thăm nuôi, từ cổng trại khu K1, chúng tôi có thể thấy người đi bộ, hoặc ngồi xe trâu đi trên con đường đó, chạy vòng theo sườn đồi, trên cao. Dọc theo con đường đó về phía đông là khu trại giam K2, đi về phía tây là những khu làm gạch, gọi là lò gạch, và mấy khu sản xuất khác của trại giam. Con đường này của địa phương rất rộng, xe hơi đi lại thoải mái, khiến tôi thắc mắc rằng nó có nối kết hay không với tỉnh lộ 217 là con đường lưu thông với phía Lào. Khi đã bị nhốt lâu khoảng 5, 6 năm, “đủ thân” để tôi gạ chuyện, một anh công an mới vào ngành, còn quá trẻ, úp mở nói rằng, từ trại, cứ đi về hướng tây chưa đến 20 cây số là đã tới đất Lào. Tuy nhiên sẽ phải vượt qua “cả ngàn” rặng núi. Trở lại với “công trình” lớn thứ hai của Đội 2 Xây Dựng, công trình đó nằm ngay sát con đường đi về thị trấn Phong Sơn, khoảng giữa K1 và K2, cách khu K1 khoảng 1 cây số, cách khu K2 xa hơn một chút. Tôi hy vọng có thể mường tượng đúng vị trí các nơi của toàn bộ trại giam Thanh Cẩm.

Con đường tôi mô tả ở trên có đoạn song song cùng sông Mã. Bọn Ban Giám Thị trại dự trù xây bồn chứa nước khổng lồ trên một ngọn đồi cao, một bên sát với sông Mã, một bên cách con đường đi khoảng 100 mét. Họ dự trù đào sâu xuống đất ở đỉnh ngọn đồi, rồi đổ bê tông cốt sắt, xây lên thành bồn chứa nước, từ đó chạy ống nước đi khắp trại. Họ sẽ dùng máy bơm nước từ sông Mã lên bồn chứa nước cao hơn mặt sông đến hàng trăm mét. Sau này tôi vẫn hồ nghi về tính đứng đắn của công việc này. Không rõ có đúng là họ dự định làm một dự án như vậy, hay không, như lời anh chàng Quản Giáo lúc đó ba hoa. Thực tế, mấy đội khác hỗ trợ cho công việc của Đội 2 có chở một đống cát, đá … đến đổ ở khu chúng tôi làm việc. Cũng có thể đó là ý định đứng đắn của họ, nhưng họ không lường hết được khía cạnh tài chánh, khía cạnh chuyên môn của dự án, nên dừng lại sau 4 tháng chúng tôi chuẩn bị. Mà nếu nói đó mới chỉ là một ý nghĩ ngông cuồng của một anh”Ban” điên điên nào đó có vai vế, chắc cũng không sai. Bởi vì, “nước sông, công tù”, cứ thử đi, mất gì đâu mà sợ. Có điều, suốt mấy tháng làm việc ở “hiện trường”, tôi chỉ thấy vài lần có anh “Ban” nào đó ghé qua, chưa hề gặp một tay chuyên viên nào đến quan sát, bàn thảo, như khi làm “công trình” thứ 3, nhỏ hơn sau này.

Tuy nhiên, 3 hay 4 tháng “Cấp Thủy” đó, hình như vào mùa đông năm 1979, lại là khoảng thời gian đáng nhớ của đời tù thằng tôi. Mấy tháng đầu mới tới trại giam Thanh Cẩm, họ cho chúng tôi đi làm tạp dịch, quanh quẩn khu văn phòng, nhà kho, là khu làm việc của Ban Giám Thị. Tức là tôi được ra khỏi “cổng trại”, đúng ra là “Cổng trại giam K1”. Tuy nhiên chưa phải là nơi có thể gặp được dân thường, những người không phải công an, không phải người làm việc của trại giam. Sau đó, ở Đội Xây Dựng, tôi cũng chưa bao giờ đi làm ở ngoài 4 bức tường trại giam K1. Xây mấy dãy nhà trong K1, xây khu Kiên Giam cũng trong K1. Suốt 3 năm, tôi chỉ biết 4 bức tường cao vòi vọi. Đứng nơi cao nhất trại giam, có thấy xa xa núi non, bãi bờ sông Mã. Mỗi buổi chiều có được đưa ra khỏi cổng trại để đi tắm sông, chỉ biết từ cổng trại xuống bờ sông, thấy mặt nước mênh mông êm xuôi hay sóng trôi cuồn cuộn, theo mùa. Đôi khi thấy vài chiếc thuyền lững lờ dăng lưới, họ cũng không dám đến gần bọn tù. Có được nghe tiếng gõ mạn thuyền đều đều như tiếng gõ mõ, có được thấy ánh lửa leo lét giữa thuyền, được nhìn cậu bé co ro bên bếp lửa. Mùa đông khi giăng lưới bắt cá trắm cỏ, bác thuyền chài gõ vào mạn thuyền để xua đàn cá chạy trốn, vướng vào lưới. Bây giờ, cuối năm 1979, nhờ “Cấp Thủy’, tôi được đứng ngay cạnh đường đi, được gặp những người trong đời sống bình thường. Có thể đó là niềm vui, nhưng cũng có thể là điều đáng buồn. Buồn hay vui, đều đáng nhớ, nhớ mãi.

Một buổi sáng mùa đông 1979, khoảng 7 giờ rưỡi sáng chúng tôi đã đến “hiện trường lao động (khổ sai)”. Giờ đó ở miền núi lạnh lắm. Mây còn giăng khắp bầu trời, gió lạnh từng cơn từ sông Mã thổi lên, khí lạnh từ mấy rặng núi dồn xuống. Gió rét căm căm. Nghe tiếng lao xao, líu lo, không rõ người ta nói cái gì, tôi vác cây cào vữa ra đứng gần đường, sát cạnh một con đường mòn đi tắt vòng theo ngọn đồi, và gặp một đám mấy bà dân địa phương nhanh bước đi qua. Họ rảo bước, hai tay vòng ôm lên ngực. Ai cũng phong phanh cái quần, manh áo mỏng tanh, hai bàn chân không giầy, không dép. Chắc là lạnh lắm, đi nhanh cho ấm, hai tay ôm ngực cho ấm. Giữa đám 3, 4 bà đó, trời ạ, một cô bé gái và một cậu bé trai, chắc là chị em, cũng rảo đôi bàn chân thâm tím trên mặt đất trần trụi. Cô bé chừng 10 tuổi mặc quần, không áo, cậu bé mặc áo, không quần. Chắc hai chị em chia nhau bộ quần áo duy nhất khi đi ra ngoài. Tôi quay lại phía sau, vài bạn tù đứng như trời trồng. Rồi chúng tôi xực tỉnh kịp thời, tôi gọi giật đám người đó lại. Có lẽ là dân Mường, họ nói gì trong cơn hốt hoảng, chúng tôi cũng không rõ. Tôi ra hiệu, đưa lên chiếc áo len, một anh bạn đưa chiếc quần ka ki dầy cộm, chúng tôi chỉ vào hai đứa bé. Một bà, chắc là bà Mẹ, chạy đến cầm áo, quần, miệng líu lo những gì gì đó, rồi bỏ đi ngay vì anh chàng Bảo Vệ vác súng dài đã tới. Chàng ta cũng kịp hiểu rằng chúng tôi muốn cho hai đứa trẻ áo quần, nên không nạt nộ như mọi khi, các anh không được quan hệ mua bán, đổi chác với dân làng. Sau này, một bạn tù khác cho biết anh chàng Bảo Vệ có ra dấu cho đám dân làng được nhận áo quần của chúng tôi.

Hình ảnh đó buồn lắm quí vị ạ. Nỗi ray rứt theo mãi trong tôi. Nỗi buồn gậm nhấm mãi trong tôi. Các bạn tù chúng tôi đều buồn. Người dân miền núi này khổ quá. Những bạn tù được đi tự giác, lang thang vào làng, gặp người này, người nọ, kể rằng dân ở đây chưa hề biết hộp sữa đặc là gì, một cái kẹo ngọt nhỏ xíu, mỗi năm may ra được ngậm một lần trong ngày Tết. Còn về thuốc men, tôi đã, hoặc sẽ, kể ở nơi khác. Hôm đó, tôi may mắn thấy họ từ xa, vài anh bạn tù cũng may mắn đến gần chúng tôi, nên chia sẻ được cho họ cái quần, cái áo. Mùa đông, khi đi lao động chúng tôi thường mặc nhiều áo quần cho đủ ấm. Mấy vị lớn tuổi, có vị mặc 3 hay 4 cái quần, 5 hay 6 cái áo. Bình thường, có người mặc 3 quần, 4 hay 5 áo. Tôi nhờ được đi vớ với đôi ủng, nên cảm giác lạnh có bớt đi, chỉ mặc 2 quần, 3 hay 4 áo. Cả bọn mặc một đống áo quần, khi làm việc, cởi dần ra. Cho nên, tôi có cởi chiếc áo len thì vẫn còn 3 lớp áo, áo trong, áo ấm, rồi áo khoác dầy cộm. Anh bạn ở gần cũng kịp cởi cái quần tù vải dày màu xanh bạc thếch, nhưng không dám đưa vì in chữ của nhà tù. Sau này mới biết người dân cũng lấy cả áo quần tù, họ sẽ chế biến lại để che bớt, bôi bớt mấy chữ to tướng của nhà tù in trên đó. Về sau, bọn tù chúng tôi thường mặc dư áo quần, để nếu có gặp cảnh dân làng như vậy, còn có thể cho. Chẳng mấy khi có dịp.

Dịp gặp những người dân làng gồng gánh đi buôn bán ngoài chợ thì nhiều hơn. Có phiên chợ họp đâu đó ngoài xã, hai tuần một phiên. Mấy tuần đầu gặp họ, chúng tôi chỉ đứng nhìn. Sau này Quản Giáo cho phép, nói anh nào có tiền cứ hẹn họ ghé vào, mua bán gì đó. Xem ra, những thứ chúng tôi muốn mua thì lại không có, như thịt heo, thịt gà, mật ong, mật mía, đậu hũ. Họ đi bán vài quả cau, mấy trái cây gì đó của miền núi, ít vỏ cây làm thuốc, hàng dệt thủ công, cóc, nhái, … những gì họ kiếm được từ vườn, từ nhà, từ rừng, từ núi. Có lẽ là ngày trước ngày rằm với ngày trước ngày mùng 1 có phiên chợ, cứ khoảng từ 10 giờ sáng trở đi đến độ 2 giờ chiều, chúng tôi lại nghe thứ tiếng líu lo như chim hót, đó là đôi ba người gồng gánh, hoặc đội thúng mủng, đi qua dưới đường. Cuối cùng, mấy bạn tù rủ nhau nhờ anh chàng Quản Giáo hẹn một cô bán bánh cuốn. Ngày hẹn, cô bán được cho đám tù chừng nửa chỗ bánh cuốn cô có. Tôi cũng ham vui tham gia, bởi vì họ sẽ dùng sân vữa, bên “bếp” lửa hồng bày “tiệc.” Hơn 4 năm rồi mới nếm lại thứ bánh quyến rũ hồi tôi còn sinh viên. Hồi đó, tôi ngủ ở Quán Văn, 69 bis Gia Long, chiều chiều hay ra một xe bánh ướt đâu đó trong khu chung quanh chợ Bến Thành. Đĩa bánh ướt và vài đũa đã hết, nhưng nước mắm pha chua chua, ngọt ngọt, cay cay, lại thêm mấy cánh hành khô đọng mỡ dưới trên đĩa bánh, ôi chao, phải ăn ba đĩa mới đã. Còn mấy lát giò sắt mỏng, có cũng hay, không có cũng chẳng sao. Vài anh bạn tôi thế nào cũng đòi cho được một miếng cắt ra từ cái bánh hình cái oản làm bằng đậu xanh, có người gọi là bánh tôm vì có chú tôm con nằm bên trên, có người gọi là bánh cóng. Tôi thì cứ trần sì bánh ướt rưới nhiều mỡ, lớp bánh mỏng và mát, ngập trong nước mắm pha tuyệt vời dầy đặc với hành phi thơm phức, thêm ít cọng giá đã trần qua nước sôi. Thế là đủ rồi. Còn nơi chốn rừng núi xa xôi này, nước mắm mặn chát, chắc là pha bằng muối với ít nước màu, vài lát ớt tươi đỏ, và “bánh cuốn” là mấy lớp bột tráng dày. Nhưng cảm giác chắc không kém gì đĩa bánh ướt ngày xưa.

Cũng là hẹn hò, bây giờ là chuyện hẹn hò mấy bác thuyền chài. Theo nội qui trại, phạm nhân không được giao tiếp, liên lạc với người dân trong vùng. Anh chàng Quản Giáo dễ tính của Đội 2 vào năm 1979 cho chúng tôi mua đồ ăn của các bà, các cô gánh gồng đi bán. Còn chuyện tôi mua cá của bác thuyền chài, chàng ta coi như không biết. Coi như còn có người tốt bụng trong đám công an.

Mấy tháng chúng tôi làm vệc tại “ngọn đồi cấp thủy” chỉ là giai đoạn sửa soạn cho công trình lớn. Công việc nhì nhằng, dựng mái cho sân vữa lớn gấp đôi bình thường, xây bồn chứa vôi dưới chân đồi, xây ngôi nhà nhỏ trên đỉnh đồi để làm “nhà lô”, tức là nơi mấy tay công an coi tù trú mưa, trú nắng, cũng là nơi cất giữ dụng cụ làm việc, nhà có cửa khóa. Cả nhà và mái sân vữa phải làm tương đối chắc chắn vì trên đồi gió lộng. Công việc nhì nhằng, vữa cũng nhì nhằng. Cát, vôi, nước đã có người gánh lên tận sân. Mỗi ngày tôi làm việc chừng hơn một tiếng đồng hồ đã xong việc. Loanh quanh tán dóc một hồi, tôi xách nửa thùng nước nóng xuống bờ sông, pha thêm nước lạnh, rồi tắm giữa thanh thiên bạch nhật. Phải tìm chỗ khuất, tránh con đường mòn lỡ có người đi qua, tôi mới dám tô hô trong gió lạnh ngang dọc dòng sông. Riết rồi cũng có hôm tôi gặp bác thuyền chài đang cho con thuyền xuôi theo dòng nước, mái chèo khoắng nước cho vui. Vẫy mãi bác mới mạnh dạn đến gần bờ. Thằng tôi nhìn rõ trên thuyền chỉ có mình bác, cứ thế tô hô nói chuyện. Hỏi rằng có cá không. Đáp rằng mới có một con. Hỏi tính bao nhiêu. Đáp con này áng chừng 4 cân, tính bác 10 đồng. Thằng tôi trần truồng, mới nhớ ra mình làm gì có tiền mang theo. Nếu hẹn ngày mai chắc gì ông ta cần gặp. Cũng hẹn bừa. Ngày mai, bác lo cho tôi một con như vậy, tôi trả 20 đồng. Phải tăng giá để bác ta không thể bỏ qua dịp may kiếm tiền. Cuối cùng, hẹn ngày mai, cũng khoảng như hôm nay. Chữ “khoảng” có ý nghĩa cả địa điểm, cả giờ giấc.

Thực ra phải nói rõ thế này: Tôi là tên Bắc Kỳ lớn lên ở Miền Nam, giọng Bắc, tiếng Bắc đã có lai lai, nhưng người Hà Nội và miệt xuôi hiểu được dễ dàng. Còn nơi thượng du toàn người Mường này, ai nói người ấy nghe, “đối thoại hòa bình” khó lắm. Mấy câu trên chỉ là tôi dự đoán, không bảo đảm có đúng như bác ta nói không. Gọi tay thuyền chài là bác, nhiều khi cũng quá, có khi tay này chừng 30 là cùng. Lúc đó tôi đã 36 tuổi, chắc trông trẻ hơn tay đó. Người dân khổ cực, ít khi được cười, nên già trước tuổi rất nhiều. Tôi xin kể một thí dụ buồn cười, cũng có thể cười ra nước mắt. Buổi tối cửa buồng khóa, là giờ “trà lá” nói chuyện tầm phào. Một anh bạn thuộc đội khác kể, đang chống cuốc “trây lười” bên mấy gốc khoai mì, một bà lão tất tả xách bị đi dưới đường. Hỏi với, bác đi thăm nuôi hở. Chắc là một bà đi thăm nuôi bạn tù hình sự. Trả lời, ừ, thăm nuôi. Hỏi ngược lại, thế anh cải tạo lâu chưa, đáp, gần 4 năm rồi. Trông còn trẻ, khỏe mạnh lắm, năm nay bao nhiêu? Dạ, cháu mới 38 tuổi. Còn bác? Ơ, “Em” mới ngoài 30 thôi! Khách nghe cười xong, anh bạn kể tiếp, tôi đớ người ra, vứt mẹ nó cuốc đi, đời chó gì mà người ta khổ thế! Dứt cười. Tôi đồ rằng bà ta bị bất ngờ, nên khai tăng tuổi, “ngoài 30”, có khi vừa chớm 30, hoặc 28, 29 tuổi cũng nên. Ca dao kể rằng, “ra đường thiếp vẫn còn son, về nhà thiếp đã 5 con cùng chàng”. Ở miền núi, chẳng có gì giải trí, 14, 15 tuổi đã lấy chồng, “thiếp” này dám có đến chục con. Tôi là thằng dốt nát, lỡ trích dẫn văn thơ có sai, xin quí vị cứ cười, nhưng chỉ bảo giùm. Được học thêm, biết ơn lắm lắm.

Hôm sau tôi hẹn mấy chàng tù nữa mang theo chén bát, ca nhựa, ca nhôm gì đó, làm bữa cháo cá giữa trời. Chúng tôi chuẩn bị ít gạo, muối. Giờ hẹn, tiền chao, cá xách. Tôi xách con cá nặng, buộc vào cành cây cao, chạy vội lên nháy một anh bạn xuống làm cá. Ở tù mấy năm rồi, tôi vẫn sợ mổ bụng cá, đánh vẩy. Anh bạn gốc Tiền Giang sông nước, loáng một cái con cá đã sạch sẽ, bụng phanh ra, mắt đục lờ đờ. Tôi bắc thùng gánh nước lên bếp, đã có nửa thùng nước sẵn, đổ ít gạo vào, cho cả con cá vào, cứ thế mà thêm củi cho mau sôi. Không dám nấu cháo trước vì chưa biết có mua được cá không. 5, 6 đứa nhân giờ giải lao, “báo cáo’ với Quản Giáo. Chàng ta ngước mắt nhìn ra, ngạc nhiên, nhưng cũng gật đầu. Mấy tên tù quây quần “đánh chén”.  Thiếu chút nước mắm, đã có muối. Thiếu chút tiêu, đã có mấy trái ớt rừng. Hơi ân hận chút xíu, vì không thể mời cả đội tham gia, gần 30 chục mống. Nếu mang cá về buồng nấu, ăn uống ung dung hơn, chắc gì qua được cửa ải Trực Trại ở cổng, có khi mất toi.

Nhớ lại “nồi” cháo cá thuở nào, vẫn thấy vui vui.

Được đi “lao động” ngoài đồng, có dịp nghe, thấy nhiều điều của cõi trần gian này. Chữ “ngoài đồng’ là tiếng tổng quát hay được dùng để chỉ làm việc giữa trời, không nằm trong 4 bức tường thành trại giam. Cõi thế gian chúng tôi đang sống ẩn chứa nhiều điều đau sót lắm, khiến riêng tôi cảm thấy mình “tốt số” hơn người dân quanh vùng, hơn các bạn tù bên trại hình sự Miền Bắc.

Buổi sáng trên đường đi làm đôi khi gặp các đội hình sự đi cùng chiều, đi ngược chiều. Bây giờ vẫn là mùa đông 1979, khí lạnh, sương lạnh, ánh mặt trời đã le lói hình như lại đè cho sương lạnh xuống gần đất hơn, những bước chân trần của bạn tù bên kia chắc lạnh giá hơn. Đang đi, bỗng thấy mấy bạn tù người Thổ, người Nùng, người Thái, người Mường, chạy qua vệ đường, hái nhanh vài nhánh cỏ non. Họ ăn cả cỏ, không phải tôi “nghe nói”. Chính mắt tôi nhìn thấy có người trong bọn họ hái cỏ, lựa những đọt cỏ non, cho vào mồm, nhai, nuốt. Tôi cũng chứng kiến mấy người thiểu số mạn bắc đó dành nhau một con cóc hay nhái chết dọc đường. Không biết con vật chết bao giờ, một bạn tù nhóm chúng tôi cho rằng đã có mùi hôi. Cuối cùng mỗi anh tù thiểu số chia nhau một mẩu xác con vật kia, nắm khư khư trong tay. Anh bạn đi cạnh tôi nói, chắc họ chờ lát nữa đến nơi lao động, có lửa, sẽ hơ sơ sơ trên lửa rồi mới ăn. Còn chuyện này tôi nghe kể. Có anh tù chính trị làm công việc tự giác là đi gánh phân. Anh thu vén những sọt phân từ các buồng trại do chúng tôi thải trong ngày, trong đêm, mang đến một nơi để ủ cây xanh làm thành phân bón. Anh kể rằng, bắt gặp mấy chàng tù thiểu số xuống hố hót đống phân mới đổ, mang ra sông rửa, rồi ăn. Bởi vì phân đó là những hạt “bo bo”, còn gọi là “cao lương”, trại nấu cho tù ăn. Những hạt này thường là món ăn chính của ngựa. Nấu mãi cũng chỉ hơi mềm, ăn vào thế nào, đi ra thế ấy, vỏ cứng và dai, không làm sao tiêu được trong dạ dày con người. Không hiểu sao người ta không xay mấy hạt đó trước khi nấu. Hoặc là tốn tiền, hoặc không có máy say loại đó ở miệt rừng núi này. Hoặc là “mặc M. chúng nó, mấy thằng ngụy!””

Ở trên tôi kể, thân phận tù đầy, sống chết ra sao chưa biết, nhưng tôi vẫn cảm thấy tốt số hơn mấy người dân trong vùng, hơn mấy bạn tù hình sự. Tôi là thằng tù chính trị Miền Nam, một năm đôi ba lần được nhận quà gia đình gửi qua bưu điện. Tôi còn giữ được mạng sống là nhờ chút lương thực, thực phẩm “chất lượng” của Miền Nam, ít thuốc Tây, ở nơi này gọi là “thuốc thánh”, công hiệu như có phép màu của thánh thần, từ Miền Nam gửi ra. Bọn cán bộ trại giam uy quyền, cơm ăn, áo mặc đầy đủ, hơn gấp bội dân thường, còn xin xỏ bọn tù chúng tôi. Cái lạp xưởng họ cũng chưa từng biết qua, tính cấm không cho tù mang vào trại, tưởng là nến (đèn cầy). Đốt mấy mảnh giấy gói đồ, hơ cái lạp xưởng, cho ăn thử, gọi nhau ơi ới, “ngon cực!” Vậy thì những người dân làng chung quanh, những người Mường ở làng Chiềng Chàm, đời sống họ đơn sơ đến đâu, thiếu thốn đến đâu? Không lẽ cả cuộc đời, đời cha, đời con, đời cháu, chỉ biết mấy củ khoai mì, khoai lang, cái bắp ngô. Chỉ thế thôi sao? Cũng gọi là sống đời một con người? Nhưng dù sao họ còn nhiều điều hơn những kẻ trong nhà tù hình sự Thanh Cẩm. Đó là “tầng đáy” của xã hội. Nhưng ngay chính trong tần đáy, lại còn có mấy “tầng”. Cùng cực hơn nữa, dưới hơn nữa, dưới nhóm tù hình sự người Kinh, còn đám tù hình sự thiểu số Miền Bắc. Gọi họ là “tù hình sự” cũng oan. Họ không bị tù vì ăn trộm, ăn cắp, cướp của giết người. Họ sống ở biên giới Việt Tàu. Sống trên đất Việt Nam, nhưng từ lâu đời nói tiếng sắc dân mình, gần với tiềng Tàu hơn tiếng Viêt. Nhà nước cho rằng tất cả những người này sẽ làm tình báo cho Tàu, sắp đánh nhau đến nơi, chi bằng gom hết đám đàn ông con trai lại, cho vào tù. Thế là yên tâm. “Giết lầm hơn bỏ sót”.

Nhà tù phía bắc di tản xuống phía nam. Một số tù người Thượng miền Bắc chuyển về Trại Thanh Cẩm. Chắc chắn họ không thể liên lạc gia đình. Sơ tán, gia đình họ trôi dạt về đâu, sống làm sao, họ cũng không biết. Ở đâu chăng nữa tại khu vực phía bắc, xa Thanh Hóa quá, những người sơn cước đó làm sao đi được tới tỉnh đầu của Miền Trung. Những bạn tù người Thượng này chỉ sống hoàn toàn bằng lương thực, thực phẩm của trại tù. Với mỗi ngày vài củ khoai mì, vài củ khoai lang đuôi chuột, và ít nước muối, áo quần không đủ, tồn tại được là điều khó khăn. Bọn đầu gấu lớn, đầu gấu nhỏ còn bắt đám tù Thượng phục dịch hầu hạ. Nhân đó, bọn “vét đĩa” trong làng gây thêm cái nạn tù Kinh ăn hiếp tù Thượng, bữa cho ăn, bữa sén đi một phần. Những người tù gốc Thượng du Miền Bắc đã phải chen nhau ở tận cùng của tầng đáy tận cùng. Bọn Công An Quản Giáo, Bảo Vệ biết hết, nhưng lờ đi. Không ai dỗi hơi lo chuyện bao đồng.

Nhớ lại các cháu Bù Gia Mập, nhớ lại đám tù sắc tộc ở biên giới với Tàu, để thêm một điều xác tín: Trong xã hội này mạng người rẻ lắm. Nếu “Trí thức không bằng cục phân” thì mấy bạn tù kia còn đáng so sánh với cái gì nữa không!

Cuộc lang thang “ngoài đồng” mấy tháng rồi cũng chấm dứt. Trại bỏ ngang “công trình cấp thủy”, tôi về lại bãi vữa trong trại. Và, một “công trình lớn” nữa bắt đầu. Đội Xây Dựng nhận thêm một đội viên mới, tên Nguyễn Cao Quyền. Nghe đồn, anh này là Đại Tá Quân Pháp, có được đi trong ngạch ngoại giao ở Ba Lê, nước Pháp. Nguyễn Cao Quyền về đội để lo chuyện vẽ bản đồ xây một cái cổng trại tân kỳ cho khu K1. Lúc đó mới đang chuẩn bị, Đội 2 nhận mấy chuyện đi thu hoạch sắn, chờ ngày khởi công. Tôi được chỉ định làm vệ sinh ở nhà. Làm vệ sinh là quét sơ cái nhà, cái sân. Thế thôi. Làm cầm chừng độ 2 giờ đồng hồ cũng xong. Xong việc, tôi lấy mẩu khoai mì để dành từ tối qua, gọi là “ăn sáng”. Rồi tôi nấu tí nước sôi, pha vài cánh trà, nhâm nhi hưởng hạnh phúc những ngày đầu xuân. Đầu xuân, trời vẫn cố níu kéo cái lạnh. Uống tách trà nóng, một chút niềm vui trong cảnh tù.

Một hôm, một chàng sĩ quan công an vào buồng. Anh này trước đây mấy năm là Quản Giáo Đội 2. Quan Quản Giáo  ra lệnh bọn tù phải “gọi dạ, bảo vâng”. Khi Quan gọi tên ai, chàng tù đó phải dạ thật lớn. Mặt Quan non choẹt, xanh xám không rõ vì lạnh, hay vì bịnh, hay vì tuổi đang lớn mà thiếu ăn. Không vì vậy mà Quan mất uy quyền. Mấy tháng, nửa năm, chúng tôi được nhận thư gia đình. Buổi nọ Quan phát thư, bắt cả đội xếp hàng nghiêm chỉnh, gọi tên từng người. Ai cũng phải tuân lệnh Quan, dạ thật lớn và đưa 2 tay đón bức thư. Tôi quên kể Quan ra lệnh đưa gì, nhận gì với Quan, tù phải dùng cả hai tay. Đến lượt Quan kêu tên tôi, tôi la lớn “có mặt”. Quan ngạc nhiên ngước nhìn, không nói gì, vẫn đưa thư. Tôi tiến lên, đứng nghiêm, khẽ nghiêng người đưa một tay cầm thư. Định bụng, nếu Quan khiển trách, tôi có cách đối đáp. Nhưng Quan bỏ qua, đọc tên tiếp theo. Không rõ Quan có “ghim” tôi không, chỉ biết Quan không kiếm chuyện gì hành hạ tôi. Không ghim, nhưng chắc nhớ mặt. Rồi Quan đổi đi đội khác, rồi hôm nay Quan là sĩ quan, không rõ chức vụ gì, Phụ Tá Trực Trại chăng, đi vòng vòng kiểm soát các buồng chăng. Cũng có thể chàng phụ trách “công trình cổng trại,” vào gặp Nguyễn Cao Quyền coi vẽ đến đâu. Chàng vào, chuyện trò gì đó với anh Quyền ở phía đầu nhà. Tôi nghe Quyền nói sẽ nhóm bếp, nấu nước, pha trà. Rồi thấy chàng đi vào phía cuối nhà, đi vào phòng vệ sinh, như xem xét có sạch sẽ không. Lúc đó, tôi đang pha chút trà nhạt cho riêng mình nhấm nháp. Chàng xem xét một hồi, đi ra, qua chỗ tôi, chàng hỏi bâng quơ, anh Anh cũng trà lá nhỉ. Tôi trả lời, vâng, cán bộ làm một tách không. Cái kiểu mời rơi của Miền Bắc. Trà tôi uống không đủ tiêu chuẩn của dân uống trà Bắc Kỳ, cắm cái tăm vào bình pha trà, cái tăm đứng thẳng. Chàng buông một câu, A, cái hạng “vét đĩa”, uống cái gì. Nguyễn Cao Quyền nghe, cười khanh khách, nhắc lại, “vét đĩa!”. Đó là lần đầu tiên tôi được học một chữ mới. Và nhờ đó, tôi cũng biết thêm một người bạn tù. Tôi nhớ lại cụ Phạm Trọng Nhân, ngạch sứ thần, quả thực xứng đáng để đại diện đất nước mình trong vai trò đó. Cụ đang ở đâu đó nơi Miền Bắc này. Còn chàng Quản Giáo cũ, tôi với chàng còn mắc míu nhiều lần nữa.

Đến lúc bắt đầu “công trình lớn” thứ 3 của Đội 2, xây nhà hai tầng với cột nhà, sàn nhà bằng bê tông cốt dắt. Một chàng “Ban” nào đó đại ngôn, đây là công trình bê tông cốt sắt đầu tiên của huyện Cẩm Thủy.

Đội 2, được một số bạn tù đội khác tăng cường, bắt đầu phá cái cổng trại cũ, rồi đào móng cho căn nhà lầu. Tầng dưới căn nhà gồm hai phòng nhỏ hai bên, giữa là lối đi vào trại rộng trên 4 mét, với hai cánh cổng gỗ nặng nề, di chuyển trên bánh xe, theo đường ray lắp sẵn. Tôi quên tầng trên ra sao, mấy phòng, là nơi Trực Trại ở. Người ta giới thiệu một chàng kỹ sư xây dựng trẻ măng từ Thanh Hóa vào. Chàng lo điều hành công tác và chuyên môn. Chàng ta cũng kêu tôi vào ngồi họp để bàn bạc “tiến độ thi công” có lẽ vì tôi phải lo một trong ba phần việc quan trọng: trộn bê tông. Hai việc kia là tính toán sắt dùng, kết nối sắt, dựng cột sắt, và đổ bê tông, ép bê tông cho không còn chỗ hở, chỗ “bọng”. Chàng mời tôi họp vì khi mới gặp ở ngoài, chàng nghe tôi ba hoa thấy có vẻ “đúng sách vở”. Lúc làm Trưởng ty ở tỉnh Chương Thiện, Bộ cho kinh phí để xây cho tỉnh phòng đọc sách. Tính tò mò, tôi ra nơi xây cất, qua vài câu hỏi, tôi được ông nhà thầu dậy cho đôi điều về hồ (xi măng và cát), về bê tông, về cốt sắt. Còn nhớ chút ít, cứ thế mà phang ra. Lúc mới trộn vữa ở Thanh Cẩm, tôi lúng túng, vì không biết rằng có thể làm vữa bằng vôi, không cần xi măng. Trong vụ xây “nhà cổng” này, tôi thực sự là một thằng ngu. Bọn “ban bệ” ở trại muốn cắt xén xi măng, đá nhỏ trong tỷ lệ bê tông. Anh kỹ sư hỏi tôi bớt đi bao nhiêu thì được. Tôi nói số bớt là một tỷ lệ nhỏ. Sau này, họ bớt nhiều hơn, tôi cằn nhằn với anh kỹ sư. Cằn nhằn, nhưng vẫn phải làm, phải bớt thêm. Tôi ngu quá trời. Bọn nó muốn bớt nhiêu kệ M. nó. Nhà có sập thì cũng kệ M. nó, hơi đâu tôi lo. Tinh thần trách nhiệm là cái quái gì với bọn cộng sản, bọn bịp bợm, bọn lừa đảo, bọn dối trá! Và lạ một điều, tại sao anh kỹ sư không quyết định, lại hỏi thằng tôi. Hoặc vì anh còn quá trẻ, mới ra trường, tưởng tôi là chuyên viên nặng ký về bê tông. Hoặc là vì anh lấy tôi làm cái mộc để đối phó với mấy tên Ban Bệ của trại. Hoặc là vì lỡ có “sự cố” trong việc xây cất, thì tôi gánh vác việc sai sót này. Vì gì cũng vậy, cứ kệ M. bọn nó là xong. Đầu bò!.

Chuẩn bị mủa xuân, mùa hè khởi công. Làm giữa tháng hè nóng như đổ lửa. Tôi học được kinh nghiệm: Ở chốn tận cùng thiếu thốn, một chút nước đường ích lợi vô cùng. Ba ngày đổ bê tông, tôi phải làm không ngừng. Tôi phải điều động đội ngũ xúc cát, đổ xi măng, đổ đá, đổ nước, và 3 bốn đứa dùng sẻng trộn đều. Chính tôi phải trộn cho họ làm theo. Bê tông phải làm liên tục để có đủ cho việc đúc mấy chục cột một lúc, hoặc đúc sàn tầng dưới cùng một lúc, tầng trên cùng một lúc. Mồ hôi đổ ra như tắm, nhưng tôi không thấy mệt. Tôi đoán rằng vì tôi tổ chức việc nghỉ cho mỗi người hợp lý, và mỗi lần tôi nghỉ, tôi làm một hơi nước trà nóng pha đường. Đống lửa bên cạnh bãi bê tông, tôi để cái “gô” sẵn, khi cần, chỉ mấy phút, nước sôi. Móc túi lấy nhúm trà bỏ vào gô. Lúc uống, dốc thêm ít đường. thêm vài hạt muối. Đợi nước hơi nguội, làm liền nửa gô. Bù lại nước, muối đã mất. Trà (hàng chục sinh tố), đường, bù lại sinh lực đã mất. Tôi vẫn cảm thấy khỏe sau một ngày cật lực. Mà uống trà nóng cho ta cảm giác không còn khát nữa.

Gì thì gì, những phút tĩnh lặng trong tù, hai tên đần độn trong tôi cãi nhau suốt. Chữ “suốt” này dùng theo kiểu chữ nghĩa bọn nhà quê Cộng Sản Miền Bắc, tôi bị nhiễm lúc nào không biết. Ở đây, tôi ghi vắn tắt hai điều: Một là, hai tên đần độn tranh cãi, một tên nói tôi là “Thằng Ngu” khi cố làm cái việc trộn bê tông cho tốt, hoặc làm một bãi vữa cho tốt. Đó là tôi đang góp phần “xây dựng nhà tù” cho mấy tên Cộng Sản Hà Nội, … Một tên cãi lại, nói rằng, tôi là một “con người” của nền giáo dục, nền văn hóa Việt Nam chính thống, Việt Nam Cộng Hòa, một “con người thực sự” trên trái đất.  Điều vắn tắt thứ hai về những “phút tĩnh lặng” của tôi, ban ngày tôi thường thơ thẩn một mình, im lặng ngắm dòng sông Mã từ khu đất cao gần Phòng 4, và suy nghĩ; ban đêm, tôi ngồi tại chỗ tôi nằm, ngắm từng chiếc mùng các bạn tù đang ngủ, ngắm nồi niêu các bạn tù để dưới gầm sạp, ngắm 4 bức tường, ngắm hai ngọn đèn điện vàng ệch, tù mù thắp sáng suốt đêm, đôi chân đong đưa ở mép ngoài sạp trên, và suy nghĩ. Tôi chỉ “vắn tắt” hai điều trên, vì muốn trở lại kỹ càng hơn ở một nơi nào đó trong tự sự này. Chỉ sợ theo dòng ghi chép liên miên, tôi quên mất.

Cái chuyện xây cổng trại xẩy ra vào năm 1980, tôi nhớ thế. Có thể sai. Hỏi loanh quanh những bạn tù còn liên lạc, cũng ra, nhưng chẳng quan trọng gì. Tôi mới kể chuyện của năm 1980, nhưng thực ra, khi kể chuyện xây nhà kiên giam, tôi đã nhẩy qua năm 1981, 1982 khi kể chuyện nới rộng khu kiên giam. Như vậy, sau cái cổng trại “tân tiến, đồ sộ”, tôi không nhớ gì nhiều về công việc xây dựng. Tôi ra khỏi tù năm 1984, cuối Tháng 4. Thời gian còn lại sau “cổng trại” gồm các năm 1981, 1982, 1983. Hai năm đầu, Đội 2 lo xây thêm dãy nhà thuộc khu kiên giam, chiếm mất phần lớn khu đất tôi thường lang thang mỗi buổi chiều tà, ngắm nhìn non, nhìn nước. Lúc “giáp hạt”, Đội 2 tăng cường cho các đội khác, đi “thu hoạch” khoai mì, khoai lang, bắp, đậu phọng, …. Lại thêm công việc phá hội trường cũ, dựng hội trường mới, … Năm 1983, người ta giải tán Đội 2, chúng tôi vào Đội Hồ Tiêu.

Từ năm 1979, mỗi năm đều có một, hai đợt thả Tù Chính Trị Miền Nam. Năm 1982, 1983 lại có hai đợt chuyển tù Miền Nam từ Bắc về Nam. Tôi nhớ mãi hình ảnh tưng bừng, náo nhiệt của ngày một số lớn các bạn chuyển về miền Nam. Tập họp ở sân đi làm, các đội tù chính trị Miền Nam được lệnh ở nhà. Sau đó, đọc tên những người chuẩn bị đồ đạc chuyển trại. Hơn hai phần ba số tù Miền Nam còn lại được đọc tên. Mấy ngày rồi đã nghe tin đồn có đợt chuyển trại về Nam. Đợt trước chỉ có khoảng trăm người di chuyển, số còn lại khoảng 400, “phe ta” chỉ hơi nao núng, cho nên tin đồn thì đồn, không gây một nỗi lo âu. Bây giờ, “đi hết rồi!” Ào ào như ong vỡ tổ. Mỗi phòng đều diễn ra cảnh hỗn độn. Các bạn chuyển trại tung hết đồ đạc ra (nhà tù miền Bắc gọi là “đồ đoàn”), cái này mang về Nam, cái này “bàn giao’ cho người ở lại. “Người ở lại” cần trang bị thật nhiều, “Kẻ ra đi” về với “quê mình”, “đất mình”, ở giữa “dân mình”,  là vùng giàu có, là vùng quen thuộc, sẽ không cần nhiều. Tưởng như các bạn ấy không còn là tù nữa. “Ôi cảnh biệt ly sao mà buồn vậy!” Câu này đọc ở đâu, nhiều vị biết nhưng chắc không nhớ xuất xứ.

Sau đợt chuyển tù lớn năm 1983, số tù Miền Nam còn lại ngơ ngác nhìn nhau. Cũng còn đến gần 100 người đấy, nhưng sao quạnh vắng. Mấy dãy nhà bên trái từ 1982 người ta lấp dần dần tù hình sự khi số tù Miền Nam giảm đi. Nhân số khu K1 vẫn còn gần như vậy, vẫn khoảng 600, 700 người. Nhưng các phòng tù Miền Nam vắng hẳn đi. Chỗ nằm mỗi người bỗng thênh thang. Khi cả trại là tù Miền Nam, không thấy gì, cái “xã hội” đó vẫn có giáng vẻ của Xã Hội Miền Nam. Bây giờ chỉ còn mấy chục mống, cảm giác lẻ loi, ý nghĩ vĩnh viễn chôn vùi nơi đây bùng lên trong tâm khảm. Qua 6, 7 năm ở nơi này đã quen với mấy bạn hình sự, nay trong sinh hoạt hàng ngày, lúc tập họp đi làm, số người Miền Nam thành nhóm nhỏ bé giữa những sinh hoạt xã hội khang khác với những nề nếp, ngôn ngữ trước đây. Thuộc nhóm tù Long Thành, nhóm tù Miền Nam đầu tiên đến trại tù Thanh Cẩm, cái cảm giác “đất lạ, quê người’ trong tôi phải có từ lâu. Nhưng lúc đó, tôi đến đây với ý nghĩ “định mệnh đả an bài”, bản năng sinh tồn bảo tôi phải thích nghi với môi trường sinh sống mới, rồi các đợt tù Miền Nam tràn về, tôi quên dần cảm giác đó. Sống trong phú quí, vinh hoa, người ta dễ quên đi lúc bần hàn. Bây giờ, bỗng nhiên bạn bè vơi hẳn đi, “xã hội bình thường” mờ dần. Tôi rơi trở lại vào tiếng nói “lạ”, giao tiếp xã hội “lạ”, cảnh sống “mới, lạ”.

May mắn có một sự “điều chỉnh” cho cảm giác hụt hẫng, bất an của những cái “lạ” đó. Sau “cơn gió bụi”, Đội 2 còn lại chẳng được mấy nghoe, độ hơn chục nhân mạng, ở lâu, có vẻ ‘già rồi”, nên họ giải tán, cho vào Đội Hồ Tiêu”. Từ lâu, Đội Hồ Tiêu qui tụ những vị Miền Nam lớn tuổi, hằng ngày lê tấm thân còm cõi lên ngọn đồi trồng đầy mít dưới chân núi đá vôi, ngay bên vệ con đường chính sau lưng trại giam K1. Người ta trồng cây hồ tiêu ghé vào gốc mít, cho cây hồ tiêu leo lên sống gửi thân cây mít, không phải làm trụ leo như bình thường vườn hồ tiêu vẫn làm. Chẳng rõ thu hoạch chính của ngọn đồi này là gì, mít hay hồ tiêu. Thực ra, chính hay phụ, phần lớn sản lượng cũng chui vào đâu đó, số còn lại, chui vào Ban Giám Thị.

Hồ tiêu

Vườn hồ tiêu, hay vườn mít, chiếm trọn sườn ngọn đồi kéo dài hơn nửa cây số. Người ta trồng 500, 600 gốc mít từ lúc nào không biết, vào năm 1983, khi chúng tôi đến với đồi mít, cây đã cao và lớn, có thể đã 10 năm.  Sườn đồi dưới chân núi đá vôi không phải là nơi dễ có nước. Khu vực chung quanh trại toàn là cây lim, trẩu, vàng tâm, lác đác có hàng soan trong khu Ban Giám Thị. Trồng cây ăn quả, họ chọn cây mít có lẽ vì tương đối cây này cần ít nước, chỉ cần tưới lúc đầu cho cây con bán rễ, chăm sóc không cần nhiều công, độ 4 hay 5 năm bắt đầu cho trái.

Hơn 500 gốc mít, Đội hồ tiêu bây giờ chỉ còn độ 7, 8 người (tôi nhớ số đó, có thể sai), nếu quả thực muốn chăm sóc thật sự để gặt hái được nhiều cả mít lẫn tiêu, chắc là chúng tôi không thể nhàn nhã. Bọn Ban Giám Thị trại Thanh Cẩm có lẽ coi mấy trái mít, vài lạng tiêu chỉ là có cho vui, không nằm trong số 30%, 40% tiêu chuẩn lương thực tự túc, nên mấy tên tù dưỡng già cứ tà tà nhặt cỏ, tưới cây cho qua ngày qua tháng. Với tôi, đây là lần thứ nhì tôi được lang thang trên triền đồi, lang thang bên vệ đường ngắm nhìn người dân qua lại, lần đầu ở công trình cấp thủy. Sau 7 năm biết tù Miền Nam, bây giờ người dân địa phương không còn e ngại gần mấy tên tù hiền như Bụt. Duy có điều, ngôn ngữ bất đồng, nhìn nhau “thông cảm mà không nói lên lời”. Cũng có thể vì riêng tôi ít ra ngoài giao tiếp, nên tiếng Việt của mấy bà, mấy cô Mường dân làng, tôi chịu chết không hiểu. Mấy bạn đi tự giác, họ giao tiếp nhiều, “nhịp cầu thông cảm” dễ dàng bắc qua. Trong bọn công an ở trại, một số chàng cũng là dân địa phương, nhưng có lẽ được đi học ở huyện, tỉnh, rồi thành phố, rồi Thủ Đô, nên tiếng Việt của họ gần như dân kinh Thanh Hóa.

Giống như mấy năm trước ở ngọn đồi cấp thủy, ở ngọn đồi mít và tiêu cho tôi nhiều điều thú vị.

Trước hết, từ cả hai nơi, tôi được nhìn rộng hơn, xa hơn núi rừng, sông nước. Vào khỏang thời gian nào đó của năm, đúng là một bức tranh thủy mặc, khi khác, lại là làn thu thủy, nét xuân sơn. Tôi không được như mấy bạn tự giác hay những bạn đi rừng chặt cây, chặt nứa, lần mò theo đồi nọ, đồi kia, suối nọ, suối kia, để được thấy những cảnh kỳ hoa dị thảo. Chỉ từ hai ngọn đồi với dấu chân người dẫm nát, tôi cũng đã cảm nhận cõi thiên nhiên đang cưu mang con người trên đất nước mình, cưu mang có lẽ từ nhiều ngàn năm trước. Cõi thiên nhiên chan hòa sức sống, chan hòa âm thanh, màu sắc, chan hòa hồn xuân phơi phới, chan hòa ký ức lịch sử con người từ ngàn xưa và sẽ còn mãi mãi về sau. Và, những gì bất xứng với đất trời của ngày hôm nay sẽ có lúc tàn lụi. Có lẽ đó là tâm lý, là sự nhận biết, là ý thức của một tên điên điên, gàn gàn. Không sao, tôi sống an vui từng thời khắc giữa núi rừng này, nơi trại giam cộng sản, nơi thường được coi là một tầng địa ngục.

Trong vòng tục lụy, về cõi nhân gian thường nhật, có nhiều điều để kể ở ngọn đồi tiêu, mít. Anh chàng Quản Giáo hỏi chúng tôi có muốn mua gì ở chợ, chàng sẽ gửi mua vào những ngày có phiên. Chúng tôi gửi chàng mua mấy cân thịt lợn, ít nước mắm, chai rượu trắng thứ thật, tức rượu cất từ gạo, không phải rượu pha từ cồn 90 độ. Mấy chàng công an, có thể có lòng tốt, ái ngại chúng tôi thân phận tù đầy, nên có hảo ý. Bình thường, mọi người vẫn nghĩ rằng có sự giúp đỡ chỉ vì mấy chàng sẽ được chúng tôi chia phần rượu, thịt. Vì gì không biết, xế trưa ngày hôm đó, cả bọn 7, 8 tên tù Đội Hồ Tiêu quây quần “đánh chén”. Chúng tôi chia một nửa số thịt cho chàng Quản Giáo, phải đến 3 ký, còn rượu, chúng tôi giữ lại chừng một tách, đưa chàng cả chai. Mấy chàng Quản Giáo, Bảo Vệ hẹn nhau tối về sẽ xử. Cả năm chưa chắc họ được ăn nhiều thịt như vậy trong một bữa, có khi trong một tháng cũng nên. Phần chúng tôi, không muốn mang vào trại vì phải nhờ tên Quản Giáo nói với Trực Trại, không đáng, nên luộc ngay tại chỗ. Mấy bạn tù trước đã trồng sẵn ít cây húng, cây rau thơm, cây ớt. Chúng tôi cùng nhau bẻ cành cây làm đũa, buổi sáng mang theo bát đĩa, nồi niêu, lấy con dao chặt cây, tỉa lá trong “nhà lô” thái thịt. Hái rau thơm rửa xong bày lên đĩa thịt cao vòi vọi. Bát nước mắm thiếu chanh nhưng đỏ ối ớt. Riêng tôi, ngắt vài chùm hồ tiêu còn non, ăn kèm miếng thịt. Miếng thịt cho ra miếng thịt, dầy dặn, đủ cả, từ lớp bì mềm mại dẻo nhu cao su, rồi đến mấy lớp mỡ, nạc xen kẽ như đan sợi, rồi mới tới phần thịt nạc tươi thơm.Trời đất mênh mang, gió núi gió rừng gió sông lồng lộng, Một tiệc rượu, thịt nhớ đời. Mỗi tên chỉ nhấp một ngụm rượu mà đã ngất ngư, không dám hát ca vì sợ gió đưa đến mọi phương trời, lộ hết, lần sau hết đường nhờ cậy.

Chúng tôi “nhận nhiệm sở” tại đồi hồ tiêu được chừng ba tháng thì đến mùa “thu hoạch” mít. Nghe nói cây mít không có mùa, có quả quanh năm, nhưng có những tháng mít ra rất nhiều quả, tùy theo vùng, theo thời tiết. Có lẽ đồi mít Thanh Cẩm có “mùa” vào khoảng Tháng Tư, Tháng Năm. Một buổi sáng, bước qua cửa hàng rào vào đồi mít, cả bọn “nghe” mùi mít thơm lừng. Phải nói ngay, tôi dùng chữ “nghe” vì nhớ đúng tiếng đó trong câu ông bạn tù già người “Nam Bộ” hỏi, mấy ông có nghe mùi mít không. Ngay chỗ chúng tôi đứng có cả chục cây mít, tìm lần hồi, quả là có một trái mít vỏ bắt đầu ngả màu vàng. Đến đứng ngay dưới gốc cây đó, mùi mít “nghe” rõ ràng hơn. Ghi nhớ gốc mít để tính sau. Mới đến “sở làm”, còn phải đi qua vài thủ tục, như lên “nhà lô” lấy cuốc sẻng đồ đoàn, chờ Đội Trưởng nhận chỉ thị công tác, phân công, quơ quào vài cái cho có vẻ làm việc, rồi “tính gì mới tính”.  Mấy tháng rồi quanh quẩn chăm sóc nâng niu mấy cây hồ tiêu bám thân cây mít, vẫn đợi chờ trái mít xanh có ngày “hội ngộ.” Hôm nay nàng “tố nữ” rắc hương mời gọi, phải cùng nhau thưởng thức trái mít đầu mùa. Vừa rồi tôi giả bộ làm thơ, chứ thực tình không biết “mít tố nữ” ra sao.

“Tiên sư nhà nó!” Dù không hiểu ý nghĩa thực của mấy chữ “tiên, sư” trong câu chửi tương đối hòa bình như trên, nhưng tôi phải thốt ra mà không sợ ai chướng tai bởi vì tôi là tên Bắc Kỳ duy nhất trong cái đội hồ tiêu tám đứa này. Tôi thốt ra vì chàng Đội Trưởng tên Lê Thiên Bảo xuống gặp anh em với nét mặt rầu rầu, nói rằng, thằng đó nói mình hái trái mít ngay lối đi vào, mang lên nhà lô cho nó. Không nhớ rõ lắm có bạn Nam Kỳ nào ĐM hay không. “Thằng đó” tức là anh chàng Quản Giáo. “Dân trong nghề”, đồi mít này chàng Quản Giáo đã trụ 2 năm. Mấy ông già đội hồ tiêu cũ từ trước Tết đã chuyển vào Nam, chàng nhận chúng tôi vào đội hồ tiêu mới, tay mơ, đừng hòng qua mặt chàng. Cả bọn còn đang tiu ngửu, một vị Nam Bộ nẩy sáng kiến, mấy thằng làm đi, còn mấy thằng vác cuốc đi loanh quanh, cả mấy trăm cây mít, đã có một trái chín thì thế nào cũng còn trái nữa. Thông tin liên lạc, mật mã, ký hiệu, chuyển báo tin mừng, kiếm ra mấy gốc thơm lừng nữa rồi. Giờ giải lao, cả bọn trốn vào sau mấy lùm cây, mổ xẻ nàng tố nữ. Trái mít to quá, có lẽ nặng trên 15 ký. Cả bọn cố ăn cho hết vì không thể mang theo về trại. Mùi thơm trái mít quái ác, không thể dấu ai. Lúc đó mới nghĩ ra một điều, lát nữa tên Quản giáo ắt ngửi thấy mùi mít từ mấy cửa miệng, bàn tay. Gặp khó, sáng kiến nẩy ra. Khoa học tiến bộ, phát kiến nhân loại có được là vì vậy. Ra “vườn” rau thơm, hái một nắm, xoa vào tay, vào mồm, mùi mít có bị át đi. Một lúc sau, nghĩ sâu hơn, mới thấy tưởng là sáng mà hóa ra tối, tên Quản Giáo mới ăn xong, nó cũng có mùi mít, đống vỏ mít, sơ mít còn đó, làm sao nó biết mùi mít do chúng mình tỏa hương. Hề hề, có tật, giật mình. Cây mít tìm ra còn một trái đã chín, còn hai cây khác ở gần nhau cũng có trái chín. Đội Trưởng ra “nhật lệnh” ghi nhớ địa bàn, phương hướng, ngày mai hành quân thanh toán mục tiêu. Ăn lo kềnh, có anh phát lo, không biết có bị tiêu chảy hay không. Trong đời, cả bọn chưa có ai ăn liền một lúc nhiều mít như vậy.

Vụ ăn mít xẩy ra giữa lúc trại phát đồ ăn cho tù toàn là bột bắp (bột ngô) quá hạn. Không biết cái thứ bột bắp này say ra đã bao nhiêu năm. Có lẽ ở đâu đó kiểm kê, khám phá ra còn cả kho toàn bao bột bắp. Coi lại, bột đã mủn. Cách duy nhất là phát cho nhà tù, vẫn tính là lương thực cấp phát. Đó là tôi đoán mò như vậy, nhưng khả năng đúng rất nhiều. Cái thứ bột gì màu vàng thật đẹp, nhưng đắng như thuốc ký ninh. Trước đây tôi vẫn thích ăn canh mướp đắng. Từng ăn gỏi lá “Sầu Đâu” đắng nhất trần gian. (Không biết gọi là cây sầu đâu hay cây sầu đông, ở Châu Đốc). Bây giờ, ở trong tù cái gì cũng phải ăn được, vậy mà chịu thua. Mỗi ngày hai lưng bát bột bắp, tôi xin tạ từ không lãnh. Có vị cứu tinh, mít. Cả tháng trời phát bột bắp, cả tháng trời mỗi ngày hai bữa mít căng bụng. Lạ nhất là chẳng sao cả, cái cơ thể thiếu ăn hấp thụ tất tần tật. Ăn liền tù tì “một tấn” mit suốt tháng. Không tiêu chảy, không nổi mụn, không táo bón. Cái bộ máy sinh học tinh vi nhất vẫn là cơ thể con người. Nó được program để thích nghi với mọi hoàn cảnh. Cũng từ đó nghiệm ra, mấy năm rồi cơ thể mình thiếu nhiều quá, bây giờ bù “hàng tấn” đường vẫn chưa đủ.

Trở lại cuộc hành quân sáng hôm sau. Thủ tục xong xuôi, không thấy Đội Trưởng báo tin hái mít cho Quản Giáo. Nghĩa là anh chàng đó không biết trong vườn còn mít đã chín. Yên tâm. Giờ giải lao, Đội Trưởng Lê Thiên Bảo lại phân công, hai anh “biệt kích” trẻ, khỏe đi bắt cóc “nàng tố nữ”, một anh làng nhàng đi hái rau thơm, hôm nay tên Quản Giáo không ăn, nó sẽ ngửi thấy múi mít nếu không có mùi rau thơm che lấp, số còn lại rút vào “khu an toàn”. Hai chàng biệt kích vác về một trái mít khá nặng, phải hơn mười ký. Đội Trưởng lên tiếng, ủa, tôi nói hái một trong hai trái ở chỗ 2 cây gần nhau, nó chín hơn mà. Chàng biệt kích lắc đầu, báo cáo, chỗ đó mất M. nó cả hai trái, đứa nào hái rồi. Trong khi chờ hai anh kỹ thuật cao bổ mít làm việc, mấy đứa còn lại thảo luận các giả thuyết về “tình hình địch”. Ở đây vẫn tiếp tục “cuộc chiến vớt vát” giữa Việt Nam Cộng Hòa và Cộng Sản Hà Nội.  Một là bọn hình sự tự giác, hai là mấy tên công an trẻ, bọn chúng hàng đàn, hàng đống, cũng đói ăn xanh xao vàng vọt. Tay nào được cử làm Quản Giáo tù Miền Nam coi như chuột sa hũ gạo, xin xỏ, nhờ vả dễ dàng. Ngoài hai bọn trên, cũng có thể tay Quản Giáo, tay Bảo Vệ hôm qua, hai anh này biết rõ đã có mít. Mấy anh đó, từ tù hình sự, đến Quản Giáo, đến Bảo Vệ nắm vững “qui trình” ra hoa, kết trái của cây cối trong trại, đã cuỗm mất “tài sản” của mình. Chữ “tài sản” không phải nói chơi. Theo nguyên tắc, hoa trái tại đồi này “thuộc về” Đội Hồ Tiêu. Chỉ thuộc về một tí thôi, nghĩa là Đội Hồ Tiêu trách nhiệm gìn giữ, bảo quản khi hoa trái còn ở trên cây, có lệnh hái xuống rồi, thuộc về Trại (viết hoa), tức là thuộc về Ban Giám Thị. Tổng hợp dữ kiện, tin tức tình báo, phân tích, cuối cùng đưa ra “phương án giải quyết”, rồi “lên kế hoạch hành quân.” Đội Trưởng Lê Tiên Bảo, tay võ sư hạng nặng ở Phủ Tổng Thống, tóm tắt “hội nghị”: Rất nhiều phần là phía Quản Giáo với tay Bảo Vệ hôm qua “ăn cắp”. Hai trái mít đều to, bọn chúng tối qua không ăn hết được, không dám mang về phòng ngủ, vậy sẽ dấu nơi nào đó. Sáng nay trễ rồi, sắp đến giờ về, để đó. Buổi chiều hãy tính, hoặc lục tìm để thu hồi của cải nhà nước, hoặc đi tìm nguồn lương thực mới. Chẳng biết vì lẽ gì, hoặc Quản Giáo gài “máy nghe lén”, hoặc thấy giáng điệu “khẩn trương” của cả đội tù, hoặc tình cờ, ngẫu nhiên, chiều nay hai chàng Quản Giáo, Bảo Vệ cứ lang thang dưới “mấy rặng trâm bàu” làm thơ, viết nhạc. Tù đành chống cuốc chờ thời. Chuyện thu hồi tài sản kể như không thành, vậy tìm nguồn mới dễ hơn. Động tác của tù rất đơn giản, hai tay nhịp nhàng cho lưỡi cuốc “gãi, vờn” mấy cọng cỏ, nhưng mắt ngẩng nhìn cây lá trên trời, có khi gốc mít, gốc tiêu đó chẳng có cọng cỏ nào, cũng vẫn cuốc. Tìm được thêm ba cây có trái chín, bàn nhau kéo xuống làm ngay tại chỗ một trái, còn hai trái vùi vào rãnh, hố, bờ bụi.

Tôi đã báo cáo ở trên, cả tháng trời bị ép ăn bột bắp hết hạn cả trăm năm, cũng là cả tháng trời ăn mít ngày hai bữa. Nhưng tháng đó không trôi đi lững lờ, đơn giản tí nào. Đó là một tháng quần nhau “giữa ta và địch”, tranh giành nhau từng trái mít y như trước đây cắm cờ, lấn đất dành dân. Địch đi dấu tài nguyên vũ khí, ta cũng đi dấu. Ta ra tay trước lùng tìm kho địch, rồi địch cũng nghĩ ra lùng xục tìm kho của ta. Cứ như thế, ta với địch vờn nhau, ngày này qua ngày khác. Có những trận ta thắng lớn, tìm được ba, bốn trái mít địch dấu trong lùm, bụi tuốt trên cao, gần với khu đập đá, ta vác xuống mang dấu chỗ khác. Cũng có khi ta thua xiểng liểng, mất trọn kho tàng. Buồn cười một điều, ta với địch làm như không có gì xẩy ra, địch tập họp ta như thường lệ, cũng vẫn lảm nhảm lao động, trây lười, phấn khởi, cải tạo tốt đợi ngày về. Do đó, tôi nghĩ rằng nhiều khi không phải một mình tên Quản Giáo ăn cắp mít, cả bọn công an đều đi ăn cắp mít, ăn cắp tiêu. Phe ta có vài điều thất lợi, một là mấy tiếng đồng hồ từ lúc chúng tôi đi tắm rồi nhập trại, đến lúc trời tối hẳn, hai là, cả ngày Chủ Nhật, chúng tôi không đi làm, bọn chúng ta thồ đi lùng sục khắp đồi. Cuối cùng, lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo, ta không dấu mít vào bờ, vào bụi, vào mấy hố, mấy rãnh thoát nước mùa mưa. Ta nghĩ ra kỹ thuật ngàn năm không ai biết được: Chôn mít dưới đất, địch hoàn toàn không ngờ. Cuộc chiến kéo dài gần một tháng, rồi cũng trôi qua, có lệnh thu hoạch mít giao nộp trại. Hơn 500 gốc mít, thu được 60 hay 70 trái gì đó. Tháng “trăng mật” đã qua. Cũng may, tai họa bột bắp vừa hết. Hai tuần lễ tiếp theo, moi lên chỗ hạt mít chôn vùi dưới đất để dành, mang ra luộc, nướng. Lạ thật, chẳng thấy ai thải ra mùi hương nào cả. Sau này, nghe nói có ngài thi sĩ than “Ở chỗ nhân gian không thể hiểu”. Còn nhiều điều không thể hiểu mà ngài không biết, ăn hạt mít mà không bị “trung tiện”.

Tháng ngày thấm thoắt thoi đưa, gió thu lại về trên sông Mã. Sau mùa thu hoạch tiêu, trên 500 gốc tiêu được đâu 5, 6 ký hạt, một hôm cả bọn bàn nhau, (nhân gió thu về, tiết trời trở lạnh), hay là ta nhờ tên Quản Giáo vào làng bắt con chó? Thịt heo phải đợi chợ phiên, ở chợ cũng không nhiều thịt bán, hoặc đợi khi nào có nhà tên cán bộ định “ngả” con lợn nuôi suốt năm qua, gọi người chung đụng kiếm lời. Mấy chàng Miền Nam nghe chó là e dè, nhưng sau “khóa đại học” 8, 9 năm rồi, đời đã dạn dày gió sương, bọn “chèo” còn không sợ nữa là chó. Làm đi! Không rõ từ đâu, từ bao giờ, chữ “chèo” để chỉ mấy tên công an được mấy bạn trẻ Phục Quốc dùng ở Thanh Cẩm. Lâu dần thành tiếng mọi người đều dùng.

Cũng có vài vị ở Đội Hồ Tiêu vì lý do tín ngưỡng hoặc thói quen không tham gia “chương trình cải thiện”. Một số bạn tù cùng buồng ham vui, nhảy ké luôn chuyến tàu hoàng hôn. Tôi không nhớ rõ cuối cùng bao nhiêu khách nhập tiệc, cũng không nhớ đã gom được bao nhiêu tiền đưa tên Quản Giáo. Có thể khoảng 150 đồng. Có lẽ con chó vừa vừa giá độ 100 hay 110 đồng, mất 10 hay 15 đồng rượu, măng, giềng, bún , bánh đa (bánh tráng nướng), mấy thứ lỉnh kỉnh gì đó … Còn lại, chàng Quản Giáo ăn lời. Ngày G, tên Quản Giáo kéo theo một bạn tù hình sự tự giác, vào làng. Họ nói đi về phải mất 3 tiếng đồng hồ, mất thì giờ lùng tìm “con cầy mơn mởn vừa độ”. Phải nói chàng Quản Giáo này là tay cự phách. Chàng mới đeo lon trung sĩ công an, chưa đến 24 tuổi, mà một tay chàng nấu đủ mấy món cầy tơ. Bạn tù hình sự đi theo chàng để dắt chó, nhất định không chịu cho tôi biết con chó giá bao nhiêu. Bạn cũng thú thực không biết nấu mấy món “truyền thống” này. Là thanh niên Miền Bắc, làm gì cũng nhanh thoăn thoắt theo sự sắp xếp của tay Quản Giáo. Lúc đầu, cả bọn tù chúng tôi trốn qua vườn chè ở kế tiếp sườn đồi trồng mít và tiêu, bởi vì đó là lúc ghê gớm lắm, cắt tiết chú chó màu đen đang ứa nước mắt trong đôi mắt buồn rầu, tuyệt vọng. Sinh vật nhận biết nhiều thứ chúng ta tưởng là không biết. Sinh vật có linh tính khi gặp hiểm nguy. Mỗi lần Tết đến, người ta cột giữa sân trại một chú trâu già, bò già. Mấy bạn tù hình sự cho biết, mấy chú đó khóc khi bị dắt đi, biết là đang đến nơi hành quyết. Ngồi trong căn lều nhỏ của tôi ở vườn chè, tự nhiên tôi muốn bỏ không ăn bữa thịt tối nay. Xúm quanh bếp lửa, chia nhau mấy tách nước chè, mấy bạn thuyết phục tôi đừng nghĩ gì thêm. Thực sự trước 1975, chỉ đôi lần nể nang, tôi có đụng đũa vào mấy miếng rựa mận, miếng thịt nướng. Bình thường, tôi vẫn ngại ngần khi nghe nói thịt cầy.

Tàn một ấm chè, chừng 45 phút, chúng tôi kéo về lại đồi hồ tiêu. Ngay trước nhà lô, bếp lửa đang cháy. Tay Quản Giáo luôn miệng sai bảo, bạn hình sự luôn miệng dạ, thưa ông. Tay Quản Giáo ngửng lên giải thích, trong nồi này, dưới cùng là món sáo măng, ở giữa tôi làm rựa mận, trên cùng là món chó luộc. Lát nữa, tắt củi, dùng than làm món nướng nữa là xong. Còn món tiết canh, dồi, tôi cho thằng này (bạn tù hình sự), nó mang về “làng” nó làm. Làng đây là khu nhốt tù. “Dưới làng” là khu nhốt tù bình thường, phân biệt với khu nhốt tù kỷ luật, kiên giam. Mấy tay tự giác hình sự tương đối tự do, buổi tối có thể xin trực trại cho vào khu bếp nấu nướng, miễn là món nấu phải ra hồn, Trực Trại có thể ké phần. Bạn hình sự góp tiếng, mấy bác (bọn tù chúng tôi) không biết, con phục ông (“ông” Quản Giáo 24 tuổi), chưa thấy ai nấu ba món một lúc trong một cái nồi như thế này. “Ông” vênh mặt, mày ngu lắm: Món thịt luộc trên cùng chín được là do hơi bốc lên, chất thịt vẫn như y nguyên, không như luộc với nước, mất mẹ nó chất ngọt. Rựa mận ở giữa, một phần chín vì nước sôi, một phần vì hơi nóng. Gia vị ướp vào cứ thấm dần vào thịt. Hơi gia vị cũng bốc lên, làm thơm miếng thịt luộc ở trên. Nước gia vị có tiết ra chảy xuống dưới một phần, món sáo dưới cùng hứng tất cả, thấm vào thớ măng, cắn một miếng, toàn bộ con chó như chui vào họng mày. Nói xong, chàng vung đũa một vòng, đôi mắt cũng quét một vòng nhìn bản mặt mấy tên tù Miền Nam. Rõ ràng chàng muốn ám chỉ chúng tôi cũng “ngu bỏ mẹ.”

Xế chiều, đầu bếp Quản Giáo nấu xong, chia phần, hôm nay ai cũng chuẩn bị sẵn nồi niêu. Phe Quản Giáo lấy gần một nửa, chúng tôi được hơn một nửa. Bạn hình sự gói ghém được một ít thứ gì đó, thêm nồi tiết, mang về trại. Chúng tôi chỉ lấy chút xíu rượu, chàng đầu bếp lấy hết cả một chai lớn. Chàng đã hẹn sẵn, lũ bạn Quản Giáo, Bảo vệ đã thấy lảng vảng thăm dò, chắc phe chàng phải đến 5 tên. Còn chúng tôi, khi nhập trại khệ nệ bưng nồi xoong. Tay Quản Giáo đi theo nói chuyện với Trực Trại, xin phép cho chúng tôi mang mấy thứ “bồi dưỡng” vào buồng.

Sao Chè 

Ở trên tôi kể chuyện cả đội qua khu “đồi chè” để tránh nhìn cảnh làm thịt con chó, và nói đến “cái lều của tôi”. Để tiện việc kể chuyện, tôi nói vắn tắt về cái lều như vậy. Bây giờ, xin nói rõ hơn kẻo quí vị cho tôi là “đại gia”, làm chủ (nhà quê dùng chữ “sở hữu” – cô ấy sở hữu một nhan sắc …) nhà và đất tại nơi sơn thủy hữu tình Chiềng Chàm, Cẩm Thủy, Thanh Hóa.

Sườn đồi phía sau lưng nơi nhốt tù khu K1, chạy vòng chân núi đá vôi, bọn công an trại Thanh Cẩm cho trồng cây mít và cây hồ tiêu trên diện tích khoảng 4 phần 5 triền đồi. Chỗ còn lại, họ cho trồng cây chè. Từng luống chè chạy dài trên đất bậc thang, từ trên xuống dưới, có lẽ chừng 30 bậc, hay hơn. Tôi độ chừng 600 gốc chè. Sau những tháng mưa mùa hè hoặc mưa phùn mùa đông, cây chè đâm chồi. Trong đám lá xanh mơn mởn nhú lên những cánh lá nhỏ nhắn, xinh xinh, màu xanh nõn, nhạt. Một “búp” lá ở giữa, hai cánh lá non xòe ra hai bên, người ta gọi là “một tôm hai tép”. Theo giới nghiện chè, ấm chè “cao cấp” hạng nhất phải có nước lúc nào cũng xanh, tỏa hương thơm thuần của lá chè, theo làn hơi bốc lên từ tách chè, nhấp một ngụm, nuốt xuống, vị ngọt còn đọng lại nơi cổ họng, nơi đầu lưỡi. Để có một ấm chè như vậy, người ta chỉ ngắt búp chè một tôm hai tép mang về sao. Ngắt hết một tôm hai tép, mới đến đợt cắt cành chè non cho loại chè ngon cấp dưới, rồi đợt cắt cành chè già cho loại chè bình thường. Những cành chè già, lá xanh đậm, cọng to, cho nước chè nhiều chất ta nanh (tanin), nước chè màu đỏ, nhiều vị chát.

Đội Hồ Tiêu chăm sóc đồi tiêu, đồi mít, kèm thêm đồi chè. Mùa hái búp chè, Quản Giáo giảng giải cách hái búp, cách sao chè, rồi hỏi có ai tình nguyện “sao chè”. Cũng như việc trộn vữa của đội xây dựng, tưởng là việc nặng, ít ai muốn làm, tôi tình nguyện. Việc sao chè cũng là việc khó nuốt, phải ngồi mấy tiếng đồng hồ bên bếp lửa, đôi bàn tay trần vọc vào đống lá chè bốc hơi nghi ngút trên chảo gang, nóng lắm, bỏng như chơi. Cũng mình tôi tình nguyện. Thằng tôi thuộc loại lãng tử giang hồ vặt, cái gì cũng muốn biết, muốn nếm qua. Toàn đội đi hái búp chè, mang vào “ủ” ở nhà lô, khóa kín cửa vì sợ mất cắp. Hái được hai ngày, lượng chè đổ ra đầy chảo gang lớn, đến lượt tôi “thao tác”, thi hành nghiệp vụ. Cả đồi chè hái mất 5, 6 ngày mới xong, sao làm 3 mẻ.

Ở đồi chè có một túp lều nhỏ, để chứa gì đó, chắc là cuốc sẻng, và củi. Trong lều có 3 hòn đá lớn thay mặt 2 ông 1 bà táo, trên đầu 3 vị đội cái chảo gang lớn. Sao chè phải dùng chảo gang mới đủ độ nóng, nóng đều, khi “đánh mốc” mới ra được phấn chè. Tôi chiếm dụng túp lều đó, chiếm dụng khu vực cấm không cho tù vào, nhất là mấy bạn tù hình sự tự giác, lúc hái chè, sao chè, tuyệt đối không được bén mảng. Các bạn ấy nhanh lắm, khua tay một cái như nhà ảo thuật, mất cả lạng chè. Tôi là “chủ nhân ông” túp lều chè, kê khúc cây làm ghế, “ngồi thơ thới, hân hoan” trước bếp. Đầu tiên cứ pha một gô chè đã, nhâm nhi cho tiêu bớt số hạt mít ì ạch trong bụng, có khi bụng căng là do củ khoai mì từ mấy gốc mì “mọc hoang” lẫn trong đồi mít. Có lẽ mấy bạn tù tiền nhiệm vùi mấy đốt cây khoai mì, mấy dây khoai lang vào mấy nơi đất ẩm trên đồi, cứ thế, khoai mì, khoa lang nối tiếp giống nòi, cố gắng sinh tồn chờ các kiếp tù ghé vào nơi thâm sơn cùng cốc. Rồi Quản Giáo dẫn chàng tù khệ nệ bê bịch chè ủ xuống bếp giao tôi. Căn dặn đôi điều, xong chàng về nhà lô nhìn xuống canh chừng, “bảo vệ” tôi không bị ai quấy rầy.

Chảo bắt đầu khá nóng, tôi đổ bịch chè túm trong bao tải lớn vào chảo. Một chảo đầy vun chè, những búp chè đã ngả màu, không còn “nét thanh xuân” như mấy ngày trước. Thằng tôi hay nghĩ ngợi lẩn thẩn, còn gọi là hơi “hâm”, về số phận những búp chè non. Đang vui chơi với mấy hạt sương, dưới tia nắng ban mai ấm áp, lung lay đùa rỡn với chị gió bay ngang, từ đâu bàn tay con người dã man ngắt lìa khỏi cây mẹ. Bây giờ bị thằng tù tôi nung cháy trên chảo, phải trả thù cho bõ ghét, Búp chè thi nhau nhả hơi nóng, nóng lắm. Muốn sao chè phải dùng tay không, tay để trần, không được dùng đũa, hay dụng cụ gì khác đảo chè. Hai tay vọc vào đống lá chè bốc hơi hừng hực có thể đến gần 100 độ. Nên phải thật nhanh tay. Vọc vào thật nhanh, đảo lên, rồi lại vọc vào, đảo lên nữa, liên tục, đều khắp. Sao cho mọi búp chè nóng đều nhau, “chín” đều nhau. Chừng một tiếng rưỡi đồng hồ trôi qua, lá chè teo lại, ép xuống còn lưng chảo. Vẫn tiếp tục đảo đều đống lá chè đó, thỉnh thoảng cố dành 15 giây, nửa phút, hớp ngụm nước chè trong gô cho đỡ khát. Sức nóng làm khô mặt, khô cổ, mồ hôi ra như tắm dù ngay những ngày đông. Áo ấm cứ thế cởi dần, cởi thật nhanh để chè không cháy. Đảo cho búp chè khô dần nhưng không được cháy. Cháy là chè khét. Thêm hơn nửa giờ, búp chè đã khô, teo lại lăn tăn như que tăm gẫy. Một chảo đầy vun lá chè, nặng chắc mười mấy ký, bây giờ sọp xuống như dính chảo, độ chừng hơn một ký, nhiều gấp 4, 5 lần bịch chè tôi xin cho Tuấn Râu. Cậu ta mất đâu gần một trăm đồng cho bịch chè đó, mà loại chè chỉ là ngon vừa, còn mấy bậc nữa mới bằng loại chè tôi đang làm đây. Tôi đổ chè ra một bát ô tô lớn, lấy khăn vải lau chảo cho sạch hết lớp cặn, bã dính. Lau thật kỹ cho lòng chảo bóng trở lại, những cặn, bã, bụi đó sẽ trờ thành than, cháy khét khi tôi tiếp tục làm giai đoạn sau của việc sao chè.

Nghỉ chừng 10, 15 phút cho tay đỡ mỏi sau gần hai tiếng đồng hồ khuấy, đảo, chờ bếp nguội bớt, rồi tôi đổ bát chè khô vào chảo. Cho củi cháy vừa phải, bây giờ không cần chảo cực nóng, tôi dùng bàn tay xoa lên lớp chè rải đều lòng chảo, vừa xoa chậm rãi, vừa hơi dồn sức ép xuống. Ép nhè nhẹ thôi. Ép mạnh, cánh chè khô gẫy vụn là hỏng bét. Ép sao cho cánh chè cọ vừa phải vào lòng chảo, cho lông trên cánh chè “sổ” dần dần ra, thành lớp trắng phau, gọi là phấn chè hay tuyết chè, nhưng nhân gian dùng chữ “đánh mốc”, vì tuyết đó trông giống như mốc. Chừng nửa giờ đến 45 phút, chè trắng đều, xoăn tít, cong queo như cái móc lưỡi câu, đổ trở lại cái tô lớn. Thế là xong. Người ta gọi đó là loại “chè móc câu”. Đợi nguội, bốc nhẹ từng nắm chè trải lên tờ giấy, hay cho vào cái bao giấy Quản Giáo đưa trước. Lúc này lại thêm một lần phân loại. Hai gói giấy gần bằng nhau, mỗi gói chừng 4, 5 lạng chè, tôi đoán tên Quản Giáo lấy 1 gói, nộp cho Ban Giám Thị 1 gói. Phần tôi, một gói chừng hơn một lạng. Lại còn một thứ chè nữa, nhờ tên Quản Giáo dặn dò tôi mới biết, đó là “chè cám”. Tên Quản Giáo nói chính chè cám mới là ngon nhất. Chè đó là do những đầu búp, đầu lá non trong lúc sao, bị gẫy vụn ra, nát như cám. Tên đó dặn tôi nhớ để riêng chè cám. Tôi để riêng cho nó một nửa, còn tôi một nửa cho chung vào gói chè cất riêng, về trại, lúc pha, tính sau. Sau 3 buổi sao chè, tôi có chè ngon dùng cả tháng trời. Quả thực, chè “móc câu” ngon như danh tiếng đồn đãi, dù tôi là tên “ngưu ẩm.” Sao chè trở thành cái thú của tôi, mong đến lúc có chè để sao. Chúng tôi chỉ hái búp thôi, còn cành chè, không rõ giao cho ai cắt, làm chè. Đó là đợt chè duy nhất của mùa đông 1983. Qua Tết, tôi được thả về. Nói cho rõ, tôi được “thả”, không phải được “tha”. Tôi có làm gì “phạm” để đứa nào “tha” tôi.

Thư và Quà qua đường Bưu Điện

 Thăm Nuôi

Đầu Tháng 12, năm 1976, nhóm tù Long Thành chúng tôi đến trại giam Thanh Cẩm. Cho đến hơn 1 năm sau, đầu năm 1978, chúng tôi lần đầu được gửi thư về gia đình. Khoảng 14 hay 15 tháng gia đình không được tin tức gì của tôi, không biết còn sống hay đã chết. Sau này tôi nghe kể, ở nhà, các bà hỏi thăm nhau, biết gia đình nào cũng vậy, bặt tin chồng, con, … nên yên tâm hơn vì nghĩ họ mang chúng tôi đi dấu đâu đó.

Một chàng công an nào đó, tôi nhớ hình như là Trung Úy Tuy, Chính Trị Viên nhà tù, tập họp bọn tù Miền Nam ở hội trường, báo tin cho viết thư về gia đình. Chàng ta chỉ thị những gì được viết và không được viết. Thư viết trong phạm vi một mặt giấy vở học trò. Nội dung thư báo tin gia đình được phép gửi quà, quà gì được gửi, quà gì không được gửi, trong giới hạn 3 kg. Thư phải “hồ hởi, phấn khởi”, động viên gia đình đi kinh tế mới, gia tăng sản xuất để (bọn tù) “yên tâm cải tạo tốt”. Phải nói gia đình yên tâm vì (mấy thằng tù này) được đảng và nhà nước tạo điều kiện tốt cho việc học tập cải tạo. Thư không được nói đang ở đâu, nói gia đình gửi gói quà kèm thư đến hộp thư số … Có thể tôi nhớ nhầm chỗ này, hình như cho gia đình mang gói quà đến địa điểm ở Khám Chí Hòa, ở đây sẽ chuyển cho chúng tôi. Làm vậy để gia đình không biết chúng tôi  đã ra Bắc. Sau này địa chỉ gửi thư, gửi quà cho chúng tôi mới là hộp thư.

Cả bọn về buồng om sòm bàn tán. Sôi nổi nhất là cuộc thảo luận trong 3 ký quà, nên có những thứ gì, thứ gì để lâu được, thứ gì “chất lượng”, nên chọn chất mỡ nhiều hay chất đường nhiều, hay chất bột nhiều, … Đồ dùng nên xin thứ gì, lạnh quá, cần quần áo ấm, có nên xin sà bông không, còn thuốc men, cần thuốc men gì nhất … Bàn tán riết nhiều bạn quên rằng có thể ở nhà gia đình đang gặp khó khăn, nhiều thứ đã trở thành sa sỉ phẩm, rất tốn kém. Cuối cùng, hầu hết lá thư đầu tiên gửi về gia đình giống như một bản liệt kê các món ăn. Có thể với nhiều bạn tù, trong đời ít khi nào phải cân nhắc kỹ càng để viết một lá thư như lần này do bị áp đặt nhiều giới hạn.

Với một trang giấy học trò, tôi chú trọng vào chuyện kín đáo báo tin tôi đã ra ngoài Bắc, chuyện muốn vợ tôi đưa hai đứa nhỏ vượt biên. Đại khái, tôi hỏi thăm cả nhà, đặc biệt là Đẻ tôi. Sau đó, tôi nói về áo quần trại cấp phát đủ để dùng. Lại thêm mấy cái áo lạnh gia đình cho khi vợ tôi thăm nuôi ở Long Thành, nhất là cái áo bông, tôi mặc hàng ngày khi đi lao động. Cái quần trong bó sát người rất tốt,  mặc thêm quần ngoài vẫn thấy thoải mái. Tôi nói vợ tôi cố gắng đưa hai con đi thăm “bác Toàn” ở Hà Nội, để học cái hay, cái đẹp. Anh Đỗ Quý Toàn đang ở Canada. Cuối cùng, báo tin trại cho nhận 3 kg quà. Ở nhà có cái gì, cho cái ấy. Thứ nào cũng tốt đối với tôi. Về thuốc men, tôi xin đặc biệt Preparation H, lúc đó tôi bị trĩ, và thuốc tiêu chảy do trận thượng thổ hạ tả trước đây, mấy loại thuốc của đông y để tránh phiền toái khi nhận quà. Tôi muốn để vợ tôi tùy tình hình tài chính, giá cả ở “ngoài đời” mà quyết định. Chừng 3 tuần sau, khi quà đến, hầu như các gói quà gần giống nhau. Ở ngoài, các bà, các cô thân nhân “tù Miền Nam” vẫn gặp nhau, trao đổi tin tức. Dịp gửi quà này trở thành dịp đặc biệt để trao đổi kinh nghiệm. Do đó, vợ tôi biết nên gửi thứ gì. Trong thư trả lời, vợ tôi nói vì tôi không xin gì rõ ràng, nên phải tham khảo mấy lá thư của các chị bạn. Đẻ tôi làm gói thịt băm đặc biệt với độ mặn nhiều, có khá mỡ, thêm ít ngọt, để giữ lâu, và để tôi có đủ chất đạm, chất béo, chất đường…

Từ lúc gửi thư đến khi nhận quà chưa đến 3 tuần lễ. Khoảng thời gian như vậy là khá nhanh. Tôi không tin vì lý do nhân đạo mà họ làm như vậy. Có thể ở Sài Gòn, sắp tới dịp Tết, mọi người xôn xao vì hơn một năm qua không nhận được tin tức chồng, con. Họ muốn giải tỏa sự căng thẳng đó. Lại là cơ hội tuyên truyền nhân dịp những ngày truyền thống cuối năm. Lý do khác, có vẻ thực tế hơn, tình hình sức khỏe tù Miền Nam xuống quá. Số tù này vẫn là món hàng để mặc cả với Mỹ, để chết nhiều không lợi, luôn cả đối với dư luận thế giới. Và, mấy năm qua, trả nợ Tàu, không còn đủ lúa gạo sắn khoai cho dân dùng, tù càng không có, lấy cả bo bo của ngựa mang cho người ăn, cũng không đủ. Tiền bạc chi cho chiến tranh ở Cambodia, và Tàu cũng lấy hết, ngân sách không còn, chi bằng bắt gia đình tù xoay xở. Tù Miền Nam được tiếp tế, cán bộ cũng được hưởng lây. Bọn đểu giả cộng sản không bao giờ thương tù, cũng không thương dân. Giai cấp (mới) bọn chúng lo cho nhau mà thôi.

Cá nhân tôi, đợt gửi quà này đến đúng lúc tôi rất cần. Cách đây hơn một tháng, tôi bị một trận thê thảm. Một buổi sáng, khi ngủ dậy, tôi thấy chóng mặt quay cuồng. Nhắm mắt nằm yên, thì dễ chịu, mở mắt ra, trần nhà bỗng nhiên nghiêng ngả, cố nghiêng đầu, mọi thứ đảo lộn hết, nhộn nhạo muốn ói mửa. Tôi báo Đội Trưởng khai bệnh tại buồng vì không cách nào ngồi dậy. Nhỏm dậy, té ngay lập tức vì cả căn phòng quay cuồng từng đợt, không còn biết rằng mình đang ngồi trên sạp ngủ. Y tá cho nghỉ ở nhà, điều trị bằng một vốc thuốc “xuyên tâm liên,” khoảng trăm viên thuốc màu hồng (hay xanh, tôi không nhớ) nhỏ tí, trông như bị mốc. Uống một lần. Cứ theo tên thuốc, phen này tim tôi chắc bị xuyên hàng trăm mũi. Với số lượng như vậy, vốc thuốc này để trị “bịnh đói” là tốt nhất. Ngày xưa, tim bị các kiều nữ hành, bây giờ, bị y tá hành.  Buổi trưa, anh bạn cùng làm Dân Vận Trần Văn Chung chạy lên thăm tôi, Chung ở đội khác, hình như phòng 2. Lúc đó hình như tôi đang ở Phòng 4. Nghe kể bệnh tình, Chung hẹn chiều về, nhiều thì giờ sẽ kiếm cho tôi một hộp sữa đặc. Chung cho là tôi kiệt sức vì thiếu ăn. Kho dự trữ của tôi từ Long Thành mang ra Bắc. dè sẻn lắm cũng đã hết từ nửa năm rồi. Mấy tháng nay cơ thể tôi hoàn toàn trông nhờ vào hơn nửa bát bo bo mỗi bữa, kèm chút nước chấm là mắm tôm pha loãng. Mà bo bo có lớp vỏ cứng và dai, ăn bao nhiêu cho ra bấy nhiêu. Chiều về, Chung mang cho tôi hộp sữa đặc, chàng mang sẵn nước sôi xin từ dưới bếp, pha cho tôi bát sữa cho tôi uống. Sáng hôm sau, ngày nghỉ, chàng lên cho tôi uống sữa tiếp. Uống hết hộp sữa, tôi hết chóng mặt. Hỏi chàng kiếm sữa ở đâu. Có mấy vị lão thành vẫn tồn trữ được vài hộp sữa, Chung năn nỉ xin đổi áo lạnh. Các vị có tuổi, chịu lạnh khó hơn bọn trẻ. Tỉnh dậy, tôi đưa Chung cái áo len dầy để thanh toán món nợ với ai đó. Đây là lần thứ hai Chung cứu tôi qua cơn bệnh nặng. Lần trước cứu tôi qua khỏi trận thượng thổ hạ tả ở Long Thành. Nhưng chưa hết, bởi các cụ đã dậy, phải quá tam ba bận mới là dứt nợ. Chàng này nặng nợ với tôi. Khoảng giữa năm 1981, cũng một buổi sáng ngủ dậy, tôi co chân để xoay người ngồi lên đi vớ, một đầu gối đau nhói, và cứng nhắc, không làm sao co được. Nhờ người kêu bạn Chung tính nhờ dìu tôi đi khai bệnh. Chung nói, để nhờ Y tá khám bệnh tại buồng. Thủ tục này thường rất khó, ít khi xẩy ra. Lần trước tôi được hưởng vì lúc đó số tù Miền Nam còn ít, “y tá Miền Nam” ít việc. Bây giờ bất cứ ai khai bệnh đều phải đến Bệnh Xá. Đội Trưởng nói lúc báo cáo xuất trại sẽ báo cáo tôi bị bệnh, nằm tại buồng đang chờ khám bệnh vì không đi được. Y tá sẽ báo cáo Trực Trại sau. Tôi định bụng khai một chân hoàn toàn cứng không co được, còn một chân, chỉ “hơi” co được thôi, Y tá nếu ép chân gập lại, tôi cứ la toáng lên đau lắm. Chàng Chung chạy qua Bệnh Xá để năn nỉ y tá. Chung vốn “khéo ngoại giao”, cũng đang làm Đội Trưởng một đội. Khám bệnh xong, Y Tá phán, tôi cần B1. Mà Xuyên Tâm Liên không phải B1. Có một cách là kiếm cám để ăn. Quanh năm ăn khoai mì, lấy đâu ra cám. Lợn còn không có cám để ăn. Trưa đi làm về Chung chạy lên xem tình hình, rồi chạy đi “ngoại giao” B1 cho tôi. Ba ngày liền uống B1, chẳng biết số lượng bao nhiêu (tôi từng học trường Dược 5 năm, không cần để ý chuyện vặt đó) vì Chung cho uống, tôi đỡ, rồi khỏi hẳn.

Trở lại chuyện lần đầu được nhận quà, cơ thể thằng tôi lạ thật, trong 6 tháng trời chỉ cần gói quà 3 ký, chừng hơn 2 ký rưỡi thức ăn, mà thân trai vẫn đứng vững giữa trời! Sau đó, một năm đôi lần, họ phát phiếu gửi quà cho gia đình, lâu dần, cho gửi tùy ý, mỗi năm 4 lần, trọng lượng quà cũng tăng lên dần dần, nhưng hình như bưu điện không cho gửi quá 10kg mỗi gói quà. Hơn 40 năm trôi qua, có thể tôi nhớ sai đôi điều. Xin chỉ bảo, cảm ơn nhiều. Bọn Hà Nội rút kinh nghiệm để gia đình “nuôi” chúng tôi cho nhiều “kết quả phấn khởi”, nên từ cuối 1978, họ cho thăm nuôi.

Họ cho tù Miền Nam biết kỳ thư này báo cho gia đình biết được phép đến thăm nuôi chúng tôi. Trong thư dặn dò gia đình những thứ không cho tù nhân mang vào trại như những chất dễ cháy, chất gây nổ, sách báo phản động, sách tiếng nước ngoài, dao kéo, vũ khí. Nếu cho tù nhân tiền, trại sẽ giữ, tù nhân muốn tiêu gì cứ việc lấy ra. Tôi không nhớ giới hạn quà thăm nuôi là bao nhiêu ký. Lại một đợt xôn xao bàn tán gia đình nên mang gì, bao nhiêu, tỷ lệ đạm, béo, ngọt ra làm sao, đồ ăn gì để lâu được một năm, … Tôi cũng báo tin, nhưng nói vợ tôi không nên đi, quà gửi bưu điện là đủ cho tôi dùng giữ sức khỏe. Hơn nữa Sài Gòn – Thanh Hóa quá xa, nghe nói khó mua vé tàu, xe. Từ Thanh Hóa vào huyện lỵ Cẩm Thủy đã khó, còn từ Cẩm Thủy vào được đến trại là những quãng đường vượt rừng, lội suối, không có xe cộ. Mấy điều này tụi tôi nghe bọn công an Quản Giáo, Bảo Vệ bàn tán khi biết chúng tôi được thăm nuôi. Thư nào tôi cũng nhắc đi thăm bác Toàn là cần hơn cả.

Hơn một tháng sau khi thư báo tin cho thăm nuôi gửi về gia đình, ngay cuối năm 1978, bắt đầu có mấy bà đầu tiên đến thăm nuôi tù Miền Nam ở Thanh Cẩm. Trong số đó, có một chị là vợ anh bạn cùng làm Dân Vận với tôi. Chị cũng biết bà xã tôi, do đó bà xã tôi gửi chị mang cho tôi được chút ít quà. Bạn bè của anh bạn và của chị , mỗi người chỉ dám gửi chút ít. Đúng ra, ngay từ những năm 1977, 1978, đã có một, hai người trong nhóm tù Miền Nam ở Thanh Cẩm được thăm nuôi, khi chưa có lệnh chính thức. Tôi đã kể ở đâu đó chuyện ông Tạ Văn Ấm được thăm nuôi, được về sớm do con là Kiến Trúc Sư ở Pháp có công xây Tòa Đại Sứ Việt Cộng.

Chuyến đầu tiên đó hình như có 3 bà vợ đến thăm chồng. Ký ức ở phần này của tôi không đáng tin lắm, có thể tôi lẫn lộn với vài chuyến thăm nuôi sau đó cũng của anh bạn Dân Vận này. Anh bạn tôi làm ở nhà bếp, được ưu đãi là ở đêm với vợ tại nhà thăm nuôi. Hai vị kia được thăm 2 tiếng đồng hồ rồi mang quà vào trại. Bọn cộng sản không từ một thủ đoạn nào để lung lạc, mua chuộc đối phương. Bọn chúng gọi căn phòng cho hai vợ chồng người tù ở đêm với nhau là “Nhà Hạnh Phúc”. Mặt nào đó chúng xác nhận những người tù khác và gia đình đến thăm là “không có hạnh phúc” vì gặp nhau trong nhà “bình thường” không có hạnh phúc. Gia đình người tù lúc đến thăm tù được xác nhận là công dân của nước “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”, vậy công dân của nước này không có hạnh phúc. Lý luận cho vui, khốn thay, lại là thực tế của dân tộc mình, đất nước mình.

Tôi mừng vì vợ tôi không đi cùng chị bạn. Thực tế, tiền bạc của chúng tôi đến 30 Tháng Tư 1975 nằm hết trong ngân hàng, không bao nhiêu nhưng nếu có cũng giúp vợ tôi cầm cự. Không được rút tiền, rồi đổi tiền, gần như không còn gì. May có đại gia đình hỗ trợ, nhưng tôi vẫn không muốn “phí phạm” vì một chuyến đi thăm từ Nam ra Bắc rất tốn kém. Nhưng vào mấy ngày cuối Tháng Tư, 1979, vợ tôi đến thăm nuôi tôi. Thường thường, buổi chiều tắm xong ở dưới sông, các đội lên xếp hành trước cổng trại chờ kiểm điểm nhân số, cho nhập trại. Đó cũng chính là lúc rỉ tai nhau tin tức thăm nuôi, nếu có. Cũng từ chỗ tập trung trước cổng trại, nhìn lên con đường chạy quanh co theo sường đồi, mọi người có thể thấy một xe trâu chở đồ, theo sau là mấy bà mặc quần áo, dáng đi của người Miền Nam, biết là có thăm nuôi. Thường là có tiếng reo đầu tiên: Có xe trâu mấy ông ơi. Xe trâu thì tù vẫn gặp hoài, xe của trại đi chở gì đó, xe của dân đi trên đường, vẫn có. Nhưng “có xe trâu” ở đây lại mang ý nghĩa tin mừng thăm nuôi. Mọi người xôn xao cho đến khi bạn tự giác nào đó về báo cụ thể gia đình ai đến. Lúc đó đã khoảng 5 giờ hoặc 5 giờ rưỡi chiều. Đó là khi các chuyến xe từ Thanh Hóa vào huyện Cẩm Thủy bị trễ. Bình thường. các bà đến trại khoảng 2 giờ trưa, 3 giờ chiều, ít ai gặp. Một số bạn tù làm việc dọc đường đi, hay mấy bạn tự giác, may mắn gặp, sẽ hỏi ngay các bà đi thăm ai. Lúc xếp hàng ở cổng trại, họ sẽ loan báo tin đó. Và bạn tù có gia đình đến thăm được biết trước. Sáng hôm sau lúc tập họp ở sân chờ xuất trại đi lao động, Trực Trại, hoặc chàng tù Trật Tự, đọc to tên anh bạn đó, nói ở nhà. Đội Trưởng đội của anh ấy, và Quản Giáo, phải điều chỉnh nhân số xuất trại. Sau khi tù nhân xuất trại đi làm hết, Trật Tự lên phòng báo tin anh tù được thăm nuôi. Giai đoạn đầu, cán bộ phụ trách nhà thăm nuôi vào trại nhận lãnh tù có thăm nuôi, đưa ra nhà thăm nuôi. Về sau, mấy bạn tù có thăm nuôi báo cáo ở cổng trại, rồi tự mình đi, không ai kiểm soát. Chiều hôm đó, dưới sông đi lên xếp hàng, tôi đã nghe mấy bạn cùng đội tranh nhau báo tin tôi có thăm nuôi. Về đến phòng là một số bạn tù thân thiết đến chung nỗi mừng, vì hầu như họ biết sẽ có chút xíu quà của họ. Những bạn biết chắc mấy bà liên lạc thường xuyên sẽ nhắn miệng về nhà đôi điều, bắt tôi nhắc lại cho nhớ. Với tôi, họ biết không phải thành phần ưu đãi, trước khi ra cổng thế nào cũng bị khám xét xem có mang báo cáo, tài liệu gì đưa vợ hay không, nên không ai gửi thư. Cả một đêm thao thức, và lo lắng cho sức khỏe vợ tôi với hơn một ngàn cây số đã đi qua, và hơn một ngàn cây số sẽ trở về, lo lắng xem tin tức gia đình sẽ ra sao, Đẻ tôi có mạnh khỏe không. Thư từ qua bưu điện, lúc nào cũng theo giọng điệu bố láo của bọn cộng sản, không tin được.

Sáng hôm sau, xếp hàng chờ đi lao động, tôi và một người nữa, được lệnh ở nhà. Rồi Trật Tự lên buồng nói tôi chuẩn bị ra gặp người nhà. Đúng như bạn bè dự trù, tại cổng trại, Trật Tự được lệnh khám tôi dưới con mắt quan sát của Trực Trại. Anh bạn kia cũng vậy. Rồi Trực Trại bàn giao chúng tôi cho Cán Bộ phụ trách Nhà Thăm Nuôi. Từ cổng trại ra, chúng tôi quẹo tay trái, hướng này dẫn đến khu hành chánh của Ban Giám Thị Trại. Chúng tôi không vào khu đó, đi dọc hết bức tường vây quanh nhà tù, chúng tôi quẹo trái theo con đường lên dốc, cũng chạy dọc theo tường nhà tù. Một con dốc bên cạnh nhà tù lại là đoạn đường tôi yêu lắm lắm, yêu hơn Đại Lộ Hoàng Hôn ở Long Thành. Đại Lộ Hoàng Hôn là một con dốc rộng thênh thang, độ dốc ít hơn độ dốc của con dốc bên nhà tù Thanh Cẩm. Đại Lộ Hoàng Hôn gợi nhớ tôi đến những vị đàn anh cho tôi sóng bước bên cạnh, kể tôi nghe chuyện đời, chuyện người, chuyện quốc gia đại sự. Nghĩa là rất nhiều kỷ niệm còn ở với tôi. Nhưng tôi lại yêu con dốc Thanh Cẩm hơn. Nói “hơn” cũng chẳng đúng, vì khó cân đo, đong đếm (theo cách nói cán ngố). Mà ở Thanh Cẩm lại có rất nhiều con dốc, nhưng ở đây, tôi chỉ nói một con dốc ngay sát bức tường nhà tù, nhóm chữ “con dốc Thanh Cẩm” là chỉ con dốc này. Bở vì, quí vị ạ, dọc theo con dốc, một bên là tường nhà tù, một bên là dãy cây xoan. Hoa xoan nở vào Tháng 3 âm lịch, tức là khoảng Tháng Tư dương lịch. Cho nên, buổi sáng hôm đó, tôi đi giữa hương hoa xoan thơm ngát. Những bước chân tôi leo dốc không thẳng, không đều, bởi vì tôi cố tránh không dẵm lên những cánh hoa xoan nhỏ ly ti rụng xuống vệ đường. Và ngước nhìn lên, một trời màu tím nhạt như còn níu kéo mấy sợi sương mai. Khí lạnh và hương hoa dạt vào khuôn mặt tôi. Khí lạnh làm mùi thơm của hoa đọng lại nhiều hơn, nấn ná lâu hơn trên con dốc, không bị tản đi mỗi khi vài cơn gió nhẹ tạt ngang. Ở đây mấy năm rồi, tôi nghiện mùi hoa xoan, nhẹ lắm, nhưng thấm lắm vào trí tưởng con người. Và, hình như tôi chỉ thấy dọc theo con dốc đó mới có cây xoan, còn nơi khác trong khu vực này không hề có. Đúng ra, tôi ít được làm việc bên ngoài trại, ít có cơ hội đi đây đi đó trong toàn bộ khu vực trại, Nhưng hai năm liền, cứ vào dịp sau Tết, tôi phải đi “làm việc” với bọn công an ở Bộ Nội Vụ về. Trên đường đến khu hành chánh, thế nào tôi cũng bâng khuâng chậm bước ngay ở ngã ba, ngước nhìn theo con dốc bên trái để thấy một dải hoa xoan tím nhạt, điểm chút màu hồng. Trước cổng nhà tù là cây gạo hoa đỏ au au, bên cạnh nhà tù là hàng xoan tim tím. Tôi không gặp hai thứ cây đó tại những nơi tôi ở trước đây, những nơi tôi ở sau này.

Thấy thằng tôi bước đi có vẻ không bình thường, anh bạn tù bên cạnh dù đang rất sốt ruột về những thứ đồ ăn sắp được nhận lãnh, cũng phải hỏi tôi có bị chóng mặt hay không. Ra khỏi cổng trại anh bạn nêu hoài thắc mắc với tôi, không hiểu vợ anh sẽ mang cái gì cho anh, có đúng như anh viết thư yêu cầu. Sau này tôi mới biết anh yêu cầu độ “10 tấn” đồ ăn, tức là anh muốn nhiều thứ lắm, cách nào mang nổi, cách nào kiếm ra nổi vào lúc cả nước cùng chết đói (dĩ nhiên tôi không bao gồm các ông bà đảng viên “Đảng Cộng Sản Quang Vinh”, các ông bà “Công An Nhân Dân”).

Nhà thăm nuôi là một căn nhà 3 hay 5 gian tường gạch, lợp ngói, gần khu gia binh của Công An coi tù. Bên trong ngôi nhà có những gì, tôi không biết. Từ xa, trên đường đi tới, tôi đã nhận ra vợ tôi và chị vợ anh bạn tù  đứng chờ sẵn nơi hành lang. Trên đường đi, chàng công an coi nhà thăm nuôi đã dặn dò chúng tôi mấy điều cấm kỵ, không được khóc, không được ôm vợ, không được lén lút đưa vợ bất cứ cái gì mang từ trại ra (bố khỉ, khám kỹ rồi còn gì nữa), không được nói đời sống ở đây khổ cực, đói khát, không được nói tiếng nước ngoài, phải động viên chị ấy đi vùng kinh tế mới, … Chiều hôm qua có lẽ chàng cũng đã dặn dò thân nhân những điều tương tự, phần “động viên” có lẽ đổi đi, khuyên các anh ấy cố gắng học tập cải tạo tốt.

Một cái bàn dài kê ngoài hành lang. Chàng công an chỉ định hai tên tù ngồi một bên, ở hai đầu, hai bà vợ ngồi một bên, đối xứng. Bắt đầu, chàng công an nói thời gian thăm nuôi là một giờ đồng hồ. Sau này, giả nhân giả nghĩa, chàng bảo vì các chị ở xa đến, cho các chị gặp các anh thêm nửa giờ nữa. Đi cả ngàn cây số, lặn lội bao nhiêu đường đất, được gặp chồng có một giờ rưỡi đồng hồ. Thương cho các Bà Mẹ, Bà Vợ, Bà Chị, Bà Em, Thân Nhân của những người tù Miền Nam. Đôi bàn chân các bà đã rướm bao nhiêu máu do gai góc, sỏi đá trên chặng đường mười mấy cây số lê bước chân theo xe trâu từ Cẩm Thủy vào đến trại giam. Các bà lội qua bao nhiêu con suối, len lỏi qua bao nhiêu bụi cây, vấp bao nhiêu hòn đá, trượt chân té xuống bao nhiêu lần, những bàn chân của đất Sài Gòn xưa? May còn có xe trâu cho các bà không phải gánh gồng. Vậy mà, một giờ đồng hồ thôi!

Hai vợ chồng cách nhau mặt bàn rộng một mét rưỡi, có muốn cũng chẳng thể nào ôm nhau, bàn tay hai đứa cũng không được chạm nhau, có lệnh cấm. Cụ Khổng Tử nói nam nữ thụ thụ bất thân, chắc rằng cụ nói về trường hợp thăm nuôi của nhà tù cộng sản. Cụ là thánh tiên tri. Tuy nhiên, sau này, lúc đứng dậy chia tay, lợi dụng lúc “bên Tầu có loạn”, vợ tôi cũng dúi vào tay tôi được ít tiền mặt.

Hai cặp vợ chồng ở hai đầu bàn, sau này nghĩ lại, tôi không hề biết cặp kia nói những gì, làm những gì, đưa quà làm sao. 13 năm sau, khi tôi qua được Mỹ, nhắc lại ngày hôm đó, vợ tôi kể rằng từ xa, thấy dáng tôi đi vững chãi, rất mừng. Khi gặp nhau cách một cái bàn, không thấy tôi hỏi mang những quà gì, cũng mừng. Mừng vì con người tôi không hề thay đổi. Ngồi xuống bàn , tôi nói với vợ tôi ngay, chúng mình không có nhiều thì giờ, vậy nói theo thứ tự. Tôi cho biết tình hình tôi, mọi thứ đều ổn, công việc không nặng nhọc, có đôi chút thoải mái, làm hết việc thì nghỉ. Tôi nói trong vòng 3 phút, bắt đầu hỏi vợ tôi về Đẻ tôi, về hai đứa con, về mọi người trong gia đình, … Hỏi liên tục, trả lời liên tục, như vậy vợ tôi không có thì giờ xúc động. Rồi tôi hỏi vợ tôi về hoàn cảnh công việc làm hiện nay, về sinh sống, … Sau đó, không cần hỏi, vợ tôi có trớn, kể nhiều chuyện. Đôi khi chúng tôi còn cười. Tôi đoán chàng công an đang đi quanh quẩn xem chúng tôi nói những gì, chắc phải ngạc nhiên. Đoán thì giờ qua nhiều, tôi nói vợ tôi chú ý nghe, rằng bất cứ giá nào cũng phải đưa hai con đi kinh tế mới, chỗ “bác Toàn” đang lao động gây dựng cơ ngơi sản xuất. Tôi nhắc lại đó là điều quan trọng nhất. Nói rõ, ở đây, nhà nước lo dủ thứ cho tôi, cứ yên tâm, đừng sợ tôi thiếu thốn. Khi khá rồi, gửi quà cho tôi. Vả chăng, còn Đẻ tôi, còn cả nhà, đừng lo cho tôi. Khúc này thì vợ tôi bắt đầu rơm rớm nước mắt, chưa đi, nhưng đã thấy xa xôi ngàn dặm. Được thêm nửa giờ, vợ tôi cho biết sẽ ra Hà Nội gặp họ hàng rồi đi thăm một người cậu là ông Bùi Quyền, ở mạn Bắc. Tôi dặn dò đừng nghĩ đến chuyện thăm nuôi tôi, dù là ai đi cũng vậy, vì không cần thiết. Gửi quà là đủ rồi. Nhắc đến Bùi Quyền, tôi nhắc lại trong giọng bông đùa, hỏi vợ tôi còn nhớ Thầy Thanh Thùy, một vị sư, coi tử vi đã nói ông Quyền và tôi rồi cũng sẽ thoát cảnh khổ cực. Chúng tôi đến thăm Thầy ở Cư Xá Nguyễn Thiện Thuật mấy ngày cuối Tháng Năm, 1975. Giờ chót, chợt nghĩ ra, vợ tôi hỏi sao chị Ph đi về kể được thăm anh ấy cả ngày, anh ấy ở lại đêm nữa. Tôi khoát tay, mỗi người mỗi khác. Không nên mong chúng mình như vậy. Vợ tôi lại dặn dò thêm một lần, mấy chị gửi đồ cho các anh, gói nào cũng đề tên, anh cứ việc giao các anh ấy. Nói các anh nhớ viết thư nói nhận được quà, những gì, cho khỏi mang tiếng.

Rồi hai tên tù khệ nệ xách mấy túi quà, về trại. Ngoảnh lại, vẫn thấy hai bà đứng nguyên một chỗ, nhìn theo. Lịch sử một đất nước, một dân tộc, ngàn năm mới tính. Lịch sử một đời người, vài ba giây phút này thôi.

Chừng 6, 7 tháng sau ngày vợ tôi thăm nuôi tôi, qua cuộc thăm nuôi của một người bạn tù, tôi được tin vợ tôi dắt hai đứa con vượt biên thành công, đang ở đảo. Tháng sau, tôi nhận được thư Đẻ tôi báo tin, Lan Anh, vợ tôi, đi kinh tế mới, gần chỗ anh Toàn. Đảng và Nhà Nước yên trí, tôi yên tâm cải tạo!

Sau Tết năm sau, 1980, Đẻ tôi và bà Mẹ vợ từ Sài Gòn, rủ nhau đi Thanh Hóa thăm tôi. Rất bất ngờ vì Đẻ tôi năm đó đã 80 tuổi. Tám chục tuổi vào thời kỳ sau 1975 chắc chắn sức khỏe không thể coi là tốt được. Có lẽ vì bà Mẹ vợ tôi sắp đi Bỉ theo diện bảo lãnh, nên muốn thăm tôi một chuyến trước khi vĩnh viễn ra đi. Bạn tù Trần văn Chung nghe nói Đẻ tôi vào thăm, hốt hoảng vì biết Đẻ tôi tuổi đã cao, hỏi tôi như vậy làm sao Cụ đủ sức khỏe. Tôi không biết trả lời sao. Bạn chạy đi xoay xở sao đó, bạn là một thiên tài về xoay xở, tìm được củ sâm, nói tôi ngày mai gặp Cụ, đưa Cụ pha nước, và ngậm trong miệng, để giữ sức khỏe. Có lẽ số Đẻ tôi gặp đại cát, thằng con ở tù mà có sâm để dâng lên Mẹ. Tôi vẫn nhớ ơn này của bạn Chung.

Để thăm tôi, hai Cụ đi Hà Nội thăm họ hàng, rồi từ đó, một anh trong họ đưa các Cụ đi vào Thanh Cẩm thăm tôi. Anh là dân Hà Nội nên biết mọi thủ tục cần thiết, biết ứng phó “đúng qui trình” của cái xứ Xã Hội Chủ Nghĩa. Ông anh họ lo khuân vác đồ thăm nuôi tôi lên xe lửa ở Hà Nội, rồi đưa lên xe đò Thanh Hóa – Cẩm Thủy. Từ Cẩm Thủy, ông anh sinh trưởng trong xã hội cộng sản xoay xở sao đó, có xe “cơ giới” đưa các cụ đến gần trại Thanh Cẩm, tôi đoán đến chỗ họp chợ của xã Cẩm Thành, hoặc của làng Chiềng Chèm. Từ chợ, ông thuê xe trâu cho các cụ ngồi, không phải lội bộ. Vào đến nhà thăm nuôi, ông lại là người làm thịt con gà nấu cơm cho các cụ ăn. Tài ngoại giao qua mọi ngõ ngách của ông, hôm sau tôi được ăn cơm cùng gia đình. Ông lại dậy từ 5 giờ sáng, nấu ăn. Sau này, ông anh họ đó, cứ khoảng 8 hay 9 tháng lại từ Hà Nội vào thăm tôi một lần.

Gọi là “anh họ” cũng không hẳn đúng. Sau này, thấy ông vào thăm tôi mấy lần, anh em bắt tôi kê khai xem ông ấy là ai, họ hàng ruột thịt thế nào, mà chịu khó như vậy. Tôi nói khôi hài rằng, họ hàng thế nào, nhờ các ông tính giùm. Để tôi kể: Tôi ra đời ở Bắc Ninh, lấy một bà vợ họ Nguyễn, sinh ở Hà Nội. Chúng tôi gặp nhau ở Sài Gòn và lấy nhau. Bà vợ tôi có một Bà Mẹ, Bà Mẹ ấy có Bà Chị Ruột. Bà chị ruột này lấy một ông chồng ở Hà Nội. Ông chồng này trước đó đã có một bà vợ. Bà vợ đó đẻ ra một cô con gái. Cô con gái đó lấy cái ông thăm nuôi tôi. Mọi người lạy tôi đừng kể thêm nữa. Đêm trong tù hay nhớ nhà, khó ngủ. Thêm suy nghĩ rắc rối kiểu này, càng mất ngủ. Tôi gọi ông là ông anh họ cho tiện. Ông ấy hơn tôi khoảng chục tuổi. Ông là Hiệu Trưởng một trường trung học ở ngoại ô Hà Nội, là đảng viên. Vào những năm 1980, đảng viên có liên hệ với “ngụy quân. ngụy quyền” dễ bị ghi sổ đen, dễ bị hạ tầng công tác, mất đề bạt. Tôi hỏi ông chuyện này, ông bảo, với những người Hà Nội chính gốc, tình giữa liên hệ họ hàng vẫn là điều đáng quí. Nó đuổi anh khỏi đảng, càng đỡ cho anh khỏi phải xin rút lui. Không biết sau này ông có bị hạ tầng công tác không. Nhưng nhờ tấm thẻ đảng, hai cụ và ông anh được đối xử dễ dàng hơn nhiều trong thời gian trú ngụ tại nhà thăm nuôi. Cho đến bây giờ, cái ơn ông anh chăm xóc tôi những ngày tháng tù đầy ở Thanh Cẩm, vẫn còn canh cánh trong lòng tôi.

Trước Tết 1984, ông anh lại vào thăm tôi. Ông rỉ tai, tay cán bộ coi ở đây (nhà thăm nuôi) nói nhỏ cho anh biết em có tên trong danh sách về kỳ này. Ra Tết họ sẽ thả. Bình thường, danh sách thả tù về trại, chừng vài tuần sau họ sẽ đọc lệnh thả. Kỳ này, họ để sau Tết lâu vì còn phải đi mua vé xe lửa Thanh Hóa  – Sài Gòn. Dịp Tết, vé khan hiếm. Mỗi khi danh sách về, thế nào tin tức cũng được rỉ tai. Ít ngày sau, hầu như một nửa số người được thả đã nghe xì xào. Bọn cán bộ rỉ tai là để hy vọng có đền đáp của tù nhân sắp về. Với bọn công an, thứ gì của Tù Miền Nam cũng đều “cao cấp”.

“Làm Việc”

Chẳng hiểu mấy anh Công An thuộc bộ phận đọc hồ sơ mấy tay tù Miền Nam ở Bộ Nội Vụ làm việc ra sao, mà lại chọn tôi là một trong những tên để mấy anh hỏi tới, hỏi lui. Tôi không nhớ vào năm nào, có thể sau khi tôi đến nhà tù Thanh Cẩm được 1 năm (tháng 12 năm 1976 đến Thanh Cẩm), hai lần có anh Công An từ Hà Nội về kêu tôi “làm việc”, tức là điều tra, bắt khai báo, một cách nhẹ nhàng. Tôi vẫn nghĩ rằng mấy tay ở Bộ này kiếm chuyện đi chơi, tránh được cái bàn giấy nhàm chán và buồn thảm nơi Bộ, mà đến địa phương lại được phục dịch cơm gà, cá gỏi. Mấy tay này chỉ lụi cụi dở mấy tờ giấy, ngắm đi, ngắm lại, trong căn phòng tối mù mù ở Bộ, đeo lon cao nhưng thuộc loại hết thời, đi đây đi đó cho qua tháng, ngày. Nghe đồn mấy anh đó cấp Đại Tá, anh Công An Trưởng Trại chỉ mang cấp bậc Thiếu Tá, chắc là phải e dè. Biết đâu được, mai mốt đổi chủ, anh Đại Tá hôm nay ngồi chơi sơi nước bỗng nhẩy lên làm Cục Trưởng Cục Trại Giam, lại thêm ngôi sao, Thiếu Tá Sử, Đại Úy Thực (Trại Trưởng) sẽ được tính sổ của ngày hôm nay.

Một buổi sáng mùa đông, tôi ngồi xếp hàng ở sân, chờ xuất trại đi lao động. Trực Trại xuất hiện, đọc to, anh Đỗ Việt Anh, Đội 2, ở nhà, không đi lao động hôm nay. Anh Anh về buồng đợi. Cũng hơi lạ. Ngài Trực Trại là quan to nhất trong khuôn viên trại giam. Ít khi ngài xuất hiện. Thường mấy tay phụ tá hay Quản Giáo các đội mới coi xóc việc báo cáo nhân số xuất trại. Hôm nay quan đích thân đọc tên tôi. Bên cạnh quan lại có Quan An Ninh, mặt sắt đen sì, đứng gật gù theo nhịp đọc. Anh em sì sào, được tha à. Tôi lắc đầu, có thằng an ninh, chắc lại lôi thôi đây. Chắc chuyến này lên kiên giam. Tôi hay làm thơ bậy bạ ngoài “đường lối chính sách”. Tôi nhớ hai câu “Thóc gạo đất Thanh nhai khó nhọc, nước xuôi sông Mã nuốt băn khoăn.” Không có gì lõa lồ ý nghĩa phản động, chỉ e chàng “ang ten” nào lập công, giải thích như tôi giải thích cho chàng ta hiểu.

Gần 9 giờ sáng, Thiếu Úy Lăng, (hình như là ) phụ tá Sĩ Quan An  Ninh Trại, lên buồng tìm tôi, nói tôi mặc y phục đàng hoàng. Chàng nói có vẻ nghiêm trọng, hôm nay anh sẽ gặp Đại Tá từ Bộ Nội Vụ ở Hà Nội về làm việc. Đây là lần duy nhất chàng nhắc cấp bậc của anh Công An từ Bộ về. Có lẽ chàng hố, quên, nên nói như vậy. Sau đó, chàng im bặt. Phần tôi, đang mừng thầm vì không phải chuyện lên kiên giam, nghĩ ngay lát nữa sẽ báo tin cho mấy bạn tù thân thiết biết, quên mất dáng vẻ anh chàng Công An An  Ninh hôm nay hiền như cừu non. Xuống hết mấy bậc tam cấp từ buồng 4 đến buồng 3, tôi mới sực nhớ ra, liếc nhìn chàng An Ninh đi bên cạnh.  Có chút gì ân cần khi chàng khẽ vịn vào vai tôi. Tôi lại nghĩ ngay đến viên Đại Tá lát nữa phải gặp, không biết sẽ ra sao. Kệ nó. Ra khỏi cổng trại, vào con đường đi ra khu Ban Giám Thị, tôi chợt hiểu ra cái “ân cần” khi nãy, vì chàng ngừng lại, nói, anh sẽ làm việc với cán bộ từ Hà Nội, anh cũng thấy ở đây chúng tôi đối xử với các anh tốt, không đánh đập anh nào, không quát mắng, chửi bới. Ban Thực nhắc anh, nếu ông cán bộ có hỏi, anh cứ nói như vậy, nói mọi việc đều tốt. Chỗ này tôi có thể sai, rằng lúc đó Trưởng Ban Giám Thị, tức Trại Trưởng là Đại Úy Thực hay Thiếu Tá Sử. Cứ gọi là “Ban Thực” cho tiện. Ra chàng Lăng oai hùng là vậy vẫn băn khoăn vì sợ tôi tố cáo chuyện này, chuyện kia ở trại giam. Có lẽ chính các chàng cán ngố ở trại cũng không biết chuyến đi của Ông Cán Bộ Hà Nội là về chuyện gì. Tôi gật đầu. Chàng lại đi, vừa đi vừ giải thích, ông cán bộ này tìm hiểu về tâm lý, tư tưởng tù các anh thay đổi ra sao, ông ấy làm việc khoa học ấy mà. Chàng biết đã nói lộ cấp bậc, nên cố sửa lại, và phải tỏ cho tôi biết “ta cũng nắm vững tình hình”.

Thiếu Úy Lăng đưa tôi vào một căn nhà nhỏ trong khu Ban Giám Thị, ngay cạnh giòng sông Mã. Từ ngôi nhà, nhìn qua cửa sổ, tôi thấy một bạn tù ngồi trên chòi làm trên mấy cành cây cao nhô ra dòng sông, kéo thùng nước từ dưới sông lên. Tôi vẫn nghe mấy bạn tù nói chuyện “kéo nước”, bây giờ mới biết nó như thế nào. Từ độ cao cách mặt nước sông đến 20, 30 mét, cách mặt đất trên bờ khoảng 10 mét, chàng tù kéo nước lên, đổ vào cái thùng trên chòi. Nước chảy từ thùng theo máng là mấy cây luồng rỗng ruột đến một cái thùng to tướng nằm đâu đó trên bệ cao. Từ đó, nước theo ống sắt chảy đến một số nơi, tôi đoán là nhà Trại Trưởng, nhà dành cho khách, …, tức mấy nhà quan trọng, cũng có thể là nhà bếp cơ quan. Việc kéo nước thường phải hai người, vì kéo chừng nửa tiếng tay đã mỏi. Mùa nước lũ, tức mùa hè nhiều mưa, nước dâng cao, khoảng cách mặt sông với chòi giảm đi, đỡ cực hơn, nhưng hay gặp mấy cành cây nhỏ, rác rưởi, mất thì giờ nhặt vứt đi, Thời gian thành ra cũng không nhanh hơn. Tôi nhớ các bạn kéo nước nói, hình như 80 đến 100 thùng gì đó, là đủ cho một ngày.

Bước vào cửa ngôi nhà nhỏ, hay gọi là căn lều lớn cũng đúng, gặp ngay bộ bàn ghế dài kê giữa nhà. Đây là kiểu kê bàn ghế ngày xưa, ngay cửa chính vào, giữa nhà, là bộ tràng kỷ, gồm một cái bàn cao, hai bên hai ghế dài, có lưng dựa, có thể thêm một bàn thấp hơn, nhỏ, kê ngay đầu cái bàn chính cao. Sâu vào phía trong, sát vách tường trong, nối với bộ tràng kỷ, thường có bàn thờ. Ở đây, gọi là bộ tràng kỷ cho “oai”, thực tế là cái bàn dài gỗ tạp, hai bên hai ghế dài có lưng dựa. ở hai đầu hồi căn nhà nhỏ, có tủ gỗ gì đó, tôi không nhớ. Không có bàn thờ, không lẽ thờ 3 tên Lê, Mao, Hồ. Thiếu Úy Lăng chỉ ghế tôi ngồi, nói đợi ông cán bộ đến. Chàng bỏ đi, 5 phút sau quay lại, theo sau là một bạn tù hình sự, bê một ấm giỏ đựng bình chè, bộ đĩa với 4 cái tách, một điếu cầy đẹp kèm mớ đóm, và gói thuốc lào. Đợi bạn tù hình sự ra khỏi cửa, Lăng nói với tôi. Đây là thuốc lào hạng nhất, anh mời cán bộ hút, và anh hút luôn. Hết thuốc lào, tôi lại đưa. Nước chè ngon cực đấy. Có cái bình thủy nước sôi đây, anh rót thêm khi ấm chè hết. Đến giờ cơm, ông cán bộ gọi tôi, tôi đưa anh về trại. Buổi chiều, tùy giờ giấc ông cán bộ, tôi vào trại đón anh. Anh làm việc cho tốt nhé. Rồi chàng đi.

Thêm 15 phút chờ đợi, ngồi ngắm bạn tù kéo nước. Công việc “căng” đấy, chẳng phải chơi. Nhìn xuống dòng sông Mã, một hai chiếc bè trôi xuôi, gần đầu bè, bập bùng bếp lửa, giữa bè, cái mái đan bằng tre, nứa, uốn hình bán nguyệt, úp lên trên bè. Cảnh vật trên sông đơn sơ, tĩnh lặng, nghèo nàn. “Ông Cán Bộ” đến. Theo sau là Thiếu Úy Lăng. Bước lên bậc thềm, ông cán bộ quay lại nói với Lăng, thôi anh làm việc nhé, để ở đây chúng tôi làm việc với nhau. Giọng rõ ra kẻ cả. Cái lối Bắc Kỳ là vậy, có cơ hội là vênh mặt lên, cho rõ dáng bậc trên. Bước qua ngưỡng cửa, ông cán bộ lại tỏ tươi cười, vồn vã, A, anh chờ lâu không, rồi ngồi xuống ghế đối diện tôi. Tôi nhỏ giọng đáp, cũng chưa lâu, thưa cán bộ. Ông chừng trên hay dưới 60 tuổi, nhưng có lẽ chỉ ngoài 50, vì ngoài Bắc lúc đó, đời sống còn gian khổ, dáng người già đi trước tuổi. Ông mở cái cặp lúc nãy ôm trong tay, rút ra phong kẹo lạc (kẹo đậu phộng), xoa hai tay vào nhau vì trời lạnh, ông nhìn tôi nói, chúng mình ăn kẹo, uống chè đã, còn nhiều thì giờ. Chắc chắn tôi không từ chối kẹo lạc, bởi vì để uống nước chè, trong bụng tôi phải có cái gì, nếu không sẽ bị say. Say nước chè khốn khổ hơn say rượu nhiều. Rồi ông với cái điếu cầy, cầm gói thuốc lào quan sát, A, thứ này được đấy, hút đằm, không bị sóc, Anh làm một điếu. Tôi từ chối, tôi ít hút thuốc lào, cán bộ. Ông kéo hơi dài, nõ điếu kêu ròn tan. Giữ tí hơi, rồi phả ra, hớp ngụm chè, người ta gọi là “hãm”, chẳng biết thú vị gì không. Lơ mơ một tí, hình như ông sực nhớ ra có tôi, quay lạ hỏi, chắc ngày xưa anh chỉ hút thuốc điếu ngoại, anh cấp cao mà. Tôi không biết với ông thế nào là cao, theo tôi, Tổng, Bộ Trưởng , Thủ Tướng, mới là cao. Ở Long Thành, một anh cán bộ gọi tôi làm viêc đã nói, chức vụ anh ngang với Trung Tá Công An bên này, nếu có khoảng 400, 500 người dưới, là ngang cấp Đại Tá đấy. Oai thật. Tôi chẳng biết trả lời sao, nên đưa đẩy, vâng, ngày xưa tôi chỉ hút thuốc lá, không nghiện, nhưng thích hút. Ở đây trời lạnh, không có thuốc lá, tôi xin nhà gửi thuốc rê, vấn hút cho ấm. Nhưng thuốc lá vẫn là nhất, cũng mong hôm nào trại bán, mua một gói. Câu sau là tôi “hơi đểu”, nghĩ cái kiểu chàng mồi chài từ nãy đến giờ, như bán hàng quảng cáo, lừa bịp khách hàng, ướm thử, biết đâu được mua thật. Lạy Trời, Lạy Phật, Lạy Chúa, thằng tôi nơi tận cùng xã hội được các Ngài đoái hoài. “ÔNG CÁN BỘ”, tôi phải viết hoa toàn diện 3 chữ để bày tỏ sự kính phục ông, đứng dậy nói, để tôi xem xem. Ông bước ra thềm, ơi ới gì đấy, rồi quay vào ngồi xuống. Thiếu Úy Lăng chạy đến, có lẽ chàng vẫn ở căn nhà bên cạnh, lúp xúp đi vào, chưa kịp nói gì, ông cán bộ đã phán, này, ở đây có bao thuốc điếu nào không nhỉ. Dạ có “chú”. Cho tôi mua một bao. Để cháu lấy, dạ, mua bán gì. Ông cán bộ Trung Ương này cũng đểu, chỉ “mua” , chứ không đòi. Thế là tôi có một điếu thuốc hút, cùng ông cán bộ Trung Ương. Thuốc gì, tôi không nhớ. Cuối buổi, ông bảo tôi cầm, sức mấy tôi cầm, bổng lộc của ông cán bộ, đi địa phương chỉ mong có vậy. Vả lại, nếu tên Lăng biết được, sau này kiếm cớ đì tôi tóe phở (tóe khoai mì).

Lúc này ông cán bộ T/Ư mới mở cái cặp, rút ra tập hồ sơ, bọc bên ngoài là cái bìa dầy màu xanh dương, nói, thôi chúng ta vừa hút thuốc, vừa làm việc.  Ông để xeo xéo cho tôi có thể đọc mấy chữ to tướng trên tấm giấy dán trên bìa: “Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Nhà Nước”. Tôi nghĩ ngay, lại trò bịp. Kể đến chữ “bịp”, tôi nhớ 2 chi tiết không kể lúc nãy. Một là, khi đứng dậy để kêu tên Lăng lấy thuốc lá, ông đã cất ngay phong kẹo lạc ăn dở vào cặp, tôi nghĩ ông không muốn Lăng thấy chứ không phải vì sợ tôi lấy; hai là, ông mặc thường phục, không phải quần áo Công An. Một cái quần tây dài màu sậm, không biết có áo thung không, có áo sơ mi, rồi áo len đan tay màu vàng nhạt (gần màu áo Công An), bên ngoài cùng là áo vét màu sậm, thêm khăn len quấn cổ dệt ca rô nhiều màu đậm. Ông đi đôi giầy loại giầy vải nhà binh, chắc để cho ấm, và dễ đi ở miền núi, rừng.

Rồi, bây giờ “chúng ta làm việc”, tôi lặng lẽ tận hưởng điếu thuốc lá, nghĩ nhanh, “làm việc” kiểu này được đấy, rõ ràng có tí ti mua chuộc, nhưng không sao, không anh Tây nào chết.

Ông Cán Bộ bắt đầu nói về những gì trong bản tự khai của tôi (cách đây hơn một năm). Ông khen rằng những ghi chép của tôi có thứ tự mạch lạc, nhận thức của tôi có lý luận dù rằng cơ sở lý luận không đúng. Tôi hiểu ngay mấy chữ “cơ sở lý luận” là không theo “biện chứng pháp” của ông, của người cộng sản. Ông bảo rằng từ “Tiền Đề” anh đã đặt sai, lý luận theo sau tất yếu phải sai. Rồi ông cao giọng thuyết giảng, thí dụ thế này, anh bảo các anh là “cá nằm trên thớt.” Điều đó đúng, nhưng người ta nói cá nằm trên thớt là nói về con cá còn tươi, còn các anh là cá đã ươn rồi. Cá ươn, nằm trên thớt hay không, cũng tàn đời, cũng bị tiêu diệt. Tiền đề, anh tự coi là con cá tươi, nên sai hoàn toàn. Cách mạng là gì, là ngay cả khi chúng tôi là cá nằm trên thớt, chúng tôi cũng vẫy vùng để biến thớt thành ao hồ sông biển, có nước để sống, để hoạt động, để làm cách mạng. Các anh “tát nước bắt cá”. Ấp Chiến Lược của các anh là cái thớt, chúng tôi vẫy vùng để Ấp Chiến Lược của các anh thành ao hồ sông biển, nhân dân chính là nước cho chúng tôi sống để làm cách mạng. Đẻ tôi vẫn nói: “Nói như Vẹm”.

Ông nói nhiều lắm, về chuyện học tập cải tạo … Tôi chỉ nhớ được hai ý mà tôi khoái, là cá ươn, và một câu ru ngủ xanh rờn, đang thuyết giảng hùng hồn, đến đây ông lại hạ giọng xuống như chỉ để mình tôi nghe: Chắc anh cũng biết trại này không quyết định gì về chuyện anh học tập cải tạo. Cán bộ ở đây, kể cả ông Thực, không quyết định gì về chuyện về hay ở của anh, không có gì là “cải tạo tốt, cải tạo xấu.”  Hồ sơ của anh chúng tôi nắm sẽ quyết định (ông nói thật, nên quên mất mấy chữ “Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Nhà Nước” ông cố tình khoe tôi, Ủy Ban đó nắm hồ sơ tôi?), và tùy theo qui định chung, loại nào, cấp nào, thì được về lúc nào. Có trường hợp chiếu cố, nhưng ít. Trại này chỉ có bổn phận giữ các anh trong thời gian chờ đợi đến lúc anh được về. Tôi tin ông nói mấy câu này thật, nhưng tôi gọi là “ru ngủ” vì tính hoài nghi, nghi rằng để tôi tưởng bở “hoàn tất hồ sơ” tốt theo kiểu của ông, hay của cơ quan ông. Tôi nhớ hai chữ “cá ươn”, vì định ngứa mồm hỏi rằng ông có tin là “cải tạo” được lũ cá ươn này không. Trong các bạn nhỏ Phục Quốc, có cậu Tuấn Nhí, thường hay gặp riêng tôi, hỏi mấy câu hóc búa. Thí dụ, hai chữ “cải tạo” ở đây là gì? Tại sao không gọi đơn giản là “tù”. Hơi bất ngờ, tôi cũng phải “động não” (não “động” hoài chắc “lỏng” mất Mẹ nó cả não!).Không gọi là “tù”, vì không đơn giản chỉ là nhốt, giam một con người không cho tự do đi lại, không cho tự do sinh hoạt trong đời sống bình thường. Họ dùng chữ “Cải Tạo” là đúng. Ở đây, có sự khác biệt về ý nghĩa. Bình thuòng “cải tạo” được hiểu là làm thay đổi tư tưởng, thói quen sinh hoạt từ A thành B trong không khí, môi trường hòa bình. Chúng ta phải hiểu họ muốn làm thay đổi từ A thành B trong khung cảnh hung bạo với phương cách “trấn áp”. Khung cảnh hung bạo vì họ tạo cơ hội chúng ta sâu xé nhau, chọn Trật Tự, Văn Hóa, Đội Trưởng là người trong chúng ta, cho mấy người đó quyền lợi hơn chúng ta, rồi hệ thống báo cáo ngầm ta gọi là “ăng ten”. Trấn áp là họ dùng bạo lực, nếu cần để kiềm chế chúng ta. Họ có thể trấn áp với những cách thức hòa hoãn. Anh “Ph” mới được vợ thăm nuôi. Là người siêng năng, cần cù trong Đội Nhà Bếp, họ cho anh chị ở đêm với nhau. Họ dùng cái chuyện “ái ân” của hai vợi chồng để trấn áp sinh hoạt chúng ta, bắt chúng ta phải “tốt” như anh Ph. để được ngủ với vợ. Tư tưởng chúng ta, thói quen sinh hoạt của chúng ta có thể không thay đổi, nhưng chúng ta biểu thị giả sự thay đổi đó. Thế là đủ. Cả xã hội ai cũng “giả” hết, là cải tạo rồi.

Tôi lặng thinh, không hỏi gì, lại còn gật gù khiến ông càng có hứng thuyết giảng. Tôi là thằng hèn, “cá ươn” lại nằm trên thớt, cứ phải hấp háy đôi mắt lờ đờ cho “ngài” Cán Bộ từ Hà Nội về khoái chí. Hèn, chắc chắn là thế!

Rồi ông hỏi tôi về cá nhân, về gia đình, về cảnh sống của tôi trước 1975. Có vẻ như ông ngậm ngùi khi nghĩ lại thân phận ông, về cuộc sống của ông. Tôi đoán thế thôi, không cho là sự thật được. Cung cách nói chuyện lúc này với giọng nhẹ nhàng như “kể chuyện tình” giữa hai kẻ yêu nhau, lại đôi chút tiêng tiếc vì đôi trẻ gặp cảnh ngang trái, (không rõ ai ngang, ai trái.)

Tiếu Úy Lăng lảng vảng ngoài cửa. Ông Cán Bộ cất hồ sơ vào cặp, nói với tôi, thôi, chiều chúng mình làm việc tiếp. Ông ngoắc tay gọi Thiếu Úy Lăng, nói, chiều nay đồng chí đưa anh này ra lúc 2 giờ, nhớ cho anh ấy một tập giấy và cái bút. Hai tiếng “đồng chí” ông Cán Bộ chỉ dùng cho buổi sáng hôm đó, sau này, tôi thấy ông gọi tên Lăng là Thiếu Úy, hoặc “anh”. Có lẽ tình hình thân thiện hơn, “hiểu” nhau hơn.

Buổi chiều, Thiếu Úy Lăng mang vào căn nhà nhỏ bình thủy nước sôi, gói thuốc lào buổi sáng còn, điếu cầy, đóm, thêm gói chè. Không thấy bạn tù hình sự nào. Chàng ta đi mấy phút, mang lại cho tôi tập giấy rời, cây bút bi. Chàng nói giọng nhẹ nhàng, anh ngồi đây chờ ông cán bộ. Anh cứ pha chè, hút thuốc trước cũng được. Tôi cảm ơn. Sáng nay quên không lấy thêm điếu thuốc lá, giờ này ngồi hút chắc là thú vị. Thiếu Úy Lăng đón tôi sớm 15 phút để chờ sẵn. Nhìn chàng Thiếu Úy bước ra, tôi thấy buồn cười. Lúc khác, trông chàng đường đường là “đấng cai tù”, mặt mày “nghiêm túc”, khó khăn. Hôm nay khác hẳn, nhũn như con chi chi, khép nép rụt rè. Phải vậy thôi.

Ông Cán Bộ bước vào, nhìn tôi cười, và ngồi xuống. Ông rút ra phong kẹo lạc dở, bao thuốc sáng nay, rồi tập hồ sơ. Pha chè, rít điếu thuốc lào, chiêu ngụm chè nóng, rồi ông bắt đầu nói, trong khi rút điếu thuốc lá đưa tôi, bật lửa cho tôi, còn ông tự châm lửa một điếu thuốc. Ông nói rằng, đọc bản kiểm thảo của anh (đúng ra nó là bản tự khai), chưa nói rõ về chính sách chiêu hồi của các anh, không nêu lên được âm mưu bọn Mỹ trong việc chiêu hồi đó, và bọn nó chỉ đạo trục tiếp anh thế nào. Bọn Mỹ âm mưu gài lại những người phản bội đó về lại phía chúng tôi như thế nào, cũng không có trong bản kiểm thảo của anh. Hôm nay tôi chỉ nêu mấy điểm này. Anh ngồi động não, ghi ra. Anh cứ tự nhiên ăn kẹo, uống nước chè, hút thuốc. Tôi qua bên cạnh làm việc.

Khổ cho tôi đây. 1973 tôi biệt phái về Dân Vận, một năm làm việc kiểu công tác thanh niên, sinh viên. Anh bạn Lê Đình Điểu bỏ Dân Vận, qua Kinh  Tế, tôi là thằng cuối cùng rời Khối Kế Hoạch Bộ Dân Vận đi làm Trưởng Ty vào gần giữa 1974. Cuối năm 1974, sát nhập Bộ Chiêu Hồi vào Bộ Dân Vận. Tháng 4, 1975, mất nước. Hai chữ Chiêu Hồi cho tôi biết công việc là cái gì, nhưng bảo chính sách, đường lối, âm mưu này nọ, xin chịu, không biết gì. Không ai trình bày gì khi sát nhập, cũng chẳng có tài liệu, sách vở, lý thuyết để liếc qua cho phải phép. Bây giờ, kiến thức có chút ít, suy luận thì trăm cách. Tôi có khả năng viết diễn văn, soạn kế hoạch, viết báo cáo, mang ra để kéo dài mấy bữa kẹo lạc, chè ngon, thuốc lá. Cái Ông Cán Bộ này tử tế, không cầm đi gói thuốc, anh chàng Lăng có liếc thấy, nhưng không dám đụng vào. Kiếm được tí “nhuận bút” thời buổi này ít có lắm. 4 giờ rưỡi chiều đã thấy Ông Cán Bộ và Ban Lăng đến. Tôi quên, Thiếu Úy Lăng  là Sĩ Quan An Ninh, làm việc ở Ban Giám Thị, tôi phải gọi ngài là Ban. Tôi ghi được một trang rưỡi. Ban Lăng tính thu dọn giấy tờ, Ông Cán Bộ gạt tay Ban, cầm lấy cả sấp giấy và cây viết, đút vào cặp. Tôi lẽo đẽo theo Ban về trại. Ban nói anh bảo Đội Trưởng báo cáo Trực Trại và Quản Giáo ngày mai anh làm việc tiếp. Cứ 8 giờ anh xuống sân, không thấy tôi đến đón, báo cáo ở cổng anh ra Ban Giám Thị làm việc. Mai làm việc sớm hơn hôm nay. Lát sau tôi mới nhớ ra là tôi “chưa kịp mua đồng hồ”, biết lúc nào là 8 giờ. Tôi tính trong bụng, sáng hôm sau, khi các đội xuất trại hết, tôi độ chừng lâu hơn nửa tiếng đồng hồ sẽ xuống sân. Nhưng sáng hôm sau, Trật Tự lên buồng tìm tôi, nói Ban Lăng chờ

 Cả ngày hôm sau, ngày thứ hai của “làm việc”, Ông Cán Bộ gặp tôi ít phút, nói anh cứ thế mà ghi ra. Nghĩ được gì, cứ viết, đùng lo giờ giấc, công việc của anh là quan trọng, bao lâu cũng được. Không có Ông Cán Bộ, Ban Lăng vẫn phải mang ấm chè và bình thủy nước sôi đến, thuốc lào, điếu, đóm. Ông Cán Bộ thỉnh thoảng tạt qua, móc điếu thuốc lá, làm ngụm chè nóng. Ông còn hỏi Ban Lăng để bao diêm cho tôi. Có vẻ Ông thích thuốc lào hơn, tôi vẫn nghe nhà bên có tiếng rít điếu cầy. Tôi thắc mắc không lẽ ở nhà bên cũng có đủ chè, lào như bên này. Muốn liếc mắt xem thế nào, nhưng khi về trại, tôi ra cửa rồi qụeo trái, trong khi cái “nhà bên” lại ở bên phải. Không lẽ khi “làm việc” với cán bộ ở Bộ, tiêu chuẩn của tôi có đủ chè, lào ? Thuốc lá với kẹo lạc của Ông Cán Bộ. Cho thằng tôi hưởng thêm kẹo, thuốc, hoặc vì ông có từ tâm mà ông không phải chi, hoặc vì ông muốn được địa phương phục dịch theo ý, hoặc vì ông cũng thích mấy thứ đó. Cái “hoặc” nào đúng?  Không thể biết được. Cứ hưởng đã. Buổi sáng, Ông Cán Bộ đưa tôi xấp giấy trắng, còn hai tờ giấy tôi ghi hôm qua, ông vẫn để trong cặp, mặc dù tôi mới ghi hết 1 tờ rưỡi. Cả ngày hôm nay, ngày làm việc thứ hai, tôi ghi được 3 trang giấy. Ngày thứ 3, đại khái như ngày trước.

Ngày làm việc thứ 4, Ông Cán Bộ sốt ruột, nói sáng nay anh ghi cho xong những cái đang ghi (Về hiêu Hồi). Chiều nay, chúng ta nói qua chuyện khác. Bao thuốc lá còn được một phần 4. Kẹo lạc đã hết chiều hôm qua. Tôi làm việc trong sự “buồn tủi vì bị bạc đãi”, nhưng may quá, ông nói viết cho xong phần đang viết. Chắc chàng thấy tôi lan mang đủ thứ mà chẳng có gì là quan trọng, nên cho tôi ngưng chuyện đang viết. Buổi chiều Ông Cán Bộ nói một hồi về chuyện ta đang đòi Mỹ bồi thường chiến tranh, và phải bồi thường theo cách của ta. Để cho nó quản lý việc bồi thường, nó lại xâm nhập vào ta để phá hoại. Xong, ông kết luận, chúng tôi cần anh nói rõ về kế hoạch thông tin, tuyên truyền, hồi chánh trong kế hoạch hậu chiến của nó. Nó sẽ có những bước đi như thế nào để tuyên truyền xâm nhập, phá hoại, … nhiều thứ lắm. Tôi vội trả lờ ngay, tôi không biết gì về “Kế Hoạch Hậu Chiến” của Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa. Tôi có thấy trên báo nói mấy chữ đó, nhưng không được đọc tài liệu nào, không được học tập gì, … Ông Cán Bộ khoát tay, anh cứ động não đi, cứ nhẩn nha nghĩ, nhớ ra cái gì, viết cái đó xuống. Kế Hoạch Hậu Chiến, thằng Mỹ nó thâm độc lắm, không coi thường được.

Nếu biết có ngày một anh cán ngố bắt tôi viết về Kế Hoạch Hậu Chiến của Giáo Sư Vũ Quốc Thúc và ông Davis gì đó, thì năm 1970 tôi đã copy sẵn kế hoạch đó để bây giờ “nộp” ngài cán. Thành ra, mấy anh cán này ghê gớm. Họ có đủ hết khi lấy được Sài Gòn, nhưng cứ cố bới móc xem có gì bị dấu đi không. Tôi đoan chắc là mấy câu chuyện giữa cán ngố ở Bộ và tôi, mấy anh cán ngố ở trại không được biết, và cũng không dám hỏi tôi hôm nay trao đổi những gì, viết những gì. Cái gì cũng bí mật theo từng cấp thấp, cao, ngang, dọc. Bố khỉ! Sau Kế Hoạch Hậu Chiến, Ông Cán Bộ cho tôi một ngày để tôi viết về Kark Marx. Cái này hơi lạ. Hay là họ muốn kiểm tra xem Miền Nam biết gì về mấy cái thứ lý luận triết học ưu việt của họ.

Tất cả 6 ngày làm việc, ngày 4 và 5, tôi cố dặn ra ít trang về Kế Hoạch Hậu Chiến về mặt Thông Tin, Tuyên Truyền, còn Chiêu Hồi tôi lờ đi vì ngửi thấy mùi tình báo trong đó. Tránh xa là hơn. Ngày 5, Ông Cán Bộ đãi tôi miếng bánh đậu xanh Hải Dương. Ngày 6, một miếng bánh khảo. Ông này đi xa trang bị kỹ nhỉ, hay ông moi của trại, không biết được. 6 ngày nhưng tôi nghỉ Thứ Bảy, Chủ Nhật, nên làm việc đến Thứ Hai tuần tiếp theo. Không biết ai quyết định, tôi được một ngày nghỉ nhà, là ngày Thứ Ba. Nghe nói hình như Thứ Bảy mấy ông Ban nào đó đưa Ông Cán Bộ “đi săn”. Không biết “săn gì”.

Sau đó, tôi nghe nói anh Phạm Phú Minh cũng ra làm việc, chẳng hiểu làm việc ra sao, có giống tôi không.

Khoảng 10 tháng sau (hay 1 năm sau?), mùa xuân (hay mùa hè?), tôi lại làm việc lần nữa. Cũng người từ Hà Nội vào. Nhưng lạ một điều, tôi không nhớ gì về kỳ làm việc này. Cũng anh Ban Lăng phục dịch, hình như anh đã lên Trung Úy. Vấn đề duy nhất tôi nhớ cũng là Kế Hoạch Hậu Chiến, về khía cạnh kinh tế, và đặc biệt về Tình Báo Hậu Chiến. Họ muốn đào sâu về chuyện gài người sau chiến tranh. Họ tưởng tôi là “bộ óc” hay sao? Tôi là một tên bất tài vô tướng, là lính quèn, chỉ đâu đánh đó, mà còn đánh sai nữa. Đồ đần! Không nhớ có phải chàng cán ngố ở Bộ kỳ trước không, hay chàng khác. Có lẽ khác vì tôi nhớ loáng thoáng chàng cán ngố này năng ngồi với tôi hơn, hỏi han tôi nhiều hơn. Hình như kẹo bánh kỳ này không có, hay có mà tôi quên. Bình chè, thuốc lào vẫn như kỳ trước. Tôi không nhớ anh chàng này hay anh chàng kỳ trước hỏi tôi: Anh có quen Tôn Thất Lập. Tôi nói, lúc sinh viên, có người nói tên Tôn Thất Lập đến gặp tôi, như thế là tôi biết, nhưng không quen. Có thể mấy anh này trộ tôi, để tôi biết rằng họ đọc các hồ sơ khai báo rất kỹ. Kỳ này Phạm Phú Minh thoát. Anh giáo sư triết học này là người “Miền Trung thật thà, chất phác.”

Tôi chỉ nhớ có vậy ở kỳ 2 “làm việc” với Bộ. Hậu quả tích cực của mấy kỳ “làm việc” là tương đối tôi ít bị “đụng chạm” với bọn Công An trong trại. Chắc họ ít gặp trường hợp người ở Bộ Nội Vụ về “thăm hỏi” tù nhân. Tôi đoán vậy thôi, chưa chắc đúng. Tôi làm “thơ” phản động, đọc cho cả người mà anh em tin là ăng ten nghe, cũng chẳng thấy ai động chạm gì.

Khúc Độc Hành

Hồi nhỏ, học địa lý, tôi nhớ tên một số sông. Chắc chắn tôi nhớ sông Hồng, còn gọi là sông Nhị Hà vì gắn liền với Kinh Đô Thăng Long, và sông Đuống vì chẩy qua quê tôi ở Bắc Ninh. Sông Cửu Long là con sông quá dài từ Hy Mã Lạp Sơn, nên tôi phải nhớ. Sông Hương, vì là Kinh Đô Triều Nguyễn, tôi cũng phải nhớ. Nhưng không hiểu sao tôi lại nhớ rất nhiều về chùm 3 con sông ở phía bắc của Miền Trung Việt Nam: Sông Mã, sông Chu, sông Cả. Cả 3 con sông không thuộc loại sông lớn, không gần gũi gì với quê tôi, không kiên hệ gì tới kinh đô, hay cố đô của đất nước mình. Sông Mã có gần với Thành nhà Hồ, nhưng không có gì đặc sắc. Đến khi vào Trung Học, tôi làm quen với văn thơ, tôi biết đến thơ Quang Dũng, và tôi say mê bài Tây Tiến của chàng thi sĩ tiểu tư sản trong Trung Đoàn Bảo Vệ Thủ Đô, toàn là thanh niên, sinh viên, trí thức tiểu tư sản. Chàng theo Trung Đoàn qua bờ sông Mã, để lại cho thi văn Việt Nam những khúc hát bi hùng:

“… Tây tiến đoàn binh không mọc tóc, Quân xanh màu lá, dữ oai hùm. Mắt trừng gửi mộng qua biên giới, Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.”

Rải rác biên cương, mồ viễn xứ, Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh. Áo bào thay chiếu, anh về đất, Sông Mã gầm lên khúc độc hành.”

Nhiều lắm, những khúc hát, những nét chấm phá của bức tranh trác tuyệt trong bài thơ rất nhiều. Ngay từ lớp Đệ Thất, tôi bắt gặp bài thơ Tây Tiến trong một tập thơ chép tay, hình như của anh thi sĩ Thùy Nhân, tức Nguyễn Khắc Giảng, do anh Đỗ Quí Toàn hoặc anh Đỗ Ngọc Yến để quên tại nhà tôi ở số 2 Ngô Quyền, Đà Lạt. Và tôi mê mấy câu thơ trên, và đặc biệt 2 câu này: “Áo bào thay chiếu anh về đất, Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Các cụ bảo văn thơ vận vào người. Không hiểu điều đó có đúng với mọi người không. Với tôi, quả thực, tôi suýt “về đất” trong chiếc áo tù bên giòng sông Mã. Tôi không nhớ ngày tháng của chuyện xẩy ra. Chắc là vào mùa hè của những năm từ 1978 trở đi, lúc mà các bạn Quân Đội từ các trại tù Miền bắc đã về đến Thanh Cẩm. Lúc đó  bà xã tôi chưa vượt biên. Mùa hè, đó là mùa lũ của Sông Mã. Mùa mưa tại vùng núi rừng biên giới Lào Việt, nước từ các dòng suối dồn xuống, nhập vào các sông, vào cả sông Cửu Long chảy hướng Tây Bắc, và vào sông Mã chảy hướng Đông Bắc. Đến huyện Cẩm Thủy, trở thành lũ mạnh.

Một buổi chiều “đi làm” về, xuống sông tắm. Bãi tắm bên bờ sông Mã ngay trước cổng trại giam Thanh Cẩm. Từ triền dốc đổ xuống bờ sông chỉ có một giải đất hẹp cho anh em đứng thay quần áo. Đông lắm lúc “tan tầm”. Mọi người cười đùa ồn ào. Nước sông cuồn cuộn. Nước lũ kéo theo nhiều cây gẫy đổ vì mưa bão, sụt lở ở tận đâu đâu trôi về gần khúc ở cổng trại giam thì ngừng lại. Tôi ở phía ngoài một chút so với anh em ở dưới nước gần sát bờ vì ngại nước chảy mạnh. Nhìn lên phía nước chảy tới, tức phía trái của mọi người, tôi thấy mấy cành cây nhấp nhô theo sóng sông, nhưng vẫn ở yên một chỗ. Có lẽ cả một cây lớn trôi về mắc kẹt nơi đó. Liệu chừng xa khoảng 10 mét. Tôi có thể bơi đến đó, vẫn là bơi dọc theo bờ, không phải bơi ra ngoài. Đúng ra, tôi chỉ bơi được chút ít, không phải người biết bơi giỏi. Nhưng 10 mét là khá an toàn, lại gần bờ, chỉ chừng một hai phút là tới thôi, sau đó sẽ bám vào mấy cành cây. Không ngờ, “cả một thế kỷ” trôi qua, tôi mỗi ngày mỗi xa cành cây xanh lá kia. Tôi bơi ngược dòng lũ. Bắt đầu hốt hoảng, và mệt. Tôi dơ tay vẫy vẫy trên bờ vì thấy bơi vào không được. Tôi thấy rõ mọi người vẫn cười đùa ồn ào dưới sông, trên bờ. Không một ai nghe tiếng tôi kêu. Không một ai nhìn thấy tôi quơ tay vẫy. Trong cơn bấn loạn tôi vẫn nhìn rõ những đôi mắt nhiều người, tôi chỉ mong một đôi mắt nào đó bắt gặp mắt tôi. Không. Sáu bảy chục người, người đang đùa rỡn, người đang thay quần áo, người đang lau khô thân thể, tôi thấy hết. Không ai thấy tôi. Tôi thấy rõ những đôi mắt nhìn ra giữa dòng sông, nhìn qua cả bờ bên kia, nhưng không thấy tôi. Những đôi mắt đó có lẽ chỉ thấy tôi như một thành phần trong mấy chục người dưới sông đang tắm. Thêm “một thế kỷ” nữa trôi qua, tôi không còn giữ mình nổi lên được nữa. Mà hình như càng ngày càng xa đám đông. Tôi chìm xuống, rồi lại ngoi lên, tay quơ quơ cầu cứu. không thể kêu lớn được nữa vì mỗi lần trồi lên mới hả miệng kêu là lại chìm xuống ngay. Mặt nước thì mênh mông. Anh em vẫn cưới đùa. Lâu lắm rồi, và mệt lắm rồi. Mỗi lần trồi lên là một lần cố mang sức lực cạn kiệt dồn vào đôi bàn chân để đạp, đôi cánh tay quơ trên mặt nước. Tôi đã nghĩ, phải buông xuôi rồi, không thể ngoi lên thêm được một lần nữa. Đúng lúc đó, tôi kịp nhìn thấy, rất nhanh, có lẽ chỉ một phần mười giây đồng hồ, ai đó trên bờ la lớn, chỉ tay về phía tôi, cứu kìa, cứu kìa.

Một phần mười giây đồng hồ, quí vị chưa biết được nó dài bao nhiêu đâu, nếu quí vị chưa qua cảnh “thập tử nhất sinh”. Phải nói là trăm lần, ngàn lần tử, một lần sinh mới đúng. Trước cái “một phần mười giây đồng hồ” đó, là “một phần mười giây đồng hồ” khác, khi tôi nghĩ đến chuyện “bỏ cuộc”, sẵn sàng chìm theo dòng sông Mã, trôi đi, trôi đi … Cái “một phần mười giây” trước này, khi đã quyết định bỏ cuộc rồi, tôi nghĩ về rất nhiều chuyện, và lạ thay, theo một logic thời gian. Tôi nghĩ rất nhiều chuyện, vì có lẽ tốc độ của tư tưởng nhanh hơn tốc độ ánh sáng? Và tôi “nghĩ đến”, không phải “tư duy” cái con khỉ tiều, bắt đầu là khi mọi người xếp hàng nhập trại, đếm đi đếm lại, thiếu mất một người, phải mất năm phút, mới biết là thiếu tôi. Bủa đi tìm, xuống bờ sông xem tại sao tôi chưa lên, chạy đi xa một tí, hay tại tôi đau bụng, tạt vào lùm cây nào, cất tiếng gọi tôi. Cuối cùng, mọi người vào hết, phải cho Đội vào thôi. Và, tôi thắc mắc, không biết có bắn 3 phát súng không, báo có người trốn trại. Buổi tối, cơm nước xong mọi người trong buồng bàn tán, nhất là người trong đội tôi bàn tán, tôi đi đâu, trốn đâu cho thoát. Có ai nghe tôi nói chuyện trốn này không. Tôi tưởng tượng ra cảnh mọi người trong buồng, dưới anh đèn điện vàng, những ai sẽ tụm với những ai. Mấy ngày sau, dân làng nào đó, bác chài nào đó, báo xác tôi nổi lên. Mọi người lại bàn tán. Không biết ai sẽ mang tôi đi chôn, chôn ở đâu. Hy vọng có mảnh gỗ ghi tên tôi trên nấm mồ.

Vẫn trong cái “một phần mười giây” trước đó, tôi nghĩ về cảnh gia đình, vợ con tôi được tin tôi mất. Đẻ tôi, vợ tôi, cả  nhà, qua sự tưởng tượng của tôi, sẽ như thế này, thế này …Tưởng tượng rất lớp lang. Mới đầu, nhà vợ tôi được tin, cả nhà sẽ thế này, thế này … Rồi vợ tôi nhờ đứa em chở về khu Trương Minh Ký, gần ngôi trường cậu Chí Chánh Án xử tử già Hồ, báo tin Đẻ tôi, và cảnh vật sẽ như thế này, thế này … Tôi lại thắc mắc, không biết hồn tôi có về được nhà không, có “nhìn xuống” mọi người không, có báo tin được ngay cho vợ tôi biết không? Hay báo tin cho ai. Người ta bảo phải “hợp” mới liên lạc được, “hợp” cái gì đó, tần số? Và, thêm một điều này, lạ lắm, ngay lúc đó tôi tự nhủ không sân hận, không thù oán, có tiếc, nhưng tự bảo mình, ra đi với “lòng xuân phơi phới”. Sau đó, lại nghĩ thêm điều này, tôi có quyền lực gì để giúp được cho người đã nhìn thấy xác tôi? Đã vớt tôi lên. Tôi muốn đền đáp, nhưng không biết có khả năng đó không. “Một phần mười giây đồng hồ!” Tôi chắc là thế, không thể lâu hơn. Thì giờ lấy đâu ra mà lâu. Buông rồi, bỏ cuộc rồi, tôi sẽ chết ngộp ngay thôi, chìm xuống, và trôi đi theo dòng nước sông cuồn cuộn.

Và “một phần mười giây SAU ĐÓ”, tôi biết có người sẽ cứu tôi. Tôi đã thực tập chuyện cứu người chết đuối ở hồ Xuân Hương, Đà Lạt. Trời Đà Lạt lạnh ơi là lạnh. Các anh huynh trưởng Hướng Đạo bảo tôi, để xứng đáng gắn mảnh bằng “Hạng Nhì” lên tay áo, tôi phải làm chuyện đó. Tôi không bơi được, phải giả chết để người khác cứu. Nước hồ lạnh buốt. Ngay sát bờ, tôi ngụp đầu xuống, rồi nằm ngay đơ. Kỹ thuật được học là, người được cứu không được luống cuống bám lấy người cứu. Để yên cho người kia đỡ đầu mình lên, họ sẽ bơi vào bờ, vừa kéo mình theo. Bám vào người ta, họ sẽ không bơi được, bám chặt quá, có khi cả hai đều chết. Không biết do sức lực nào, sau khi quyết định bỏ cuộc, nhưng với một phần mười giây đồng hồ cuối cùng, tôi biết có người cứu, nên tôi ngoi lên thêm một lần nữa, tôi nhìn thật nhanh, và nhận ra ngay Lê Chẩn đang sải tay bơi tới tôi. Tôi đã nghĩ ngay, nước cuốn nhanh quá, không rõ Lê Chẩn kịp tới tôi không. Lê Chẩn tới, lạ thường, đầu óc tôi lúc đó rất tỉnh táo. Biết là tôi phải nằm yên để Lê Chẩn một tay nâng đầu tôi, một tay bơi vào bờ. Tôi nằm yên, nhắm mắt, nhận biết tất cả tiếng ồn ào xung quanh. Gần đến bờ, có ai ra tiếp cứu với Lê Chẩn. Hai người kéo tôi vào bờ. Một phút sau tôi đứng dậy.

Lê Chẩn, một bạn hơi cao và gầy. Gốc Quốc Gia Hành Chánh. Người Miền Trung, kín đáo, ít giao thiệp. Có lẽ kém tôi chừng 2 hay 3 tuổi, thuộc nhóm Long Thành ra đây. Anh đã cứu tôi, thực sự cứu tôi thoát chết. Tôi đã bỏ cuộc nhưng anh đã kéo tôi trở lại với cõi đời. Thực sự kéo tôi trở lại, hoàn toàn về phương diện thể chất, không phải cái lối nói văn hoa, bóng bẩy. Con người bằng xương bằng thịt của tôi được bạn tù Lê Chẩn cứu thoát khỏi chết đuối. Ra hải ngoại, nhóm tù Gia Đình Thanh Cẩm liên lạc được với anh, nhưng một lần duy nhất. Tôi gọi điện thoại, e mail nhiều lần, không được.

Văn thơ vận vào người. Chút xíu nữa thì tôi “áo tù thay chiếu, về đất”, vào mùa sông Mã gầm thét.

Vợ tôi tuổi Tý. Tết năm 1984 là năm Giáp Tý. Các cụ phán năm tuổi thường là xui. Đúng thật. Vợ tôi gặp xui vì thằng chồng lại được thả về để ăn hại.

Vậy là tôi đã điểm qua mấy năm tù đày của tôi. Chẳng có gì ghê gớm. Nhìn lại, mọi sự cũng nhẹ nhàng thôi. Thằng tôi gàn, nhìn đời lạc quan, luôn tìm ra niềm vui cho mỗi lúc nhọc nhằn. Sau này tôi biết, đó là “an trú trong hiện tại.” Nhiều điều có thể tôi ghi sai, tôi nhớ thế nào, ghi như vậy. Tôi cố ghi đúng theo như tôi nhớ. Vị nào chỉ cho chỗ nên điều chỉnh, xin cảm ơn rất nhiều.

Nhưng 9 năm trong nhà tù, nhất là nhà tù cộng sản, chắc rằng có nhiều điều để nói, có nhiều cảnh sống để nhớ lại, có nhiều con người để nhắc đến. Bên trên, tôi chỉ kể chuyện của tôi. Bây giờ xin kể thêm chuyện nhà tù, người tù, người coi tù, người bỏ tù chúng tôi, và những cảm nhận, cách nhìn sự việc, cách nhìn con người của tôi. Tức là tôi sẽ rất chủ quan. Giả như quí vị không chia sẻ được, xin mở lòng độ lượng liệng nó vào thùng rác.

Nhà Tù Long Thành

Buổi Chiều Hôm Đó

Bây giờ, hình ảnh của buổi chiều hôm đó chỉ còn đọng lại trong ký ức tôi những gì khá mờ nhạt. Giống như một đoạn phim băng nhựa lâu ngày đã nhão, âm thanh, hình ảnh, chuyển động, ánh sáng, màu sắc của nhân vật, sự vật diễn ra trong màn hình ký ức có bị lạc nhịp, nhưng tựu trung cảm xúc trong tôi của ngay lúc đó vẫn được truyền đạt phần nào rõ nét. Tôi muốn nhắc lại buổi chiều chúng tôi được chuyển ra bến tàu Tân Cảng, Sài Gòn, để lên tàu Sông Hương đi ra Bắc. Không nhớ rõ lắm, nhưng tôi tin rằng tàu đó mang tên Sông Hương.

Ở đoạn phim 2 phút này tôi chỉ muốn nhắc đến khoảng thời gian chừng 2 giờ đồng hồ diễn ra trên đoạn đường dài khoảng 6, 7 chục cây số, từ Làng Cô Nhi Long Thành đi Tân Cảng. Đó là 2 giờ đồng hồ của buổi chiều ngày 30 Tháng 11 hay ngày 1 Tháng 12, năm 1976. Tôi không nhớ chính xác ngày, chỉ tính ngược lại từ sáng sớm ngày 6 Tháng 12 là ngày chúng tôi đến Trại tù Thanh Cẩm ở Thanh Hóa. Trước đó, mất hơn 3 ngày trên tàu Sông Hương, hơn 1 ngày ngồi xe hàng (xe đò) từ Hải Phòng về Thanh Cẩm.

Coi như một buổi sáng cuối Tháng 11 năm 1976, chúng tôi được lệnh thu dọn đồ đạc để chuyển trại. Chúng tôi là nhóm 195 người trong số gần 500 viên chức của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa lúc đó còn bị nhốt tại Trại Long Thành, trước đây là Làng Cô Nhi Long Thành. Từ giữa Tháng 6, 1975, Chính quyền Cộng Sản đã nhốt hơn 2,000 viên chức VNCH, đảng viên các đảng phái chính trị tại trại này, sau thêm một số chị em thuộc thành phần bọn Cộng Sản gọi là “cải tạo hoàn lương”, và các cháu thiếu nhi bị nhốt từ Bù Gia Mập chuyển về, con số tù nhân trong trại có lúc lên đến hơn 2,500 người. Hơn 18 tháng qua, số lớn tù được thả hay chuyển trại. Chúng tôi là nhóm thứ hai (hay thứ 3) những viên chức VNCH mà Cộng Sản gọi là cao cấp, được lệnh chuyển trại, Họ không nói rõ, chúng tôi đều biết là sẽ đi ra Bắc như mấy nhóm trước.

195 người chúng tôi leo lên 7, hay 8 chiếc xe camion phủ bạt bít bùng, rồi xe chuyển bánh. Bạt phủ nhưng không kín hết, vẫn có thể nhìn rõ những khuôn mặt người ở lại, những cái vẫy tay, những ánh mắt. Những bạn tù ở lại đó, qua nét mặt, qua ánh mắt đều muốn chia sẻ với chúng tôi nỗi âu lo cuộc hành trình đi Bắc, cuộc hành trình được hiểu như “một đi không trở lại”. Nhưng tôi hiểu rằng trong lòng họ rộn lên nỗi hân hoan “chưa phải đi Bắc”. Do tình cờ lịch sử, sau này, con số gần 300 bạn tù đó không phải đi Bắc.

Trời về chiều. Đoàn xe chạy trên quốc lộ 51 hướng từ Bà Rịa đi gặp Xa Lộ Biên Hòa. Lâu lắm rồi mới thấy lại gió lộng trên xe. Lâu lắm rồi mới thấy các mái nhà tôn, nhà tranh, nhà ngói ẩn hiện dọc hai bên đường, nhưng sao cùng vẻ âm u, lặng lẽ.  Trời chiều tắt nắng, ánh sáng nhá nhem, sau những khung cửa ra vào, cửa sổ mỗi căn nhà vẫn không một ánh đèn. Toàn là bóng tối. Có phải vì tâm trạng chúng tôi đang âu lo, buồn bã mà nhìn cảnh vật đen tối hơn. Không chắc lắm, bởi vì cho đến giờ phút ghi lại những dòng chữ này, hơn 40 năm sau, tôi vẫn nghẹn ngào khi nhớ lại cảm xúc về vài hình ảnh bắt gặp trên đường. Không bao giờ quên những hình ảnh đó: Mấy vạt áo dài bay bay sau chiếc xe vespa, lambretta chạy trên xa lộ Biên Hòa hướng về phía Sài Gòn. Những hình ảnh rất bình thường trên đường phố Sài Gòn 2 năm trước đây, sao bây giờ quí hiếm như từ một cõi xa xăm nào đó. Nỗi khát khao bốc cháy trong tôi. Nỗi khát khao bóp nghẹt tim tôi. Tôi liếc nhìn chung quanh, bao nhiêu cặp mắt âm u dán vào mấy chiếc xe gắn máy chạy trên xa lộ. Tôi tưởng rằng nếu tôi cất lên tiếng nấc nghẹn chắc thế nào nhiều tiếng khóc sẽ vỡ òa. Tôi cố kìm hãm và nhủ thầm: Vĩnh biệt “cõi người ta”, cõi người bình thường.

“Khát khao bốc cháy trong tôi!” Bởi vì, mấy thiếu nữ ngồi sau 2, 3 chiếc xe lambretta kia đang nghiêng sát người vào lưng chàng trai phía trước theo vòng tay ôm chặt bụng chàng, cái kiểu ngồi rất bình thường để người ngồi sau giữ cho được an toàn. Nhưng, ôi chao, phần ngực ép sát đó, khoảng da thịt hở ra từ vạt áo sau vắt chéo lên, trong ánh sáng chạng vạng của trời chiều, trong cái bâng khuâng của những hạt mưa nhỏ thốt nhiên đổ xuống xa lộ vài phút, sao lại bừng sáng, lồng lộng như một ân sủng của đất trời, ân sủng chỉ dành cho ngững con người trần gian đang sống. Chúng tôi không còn thuộc cõi trần gian đó, cõi trần gian có những vạt áo dài, có những bộ ngực ấm áp ép vào lưng chàng trai diễm phúc lái xe, và ở đó có những chặng đường dài cho những cặp tình nhân dong ruổi. Hết rồi!

Hình ảnh đó, cảm xúc đó ẩn náu mãi trong tôi như một dấu ấn phân biệt giữa 2 cõi đời. Cho đến hôm nay đã thuộc về những năm 2,000, những hạt mưa nhỏ ngày nào trên xa lộ vẫn bay bay trong trí tưởng tôi. Lúc đó, những hạt mưa nhỏ là của chốn trần gian chúng tôi đang rời xa vĩnh viễn, những hạt mưa nhỏ như tiễn lũ chúng tôi đang chìm vào một chốn xa xôi vời vợi.

Cõi trần gian bình thường đã biến mất từ ngày 30 Tháng Tư, 1975. Gần 10 năm sau tôi mới được về sống bên Mẹ tôi, nhưng vẫn là trong cõi nhân gian nào đó. Phải 16 năm sau tôi mới được trở lại cõi bình thường, được gặp lại vợ, con, ở Mỹ.

 16 năm là một phần tư (1/4), một phần năm (1/5) của đời một con người. Và cũng là một phần 3 của khoảng thời gian làm được nhiều nhất, đóng góp được nhiều nhất, cũng có thể phá hoại nhiều nhất của đời một con người. Và chắc chắn đó là “16 năm vàng” của tuổi thanh xuân của tôi. 16 năm vàng tan chảy vào cõi nào đó dưới sức nung cháy của lửa hận thù của những người cộng sản. Tôi sẽ không tiếc một chút nào, còn có thể an vui nữa, nếu sự tan chảy đó là cần thiết để mang lại cho gia đình, bà con họ hàng, xã hội cuộc sống ấm no hạnh phúc. Tiếc thay, đồng bào tôi, dân Việt Nam chúng tôi chỉ được hứng chịu những khổ đau nhục nhằn dù hàng trăm ngàn “năm vàng của lũ chúng tôi” bị tan chảy …

Bây giờ, 16 năm đó loáng thoáng hiện về những hình ảnh, ký ức …

Cũng Là Đào Ngũ

Trưa ngày 25 Tháng 4, 1975, từ Ty Thông Tin Chiêu Hồi tỉnh Chương Thiện tôi lên đường về Sài Gòn. Một cậu trong Đoàn Văn Tuyên lái chiếc xe màu vàng chanh của Ty chở tôi đi. Tôi có thể lái xe một mình, nhưng cần có người mang xe về lại Chương Thiện, bởi vì tôi biết sẽ chẳng có ngày trở lại nơi này. Tức là, trưa hôm đó tôi đang làm một việc gọi là “đào ngũ” dù rằng tôi có tờ giấy “Sự Vụ Lệnh” đi công tác Sài Gòn do Đại Tá Tỉnh Trưởng Chương Thiện Hồ Ngọc Cẩn ký. Quí vị có thể tìm hiểu chuyện này rõ hơn ở phần “6 Năm Đầy Tớ” trong “tập 4 – Sài Gòn Yêu Dấu”. Xin nêu mấy điểm vắn tắt ở đây:

Tôi tự nhận là “đào ngũ”, về tinh thần thực sự là như vậy. Nghĩa là tôi rời bỏ nhiệm sở, rời bỏ vị trí chiến đấu chống bọn Cộng Sản, âm mưu chạy ra nước ngoài. Nói “về tinh thần” vì trên nguyên tắc tôi đi có sự vụ lệnh. Sáng hôm đó tôi xin Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn cấp sự vụ lệnh cho tôi đi Sài Gòn mua và xin sách về cho “Phòng Đọc Sách” của tỉnh. Tôi có nói rõ cho Đại Tá biết thực sự tôi về Sài Gòn để tìm đường đi Mỹ. Tôi cần một sự vụ lệnh và không muốn nói dối vị chỉ huy đáng kính của tôi. 

Thực ra, mọi chuyện về Miền Nam của chúng ta đã vuột khỏi tầm tay của chúng ta. Có nhận là hèn, là đào ngũ, hay không, cũng chẳng thay đổi được gì. Nhưng chính vì vậy mới thấy sự vĩ đại của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn và quí vị Tướng VNCH tuẫn tiết. Nếu quả thực những người Cộng Sản có lòng tự trọng, họ phải nghiêng mình trước các vị sĩ quan này của VNCH. Họ không đủ nhân cách để làm chuyện đó. Ngay người hùng của họ, Tướng Võ Nguyên Giáp cũng không có đủ tư cách và bản lãnh làm những chuyện như Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, … và Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã làm. Bị làm nhục với nhiệm vụ hạn chế sinh đẻ, ông Giáp không đủ đởm lược để tự sát để làm gương cho đàn em, cho hậu thế. Hậu thế của dân tộc Việt Nam sẽ nhớ mãi tấm gương 5 Vị Tướng VNCH và Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Ngàn năm sau dân tộc ta sẽ nhắc đến các vị này.

Trở lại chuyến đi từ Chương Thiện về Sài Gòn chiều 25 Tháng 4. Vẫn với tính cách gàn, tôi nghĩ rằng bọn Cộng Sản khi chiếm được Ty thấy mất chiếc xe (chiếc xe màu vàng chanh của Dân Vận cả nước đều biết) sẽ làm khó dễ người tài xế, hoặc mấy ông Phó Ty, Trưởng Ban, … cho nên tôi cần trả lại xe đó. Trước khi rời trụ sở, tôi mở két sắt đựng tiền, (hình như) còn khoảng sáu trăm ngàn tiền mặt ($600,000.00). Tôi gọi ông Phó Ty vào, nói số tiền này tôi cầm đi Sài Gòn. Tôi cũng cho ông biết tôi về để tìm đường ra ngoại quốc. Tôi đưa ông $100,000.00, nói để ông phòng thân vì chỉ còn ít ngày nữa có thể mất nước. Tôi nhờ ông chuyển cho ông Trưởng Ban Hành Chánh $50,000.00, chỉ nói là tiền thưởng của riêng ông ấy, đừng nói gì về những điều tôi mới nói với ông. Rồi tôi chỉ mang theo rất ít đồ dùng cá nhân để không gây hoang mang trong nhân viên. Tháng nào tôi cũng một, hai lần đi chơi Sài Gòn hay các tỉnh, họ quen với chuyện tôi hay bất ngờ đi xa.

Khoảng gần 3 giờ chiều tôi rời tỉnh. Ông Phó băn khoăn vì tình hình chiến sự bùng nổ mạnh trong khu vực, ngại tôi gặp mấy anh vi xi (VC) dọc đường. Khoảng hơn 4 giờ chiều xe chúng tôi đang chạy trên Quốc Lộ 4 đoạn xuyên qua tỉnh lỵ Vĩnh Long thì gặp tai nạn. (Xe chạy trong tỉnh Vĩnh Long nhưng không rõ đoạn đường đó có phải là Quốc Lộ 4 hay không. Quốc Lộ 4 nối các tỉnh Miền Tây và Sài Gòn). Một chiếc xe chở hành khách đậu bên con đường chạy dọc theo kinh đào, tài xế rửa xe. Một cô bé từ đầu mũi xe chạy vọt qua đường. Tài xế xe tôi bị hoàn toàn bất ngờ, cố thắng nhưng rồi cũng đụng nhẹ vào cô bé. Cháu chừng 10 tuổi. Phải chờ cảnh sát làm biên bản. Cháu bé được gia đình đưa vào nhà thương.  Vì chúng tôi chạy xe bảng số chính phủ, tôi là viên chức chính phủ, nên chúng tôi được tự do, nhưng phía cảnh sát nói tôi chờ sáng mai gặp ông Biện Lý. Chúng tôi vào Ty Thông Tin tỉnh Vĩnh Long. Anh bạn Trưởng Ty giữ chúng tôi ngủ lại nhà anh, và gọi điện thoại cho ông Biện Lý ở Tỉnh. Các viên chức trong tỉnh thường quen biết nhau. Ông Biện Lý nói tôi sáng mai cứ về Sài Gòn công tác, bao giờ trở lại Chương Thiện tính sau.

Sáng hôm sau, tôi gửi xe lại Ty Thông Tin Vĩnh Long, cho cậu văn tuyên $50,000.00, nói cậu chơi lang thang đâu đó tùy ý, chán thì về lại Chương Thiện. Chúng tôi vào bệnh viện tìm cô cháu hôm qua. Tôi đưa bố mẹ cháu $100,000.00, nói để lo thuốc thang cho cháu. Để dễ hình dung các con số, theo trí nhớ đáng ngờ của tôi, lương tôi lúc đó, Trung Úy biệt phái, 1 vợ, 2 con, cộng thêm phụ cấp chức vụ, khoảng trên, dưới $40,000.00 một tháng (bốn chục ngàn đồng VNCH). Về số tiền lấy từ két sắt của Ty, sau này, trong tháng 5, 1975, ông Phó Ty từ Chương Thiện tìm gặp tôi ở Sài Gòn, nói bọn VC ở Ty mời tôi về lại Chương Thiện trình diện, họ nói rằng sẽ không có hành động nào hung bạo đối với tôi. Tôi cười, từ chối, nói tôi đã trình diện ở Sài Gòn rồi, sau này không thấy tôi họ sẽ làm khó dễ gia đình tôi. Ông Phó lại nói, họ nhắn tôi cho lại số tiền lấy từ két của Ty. Trả lời, tôi cho gần hết số tiền đó, bây giờ tôi không có đồng nào, tiền ở ngân hàng cũng kẹt luôn, tôi cũng không có nhà cửa, xe cộ để bán, nhờ ông về đó giải thích giùm. Nghĩ lại, bọn VC hay thật, lúc đó còn định bịp mình.

Trưa ngày 26, Tháng 4, 1975, tôi đi xe đò về tới Sài Gòn. Ở nhà cho biết gia đình bên vợ tôi đã nhận được giấy từ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cho phép nhập cảnh vào Mỹ, trong danh sách có cả vợ chồng và hai con tôi. Chiều hôm đó chúng tôi tìm cách vào Tòa Đại Sứ Mỹ nhưng không vào được. Buổi tối, tôi về thăm Đẻ tôi ở nhà anh Đỗ Quý Toàn. Vừa thấy tôi, cụ ôm chầm lấy, khóc và nói: “Bọn nó đánh lừa Đẻ, bỏ Đẻ ở lại.”. Tôi trấn an cụ, nói rằng cụ và cháu Chúc sẽ đi với tôi vì tôi đã thu xếp chuyện di tản từ hồi Tháng 3. Tôi quả quyết cụ chỉ ở lại khi tôi không thể đi được. Thực ra Đẻ tôi không coi việc ra đi là quan trọng, nhưng cụ tha thiết mong cháu Chúc, con trai duy nhất của anh Đỗ Trọng Tường, chạy thoát được.

Câu tôi nói đã chuẩn bị việc ra đi từ Tháng 3, không phải là nói dối cho Đẻ tôi yên tâm. Mấy tuần trước, khi vợ chồng tôi về thăm cụ và ăn cơm với gia đình anh Đỗ Quý Toàn, anh chị Toàn –  Quyên có hỏi tôi chuyện ra đi khỏi Việt Nam khi Cộng Sản chiếm được Sài Gòn. Tôi biết anh chị đã có giấy tờ bảo lãnh của một người chị ruột của chị Quyên đang ở bên Mỹ. Tôi cũng hiểu anh chị rất ngại mang theo thêm người vì chưa biết sẽ sinh sống ra sao ở ngoại quốc, nên tôi trả lời tôi không muốn đi. Ngay sau đó, tôi phải nói riêng với Đẻ tôi rằng tôi nói không muốn đi để anh Toàn, chị Quyên khỏi âu lo chuyện mang thêm 4 người gia đình tôi. Tôi nói là nhóm bạn bè chúng tôi đã có một chiếc tàu dành chỗ cho di tản, nên mang nhiều người đi được. Tôi nói Đẻ tôi có thể gọi thêm chị dâu tôi, Mẹ cháu Chúc, đi theo.  (Anh Đỗ Trọng Tường đã mất từ 1963). Bây giờ, thấy cụ quá thất vọng việc cháu Chúc không được đi theo anh Toàn, tôi nhắc lại chuyện đi bằng tàu thủy.

Trong nửa đầu Tháng 3, 1975, Thị Xã Ban Mê Thuột bị mất vào tay Cộng Sản. Vài tuần sau, tôi không nhớ chính xác, có thể là tuần lễ cuối Tháng 3 hoặc tuần lễ đầu của Tháng Tư, chúng tôi họp nhau ở nhà họa sĩ Trịnh Cung bàn chuyện “di tản”. “Chúng tôi” gồm Nguyễn Thượng Hiệp, Lê Đình Điểu, Trịnh Cung, và tôi (Đỗ Việt Anh). Tôi nhớ mang máng có cả anh Hà Tường Cát. Đúng ra, khi anh Nguyễn Thượng Hiệp nói tôi đứng ra mời các anh gặp nhau, tôi không hề nói rõ mục đích của cuộc họp mặt này. Ý định về chuyện di tản anh Hiệp chỉ bàn với tôi. Tháng Giêng 1974, Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam, do Việt Nam Cộng Hòa đang kiểm soát. Khoảng Tháng 3 năm 1974, Nguyễn Thượng Hiệp và tôi được cử hướng dẫn phái đoàn báo chí đi Trường Sa. Bộ Dân Vận đang phát động chiến dịch chứng minh chủ quyền Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Chuyến đi này tôi đã kể chút ít ở đâu đó trong Tự Sự Đời Tôi. Nhắc lại ở đây để giải thích vì sao anh Nguyễn Thượng Hiệp bàn với tôi về chuyện di tản bằng tàu thủy. Chuyến đi Trường Sa cho tôi ít nhiều quen biết bên Bộ Tư Lệnh Hải Quân, còn anh Hiệp từ lâu đã có nhiều dây mơ rễ má với bên tình báo và Hải Quân. Hình ảnh các cuộc di tản hỗn loạn khỏi Đà Nẵng khiến chúng tôi phải tính toán trước.

Anh Nguyễn Thượng Hiệp trình bày với anh em chuyện anh đã liên lạc với một số vị bên Hải Quân để khi cần di tản khỏi Sài Gòn, chúng ta có chỗ đàng hoàng cho gia đình, người thân. Có câu hỏi di tản đi đâu, Miền Tây hay nước ngoài? Trả lời, nhiều phần là đi Phi Luật Tân hay Guam. Anh Hiệp rất lịch sự nói rằng “Tôi với anh Bí …”. Sự quen biết và các mối liên lạc hoàn toàn do anh Hiệp, tôi là tên ăn ké, có quen được với ai để tính chuyện này. Mỗi lần đi gặp ai đó anh Hiệp luôn cho tôi góp ý kiến trước, và có lẽ thêm một điều nữa, tôi thường dùng chiếc xe hơi R8 của ông bố vợ, nên có thể tôi là kẻ có phương tiện chuyên chở gia đình anh em khi cần. Anh Hiệp cho biết một đầu mối chắc chắn nhất là một vị Trung Tá (hay Thiếu Tá) Hải Quân, hạm trưởng một hải vận hạm, nói anh Hiệp được dành cả trăm chỗ trên tàu này.

Nghe nói chuyện di tản, anh Lê Đình Điểu tuyên bố không tham dự. Anh bỏ ra ngồi chỗ khác để anh em bàn chuyện. Lúc đó anh Điểu đã bỏ bên Dân Vận về làm việc với Tiến Sĩ Nguyễn Văn Hảo bên Bộ Kinh Tế. Theo dự trù, anh Điểu sẽ tìm cách kéo tôi về bên đó để thoát khỏi bên Dân Vận, hoặc vì ngại Bộ Dân Vận trả tôi về quân đội. Có thể anh Điểu không muốn bàn chuyện ra đi, mà theo cách gọi của tôi, là chuyện “đào ngũ”, hoặc vì Sài Gòn đã manh nha tin đồn trung lập, hoặc chính phủ 3 thành phần, nên anh hy vọng sẽ còn cơ hội đóng góp cho đất nước … Sau này, anh Điểu cũng không di tản, chỉ sau khi bọn Cộng Sản cho anh đi tù, anh mới tính chuyện ra đi, tôi nghe kể lại chứ lúc gia đình anh đi Tây, tôi đang ở trong tù.

Giá Như …

Trưa ngày 27 Tháng Tư, 1975, tôi lại về thăm Đẻ tôi. Tôi nói với cụ chuyện di tản, nhiều phần bằng tàu thủy, mặc dù tôi có cách để đi máy bay. Hồ sơ bên gia đình vợ tôi đang nằm trong Tòa Đại Sứ Mỹ. Sáng nay tôi lại chở bà Mẹ vợ đến Tòa Đại Sứ nhưng không có cách nào đi xuyên qua rừng người vây kín cổng tòa nhà. Nghe thiên hạ nói có thể liên lạc việc nhập cảnh Hòa Kỳ qua cơ quan DAO của Mỹ tại Tân Sơn Nhất. Nhưng cũng không cách nào vào Tân Sơn Nhất. Oái oăm một điều là khi tôi đang nói chuyện với Đẻ tôi, thì anh Toàn từ Tân Sơn Nhất gọi về, gặp tôi, anh nói nhờ tôi đi chở gia đình anh Đỗ Ngọc Yến vào Tân Sơn Nhất, sẽ có người đón tại cổng phi trường. Khoảng nửa giờ sau anh Toàn về nhà nhưng nói anh phải vào lại Tân Sơn Nhất ngay, anh về lấy thêm vật dụng gì đó. Anh đưa chìa khóa xe R10 (hay R8, tôi không nhớ rõ) của anh cho tôi đi đón anh Yến.

Sau này bạn bè thắc mắc hỏi tôi, tại sao tôi bị kẹt lại và đi tù, trong khi tôi chở gia đình anh Đỗ Ngọc Yến vào Tân Sơn Nhất để đi máy bay, chạy đến nhà anh Nguyễn Thượng Hiệp, lo thu xếp cho gia đình anh ấy việc ra đi, gọi taxi cho chị Hiệp cùng gia đình chạy đến điểm hẹn để lên tàu. Tôi hay đùa đùa trả lời rằng vì tôi muốn có thêm một kinh nghiệm sống “sau bức màn sắt”, dĩ nhiên sau đó phải giải thích ngay: Tại số! Có một sợi chỉ mỏng manh của hai chữ “giá như …”

Giá như lúc đó tôi biết được ý nghĩa thật chuyện gia đình anh Đỗ Ngọc Yến có tên trong danh sách di tản …, giá như lúc đó tôi biết được chuyện ông Briton có thể ra đón người đi qua trạm canh gác của Mỹ và Việt tại cổng phi trường. …,  có lẽ tôi đã đưa cả gia đình bên vợ tôi, cả Đẻ tôi, cháu Chúc, chị Tường và Mẹ của chị, vào được Tân Sơn Nhất, lên được máy bay di tản, …

Ý nghĩa hai chữ “giá như” tôi có kể loáng thoáng đâu đó trong tự sự này. Ở đây xin vắn tắt kể lại vài mẩu “giá như”. Trong một dịp nào đó ở Quận Cam, California, chắc là trong một tiệc cưới, một phụ nữ hỏi tại sao “ngày đó” tôi không vào Tân Sơn Nhất, bởi vì cô biết rõ gia đình tôi dễ dàng để gia nhập nhóm những người cô quen biết lúc đó đang có mặt trong phi trường, “nhất là có cả anh Toàn, anh Yến nữa?” Hôm nay, ngồi viết lại tôi tự nhiên không nhớ nổi tên cô và chi tiết về cô. Có những lúc trí nhớ của tôi hoàn toàn “trắng’ về một chuyện, một con người. Hình như cô có tham gia một số sinh hoạt thanh niên, sinh viên vào cuối thập niên 1960, đầu 1970; hình như cô cũng làm việc ở Bộ Dân Vận. Qua câu chuyện trong bữa tiệc, tôi hiểu rằng cô biết rõ về “nhóm” chúng tôi trong các sinh hoạt, và cô biết về vị người Mỹ tên Briton sống tại ngôi biệt thự số 18, đường Duy Tân. Sinh viên Nguyễn Hữu Thái, Trưởng Tràng trường Kiến Trúc Sài Gòn từng trú ngụ một thời gian với ông ta tại địa chỉ trên. Tôi có theo anh Đỗ Ngọc Yến đến ăn cơm với vị giáo sư đó mấy lần, có lần gặp cả Thái. Theo tôi hiểu, ông ta có mối liên hệ mật thiết với nhóm IVS (International Voluntary Services).

Về ông Briton tôi chỉ biết lờ mờ. Trên đường chở tôi đi từ trụ sở Chương Trình Hè 65, số 41 Phan Đình Phùng đến số 18 Duy Tân, anh Đỗ Ngọc Yến nói tay này (Briton) là một giáo sư đại học, đang làm việc gì đó cho bọn IVS. Người ta gọi tên ông là Briton, nói tiếng Pháp thông thạo. Mình biết nhiều tin tức từ ông ta, mình cũng hiểu nhiều hơn mấy chàng IVS. Lâu lâu mình ghé qua ăn cơm, nói chuyện. Mình cũng muốn người Mỹ hiểu chính xác hơn về con người Việt Nam. Lần đầu tiên tôi theo Yến đến nhà ông Briton là buổi tối, bữa ăn chỉ có 3 người. Tôi không chắc hiểu rõ được những gì ông giáo sư và Yến trao đổi. Tiếng Anh và tiếng Pháp của tôi là hạng ăn đong từng bữa. Đại khái cũng biết họ đang nói về những gì nhưng chính xác ý kiến của họ ra sao thì xin quí vị hỏi mấy con bò thì hơn. Một chuyện tôi còn nhớ khi họ nói về tình hình căng thẳng trong nội bộ IVS. Lúc đó tôi không biết rõ chuyện gì, tại sao. Mãi sau này tôi mới biết chuyện Don Luce, một chàng trưởng nhóm IVS Việt Nam. Quí vị google tên chàng thanh niên này sẽ hiểu rõ nhiều hơn. Có lần theo Yến đến 18 Duy Tân ăn cơm trưa, tôi gặp Nguyễn Hữu Thái. Trong bữa cơm 4 người, Thái ít nói (không có nghĩa tôi nói nhiều hơn, bởi vì tôi ngọng tiếng ngoại quốc!). Chàng sinh viên không chịu tốt nghiệp ra trường này đang trốn tránh công an.

Hôm nay, (năm 2019), ngồi ghi lại “Tự Sự Đời Tôi” giai đoạn sau 1975 và những năm tháng tù đầy, tôi muốn tìm hiểu về vị giáo sư tên Briton kể trên, để có thể hiểu rõ hơn cái chuyện “giá như”. Lục đống tài liệu được giải mật của CIA tôi không gặp được nhân vật nào tên Briton. Hàng triệu triệu trang tài liệu, việc này chắc là khó, mặc dù tôi bắt gặp tên Đỗ Ngọc Yến trong báo cáo của Lansdale. Tôi xoay qua google tên IVS, bắt gặp một vị tên Britton. Xin ghi nguồn của tài liệu về IVS “https://pdf.usaid.gov/pdf_docs/PNABI170.pdf”  . Trong tập pdf này, trang 162 có một đoạn như sau: “In the summer of 1962, C. Leslie Britton, the USOM contract officer  who worked with IVS/VN proposed that a “junior – senior technician” relationship ‘be developed betweem the IVSers and the USOM technicians …”

Sở dĩ tôi đi lan man mấy chuyện về số 18 Duy Tân, Sài Gòn vì muốn làm sáng tỏ hơn hai chữ “giá như” cô bạn trong bữa tiệc cưới gợi ra cho tôi. Nói chuyện vói “cô bạn” giữa cái ồn ào của một tiệc cưới, tôi hiểu rằng ông Briton (hay Britton, có 2 chữ t, xin cứ dùng tên có 1 chữ t cho tiện) gặp cô trong cái hỗn loạn của đám người chen chúc trong nhà kho nào đó của phi trường Tân Sơn Nhất. Cũng là lúc hai người gặp anh Đỗ Quý Toàn đi đến. Briton hỏi Toàn, Yến đâu. Thế là anh Toàn giúp ông điền tên từng người trong gia đình anh Yến vào tập hồ sơ ông Briton đang cầm. Theo cô bạn, đó là bản danh sách tên nhiều người, và ông Briton viết tay tên gia đình anh Yến nối tiếp ở trang cuối cùng, không đủ chỗ, ông kẹp thêm một tờ giấy khác và ghi tiếp theo. Nghĩa là, theo cô, ông Briton muốn ghi thêm bao nhiêu tên nữa cũng được, ghép thêm bao nhiêu tờ giấy nữa cũng được. Rồi ông dục anh Toàn làm cách nào nói gia đình anh Yến đến Tân Sơn Nhất, ông sẽ ra cổng đón (hay cho người ra cổng đón?) Đó là theo câu chuyện của cô, sự thực của câu chuyện này phải gạn lọc qua mấy cái lưới chủ quan, chủ quan của người kể, chủ quan của thằng nghe là tôi. Quí vị tin được bao nhiêu phần, hay bấy nhiêu. Một thí dụ về chủ quan: Cô bạn tin rằng ông Briton có thể viết thêm tên gia đình tôi vào danh sách như trường hợp anh Yến, vì cô nghĩ rằng ông Briton biết về tôi. Tôi không nghĩ vậy. Có thể, khi ghi chép hàng ngày những người ông gặp, những câu chuyện ông trao đổi, có tên tôi lọt vào bên cạnh tên anh Yến. Nhưng bảo rằng ông nhớ tên tôi, nhớ con người tôi như nhớ đến anh Yến, chắc chắn là không. Tôi là một hạt cát bên cạnh một tảng đá. Giữa lúc hỗn loạn, có thể ông viết thêm tên gia đình tôi nếu có ai nhắc đến (như một xin xỏ).

Chuyện anh Đỗ Ngọc Yến không là giá như, mà là “cái số” may của anh. Anh Đỗ Quý Toàn có lẽ không nhớ số điện thoại tiệm bông cườm Nam Thành, tức nhà anh Yến, nên gọi điện thoại “trời ơi” về nhà để báo Đẻ tôi biết anh sắp về nhà lấy thêm thứ gì đó. May mắn gặp được tôi đang ở thăm Đẻ tôi, nên nhờ tôi đi đón gia đình anh Yến. Giá như tôi biết ông Briton hay người của ông có thể đón gia đình anh Yến đi qua mấy trạm kiểm soát ở cổng Tân Sơn Nhất, chắc là đời tôi sẽ khác. Gia đình tôi có danh sách từ Bộ Ngoại Giao Mỹ mà không cách nào dùng được. Tôi cũng chưa bao giờ hỏi anh Toàn về chuyện này. Ích gì?

Bây giờ thêm một cái “giá như” nữa. Giá như vào trưa ngày 29 Tháng Tư, 1975, tôi đi cùng gia đình anh Nguyễn Thượng Hiệp lên tàu, thì nhiều chuyện của đời tôi cũng khác đi. Khoảng giữa trưa cái ngày 29 đó, anh Nguyễn Thượng Hiệp gọi điện thoại cho tôi, bảo phải đưa gia đình đến ngay địa chỉ … , chuẩn bị lên tàu. Bây giờ tôi không nhớ địa chỉ đó. Nhà anh Hiệp không có điện thoại nên anh nhờ tôi chạy qua nhà anh, cũng gần nhà tôi, chừng 10 phút lái xe, để đón gia đình anh đi chung. Nếu xe chật, gọi giùm taxi cho chị Hiệp. Tôi trả lời không đi theo tàu của anh Hiệp nhưng sẽ đến nhà anh, chuẩn bị cho gia đình anh chạy đến nơi hẹn. Tôi cầm mảnh giấy ghi địa chỉ điểm hẹn, chạy chiếc xe suziki (đi xe nhỏ vào hẻm nhanh hơn) đến gặp chị Nguyễn Thượng Hiệp. Chị đang bồn chồn đợi tin anh Hiệp. Mấy túi xách đã chuẩn bị sẵn. Tôi chạy ra đường kêu taxi, đưa chị và mấy cháu (bao nhiêu cháu tôi cũng không nhớ) vào taxi xong tôi mới chạy về nhà. Và gia đình anh Nguyễn Thượng Hiệp đến Mỹ vào năm 1975.

Tôi đưa hai gia đình lên đường xuất ngoại, còn tôi ở lại với mấy anh cán ngố. Lạ nhỉ. Các cụ đã nói “lắm mối, tối nằm không.” Hơn một tháng trước tôi tham dự với anh Nguyễn Thượng Hiệp việc chuẩn bị di tản bằng tàu thủy. Đến lúc anh gọi, lại không đi. Một cô em vợ tôi được lời hứa chắc như đinh đóng cột rằng cả gia đình sẽ đi chuyến bay đặc biệt của người Mỹ. “Mối” đi này an toàn hơn lên một chiếc tàu của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa. Vẫn cái lối vọng ngoại, đi với Mỹ chắc ăn hơn. Thực ra hình ảnh cuộc di tản bằng tàu thủy từ Đà Nẵng, Miền Trung về Sài Gòn khiến gia đình tôi e ngại chuyện đi tàu. Đi với tôi còn có Đẻ tôi, không thể để cụ lâm vào cảnh đó. Chúng tôi thiên về giải pháp cô em. Người đón nói rằng chúng tôi phải túc trực tại nhà vì xe sẽ đón bất cứ lúc nào, ngay cả nửa đêm giới nghiêm xe vẫn chạy đến được. Cho nên trong khoảng nửa giờ tôi đến nhà anh Hiệp với mối lo canh cánh bị “nhỡ tàu.” Và, lời một bài hát trở thành linh nghiệm, “anh cứ hẹn nhưng anh đừng đến nhé!” Đêm ngày 30 Tháng Tư, 1975 là đêm chờ đợi cuối cùng. Sao “đêm nay dài thế”. Sau này, gặp lại nhau trên đất nước Hoa Kỳ, chúng tôi đành “cười trừ”. Chàng ta hình như thuộc nhóm người nhái, nhóm đặc nhiệm gì đó của mấy nhân vật chóp bu Mỹ ở Việt Nam. Chàng đinh ninh sẽ mang theo thân nhân khi giờ “G” điểm. Giờ “G” bất ngờ điểm, chàng không kịp về đón ngay cả ruột thịt gia đình, nên “cái hy vọng là một nửa đời chàng cộng với gánh nặng kèm theo” cũng đành bỏ lại. Chàng phải cuốn gói theo sếp trong vòng 30 giây.

Tóm lại, con đường di tản an toàn nhất là không đi đâu cả!

Không đi đâu cả không có nghĩa là cứ ở lỳ trong nhà. Thằng tôi cũng phải chạy loanh quanh xem xét tình hình. Mấy ngày đầu Tháng 5, 1975, vẫn có nhiều người rủ tôi đi. Bạn bè thì thào “bọn nó”mới ở rừng ra chưa biết đâu vào đâu, còn đi về Miền Tây dễ dàng, hoặc kiếm mảnh giấy bệnh viện nói mới xuất viện, bây giờ chạy về nhà ở Vũng Tàu, Phan Thiết, Tây Ninh, … thiếu gì cửa ngõ. Mấy tên con nít đeo tay băng đỏ của “bọn 30” đứng gác khắp nẻo, nói khéo một tí cũng xong. Chúng hung hăng nhưng cũng chưa hiểu rõ chuyện đời. Bạn bè nại nhiều lý lẽ, ý kiến, nhưng tôi là tên hèn, không dám bỏ lại Mẹ già, vợ dại, con thơ ra đi một mình. Chạy loanh quanh ra bến Bạch Đằng, qua Thủ Thiêm, mò vào Năm Căn, cũng để cho có vẻ dũng khí, rồi lại về nằm dài trên gác xép.Thằng hèn không dám đi khỏi Sài Gòn làm cuộc phiêu lưu với bạn bè. Qua đến Mỹ, gặp lại, cũng chẳng anh nào hơn mình, cứ phải có “bạn đồng hành” mới dám ra đi.

Ngày nào tôi cũng về thăm Đẻ tôi ở Trương Minh Ký, tức Trương Minh Giảng nối dài. Cụ ở nhà của chị Hà Dương Thị Quyên, vợ anh Toàn. Anh chị bỏ đi, chị tôi là Đỗ Thị Thảo đưa gia đình đến trú ngụ. Lề đường trước nhà trở thành chợ trời. Hai, ba ngày liền tôi đi lên, xuống khu chợ, nghĩ xem mình ra buôn bán làm sao đây để kiếm tí tiền chợ. Mấy hôm trước đến thăm anh Trịnh Cung. Thạp gạo trong nhà sắp hết, chị ấy chưa biết xoay sở ra sao cho mấy đứa con nheo nhóc. Tôi chạy về nhà, mấy hôm cuối Tháng Tư, vợ tôi có rút ít tiền từ ngân hàng, nhưng bao nhiêu vốn liếng vẫn nằm nơi đó, bây giờ hết đường lấy ra. Năn nỉ vợ, dù sao nhà mình cũng khá hơn. Vợ đong cho độ chục ký gạo, đưa cho mấy chục ngàn coi như hơn nửa tháng lương (năm 2020, vợ tôi vẫn tin chắc số tiền đó là 23 ngàn). Tôi mang đến chia sẻ với chị Trịnh Cung. Sau đó mỗi người mỗi ngả, bặt tin vì tôi đi tù.

Đi lên, đi xuống chợ trời Trương Minh Ký không nẩy ra sáng kiến gì, tôi quay về mở quán cà phê tại nhà, trong hẻm 51 đường Cao Thắng. Có vẻ tôi thạo hơn ở việc mở quán cà phê, biết mua sắm ra sao, pha chế thế nào. Bà mẹ vợ nghĩ thêm chuyện nấu xôi cho khách ăn sáng. Tôi phải cấp tốc tổ chức cho ra hồn cái quán trước khi chui đầu vào cái rọ của bọn VC. Sau này nghe kể lại, quán rất đông khách, cả nhà lăn vào pha chế, bưng đồ ăn thức uống, lau chùi bàn ghế, … Nhưng bọn 30 Tháng Tư báo cho Phường bắt đóng cửa “vì có đĩa hát nhạc ngụy”. Chỉ là mấy băng nhựa nhạc không lời, hoặc nhạc cổ điển. Cán ngố vặn vẹo: “Nhạc không lời, thế nếu có lời thì là lời gì? Còn nhạc cổ điển của bọn Mỹ, Tây, lúc này còn vọng tưởng bọn chúng à?” Chịu thua! Đầu mấy con bò không hiểu được tiếng thiên nga trên trời cao. Bọn chúng không hiểu được tiếng người bình thường, không suy  nghĩ như con người bình thường.

Ra Đi

Thầy, Đẻ tôi cho tôi ra đời năm 1943, lúc Thầy tôi đã 70 tuổi (Cụ sinh năm 1873, tính theo tuổi âm lịch, năm đó Cụ 71 tuổi). Vậy thì vào cái năm 1975 đó, tôi được 32 tuổi tây, 33 tuổi ta. “31 bước qua, 33 bước lại”, cứ theo đúng như thế thì năm 33 tuổi tôi phải “bước chân ra đi.”

Suốt từ bé đến lớn, từ 1948 đến 1975, thằng tôi đã qua nhiều cuộc “ra đi”. Thuở nhỏ, theo bước chân Mẹ, tôi đi khắp các tỉnh thành. Vào tuổi thanh niên, cứ phắt một cái là tôi lại cuốn gói ra đi. Lắm khi chẳng có chuyện gì cũng leo lên xe đò, cứ đi là vui rồi. Có lần leo lên đúng chiếc xe đò đi Nha Trang. Đến nơi, trời chiều, lang thang kiếm ổ bánh mì, ngắm biển, để trí phiêu bồng theo “Nha Trang Ngày Về” của Phạm Duy, nửa đêm, thuê ghế bố ngủ tại bến xe. Hình như có kéo theo một cậu nhỏ nào thì phải. Bạn nào đi chuyến đó, làm ơn lên tiếng cho tôi nhớ lại rõ ràng hơn.

Quí vị có thể gặp đâu đó “nhiều chuyến đi” của tôi trong “tự sự” này. 6 giờ rưỡi sáng, Ông Tổng Thư Ký Đỗ Ngọc Yến hỏi Ê Bí, đi không? Đi chớ, thế là đi. Một chuyến đi Sài Gòn – Huế – Đà Nẵng, đi về trong ngày. Ông Chuyên Viên Nguyễn Thượng Hiệp hỏi, Ê cậu, đi với tớ không? Đi chớ! Thế là đi. Một chuyến đi Trường Sa kéo dài hơn 10 ngày. Ông Chuyên Viên Trần Đại Lộc gặp mặt hỏi, Có đi không để tớ cho tên vào sự vụ lệnh? Đi chớ! Một chuyến lái xe dọc Quốc Lộ 4 về Miền Tây, xuyên qua cánh đồng lúa của hơn 10 tỉnh. Hồi mới 13, 14 tuổi, Ông Định, anh một đứa bạn tên Văn hỏi, ngày mai Việt Anh đi không? Đi chớ! Một chuyến cuốc bộ leo núi Bà, Đà Lạt, lạc mất hơn nửa ngày. Không ông nào lúc hỏi cho mình biết đi đâu. Biết tỏng tên này cứ đi là vui rồi, đi đâu cũng được.

Vậy thì, vào cái năm 33 tuổi ta, tôi cũng ra đi. Nhưng lần này, đi không vui! Phạm Duy hỏi rằng “Người là ai, từ đâu tới, và người ơi, người sẽ bước chân về nơi nao, …?” Từ “Dạ Hành”, “Khởi Hành”, “Lữ Hành”, đến “Xuân Hành”, Ông nhạc sĩ thiên tài này không chịu hỏi người sẽ bước chân về nhà tù nào? Lần này tôi đi không vui vì là “đi tù!”, mà chẳng có ai hỏi “Ề Bí, có đi không?”, mà là “có đi không thì bảo!”

Mấy tuần trước khi tôi đi tù cả nhà bận rộn chuyện mở quán cà phê ngay tại nhà, nên cái chuyện các ông Trần Văn Trà, Cao Đang Chiếm hẹn ngày nhốt chúng tôi ít được nhớ đến. Thực ra, hai vợ chồng tôi, Lan Anh và tôi, đều canh cánh bên lòng cái hẹn tiễn đưa này, nhưng cố gắng không nhắc tới. Còn vài ngày trước cái ngày 15 Tháng 6, 1975, một tối Lan Anh không nhịn được, nhắc tôi với giọng đẫm nước mắt: Hy vọng bọn chúng giữ lời hứa. Bọn chúng thắng rồi còn cần gì nữa mà giữ anh lâu. Tôi nói, đại khái ý như vầy: Em có biết Đẻ chạy khỏi làng ra Hà Nội từ lúc anh chừng 6, 7 tuổi, khoảng năm 1949. Cụ sợ Cộng Sản từ khi đó. Cụ luôn nói đó là một bọn bịp bợm, không thể tin, không thể ở. Tôi cũng nhắc: Em còn nhớ Bác Sĩ Zivago? Ông ta đi hơn 3 năm mới trốn về lại được Moscow. Cứ tin rằng anh đi ít nhất 3 năm, dám đến 10 năm lắm. Tội nghiệp người phụ nữ xưa nay chẳng cần biết gì ngoài xã hội, mọi chuyện bên ngoài có người đàn ông lo, bỗng dưng bức tường gãy đổ, nhìn ra chung quanh một bãi mênh mông hoang tàn, đổ nát. Chung quanh chỉ còn ác thú, nàng phải bảo vệ hai đứa con, phải lo cho chúng bữa ăn, manh áo. Kinh khủng lắm, phải không các bà Mẹ, các bà Vợ?

Cái miệng ăn mắm, an muối của tôi nói nhiều khi “gần” đúng. Mấy anh Cộng nhốt tôi 9 năm, gần với con số tôi đã dọa vợ: “dám đến 10 năm lắm”.

NV 15 – Long Thành

NV là chữ viết tắt của “Nội Vụ”.  Nghĩa là trại tù Long Thành thuộc Bộ Nội Vụ Hà Nội, tức là do công an quản lý. Lúc đầu, bọn công an Hà Nội chưa chuẩn bị kịp nhà tù đủ để nhốt số lượng lớn tù VNCH, chưa đào luyện đủ số cán bộ coi tù, nên một số các vị thuộc quân lực VNCH do quân đội Cộng Sản Hà Nội canh giữ.

Nghĩa là tôi bắt đầu nói đến chuyện đi tù, nói đến những ngày tôi ở trong nhà tù cộng sản. Bây giờ là cuối 2019, đầu năm 2020, ghi lại những gì còn nhớ về 1975 và mấy năm sau đó, quả là một điều khó khăn. Vả chăng, cái chuyện năm 1975 và nhà tù cộng sản đã có rất nhiều vị ghi lại, công bố. Chuyện nhà tù Long Thành cũng vậy, một số các vị từng ở nơi đó đã ghi qua nhiều bài viết. Ở đây, tôi chỉ nhắc lại vài kinh nghiệm riêng tư hoàn toàn cá nhân suốt một năm rưỡi bị nhốt tại nhà tù này.

Có một điều lạ lùng là đang khi tôi moi lại đống ký ức nhạt nhòa hỗn độn của năm tháng Long Thành, bỗng nhiên tôi bắt liên lạc được với vài bạn tù thường gặp nhau lúc đó. Đầu tiên phải kể tên người bạn tù Nguyễn Thế Viên, từ Viên tôi “gặp” lại mấy bạn khác. Khoảng cuối năm 2011, tôi cùng một bạn tù trại Thanh Cẩm lái xe từ Quận Cam, California, vượt hơn 2 ngàn dặm, đi thăm mấy bạn tù Thanh Cẩm ở Seattle. Bạn Nguyễn Thế Viên nghe tin, đã tìm đến nhà một bạn tù để gặp tôi, “một tên bạn cũ Long Thành.” Sau đó, chẳng mấy khi hai đứa liên lạc lại. Sau gần 10 năm, thốt nhiên Viên điện thoại cho tôi, nói chuyện thiên hạ sự. Sau đó email qua lại thường xuyên hơn. Rồi Viên nối kết email với mấy bạn khác là Lê Văn Cẩn, Nguyễn Trọng Đạt, Khổng Trọng Hinh, … để chúng tôi “nhận hàng xóm”. Đúng ra, từ khoảng 2002, 2003 tôi đã gặp Khổng Trọng Hinh tại San José. Nhưng gần hai chục năm nay “chúng tôi quên mất” không liên lạc lại. Còn về Trọng Đạt hồi trước hai đứa vẫn liên lạc qua Nguyệt San Thế Kỷ 21 và Nhật Báo Việt Herald, nhưng cùng không biết cả hai từng ở nhà tù Long Thành.

Bỗng dưng rần rần email qua lại về “những ngày Long Thành”. Tính lười của tôi trổi dậy, không chịu đào bới đống ký ức trong tôi, bèn mạn phép các bạn tù cho tôi trích vài đoạn email cung cấp ít dữ kiện về một số nhân vật VNCH bị nhốt tại Long Thành.

Email của Nguyễn Thế Viên:

“Tôi cùng ở nhà 2 với anh Hinh , Cẩn, Anh ….. trong thời gian còn chế độ quân quản.Nhà trưởng là anh Cảnh (Tổng cục Dầu Hoả), đội trưởng văn nghệ: Nguyễn Mình Đăng(dân biểu), quản giáo Hai Trung, Tư Phương… Tôi thuộc đội 1(?) nằm ở cuối dãy nhà 2 giáp “Đại lộ Hoàng Hôn “ do Lê Văn Thái (CH 5 QGHC) làm đội trưởng. Đội của tôi có các công chức ngoại giao như cụ Phạm Trọng Nhân, các anh Nguyễn Ngọc Diễm, Trương Hữu Lương, Nguyễn Cao Quyền, Nguyễn Văn Thinh (khác với Thỉnh TC TV làm nhà phó)….. lúc mới vào trại còn có KTS Ngô viết Thụ, BT Nguyễn Xuân Phong, sau 2 người này về sớm.  …”

Sau đó, trong email khác, Viên nói lại về Nguyễn Xuân Phong:

“Nguyễn Xuân Phong (hoà đàm Paris). Cũng đi Bắc. Sau này, khi về, có dậy Anh Văn tư và mở công ty (tôi quên tên) lo việc giúp các công ty nước ngoài nghiên cứu đầu tư. Có anh Nguyễn Quốc Thụy (ĐS5) cộng tác. Tôi biết rõ vì tôi làm cho Pharimex thời gian ngắn và phụ trách bàn giao trả trụ sở …

“Tôi còn nhớ khi ở Long Thành có hỏi ông Phong:”Anh có biết là nước sắp mất không mà còn về vào phút chót?”  Ông Phong trả lời: “Tôi về để tránh đổ máu.

“Nhân đây, anh nào biết tình hình của BS Phạm Đình Thăng TT Y Tế Phước Tuy xin cho biết. Anh Thăng về sớm. Vợ anh là Dược Sỹ và là cháu ông Phan Quang Đán (PTh T)cũng là con ông Phan Huy Xương, Chánh án TA ND Hà Nội …

“Ông Lưu văn Tính từng làm Bộ Trưởng TC, nhưng ông vào Long Thành vì chức vụ đứng đầu Ngân Sách và Ngoại Viện. …

“Khi Xuân Thuỷ đến Long Thành tôi nhớ anh Nguyễn Cao Quyền đứng ở đầu hồi nhà 2 chỉ cho anh em thấy XT đang đi cùng tuỳ tùng trên “Đại Lộ Hoàng Hôn”. Anh Quyền biết mặt anh ta vì có lúc phục vụ ngành ngoại giao tại Pháp khi hoà đàm Ba Lê diễn ra.”

Viên giới thiệu một bạn tù Long Thành:

“Anh Anh thân, Đạt “Long  Thành” tên thật là Nguyễn Trọng Đạt, bút danh là Trọng Đạt. Anh Trọng Đạt thường viết bài có tính cách nghiên cứu, bình luận chính trị trên Đàn Chim Việt…..  Anh cũng là CSV QGHC (CH3)

Viên”

Một trong những email của Lê Văn Cẩn viết:

“Dear các bạn,

Kể chuyện cũ ở Long Thành, tôi vẫn còn nhớ nhiều thứ: nhớ chuyện cụ Trần Minh Tiết (không phải họ Lê), nguyên chủ tịch Tối cao Pháp viện, sau 1 tháng, đêm đêm soạn sẵn va li, chờ xe camion lên chở về, nhớ chuyện Thiếu tá Chương nằm kêu khóc vào cái đêm ông Lưu Văn Tính được kêu tên cho về (“người ta làm Bộ trưởng được về, tui là thằng chủ sự quèn phải ở lại…”), chuyện KTS Ngô Viết Thụ có bàn cờ tướng nam châm và bị bệnh kiết lỵ hoành hành, nhớ buổi trưa tên Xuân Thủy, ủy viện TW đảng CS, đi thị sát trường cải tạo (chuyện này có nhắc ở bài viết trên Facebook bên dưới, đoạn kể về ông Nguyễn Xuân Phong)….

     Về ông Phong, khi tôi đi tù về năm 1982 thì ông làm Phó Giám Đốc công ty XNK Nông sản Agrimexco, Giám đốc là tên Thiếu tướng hai mang Nguyễn Hữu Hạnh, nguyên Tư lệnh phó Quân đoàn 4, Tổng tham mưu trưởng trong mấy ngày cuối cùng của chế độ VNCH

   Nhắc chuyện cũ Long Thành, xin gửi các bạn xem bài viết 2 kỳ tôi post trên Facebook nhân ngày 30.4.2018, đọc để nhớ một thời tuổi trẻ lao tù của anh em mình. Riêng bạn Hinh hay bạn nào có FB, có thể bấm vào link để xem thêm bình luận của người đọc trên FB của tôi.

Thân mến

Cẩn”

Mấy đoạn email trích ở trên dành cho những vị thích “mì ăn liền”, ngại đi lang bang các tiệm, biết thêm về một số nhân vật từng ở nhà tù Long Thành lúc đó.

Nhưng để có cái nhìn khái quát hơn, tôi xin “kể lại” chuyện Long Thành chung chung qua mấy bài viết của các bạn tù. Mời quí vị ghé qua những địa chỉ sau của bạn Lê Văn Cẩn, Đốc Sự Hành Chánh khóa 10, có trí nhớ rất đáng nể:

Facebook: kỳ 1 – https://www.facebook.com/lenguyenpd/posts/2868873529877271

kỳ 2 – https://www.facebook.com/lenguyenpd/posts/2873550942742863

mấy bài đó cũng có ở:

Báo online Saigonnhonews.com (California)

kỳ 1

https://saigonnhonews.com/nhin-lai-lich-su/chut-ky-uc-sau-30-4-1975-ky-1/

kỳ 2

https://saigonnhonews.com/nhin-lai-lich-su/chut-ky-uc-sau-30-4-1975-ky-2/

Ký ức của Lê Văn Cẩn còn tìm thấy tại địa chỉ

https://maybienvh.wordpress.com/2020/05/07/chut-ky-uc-sau-30-04-1975/

Và: https://quenoi.com/chut-ky-uc-ve-mot-quang-doi-sau-ngay-30-4-1975-1/

Ngoài bạn Cẩn, còn nhiều vị khác viết về nhà tù cộng sản nói chung, và Long Thành nói riêng. Rất nhiều sách đã được xuất bản kể lại chuyện đi tù cộng sản của nhiều vị khác nhau, hoặc những tài liệu của các tổ chức quốc tế về vấn đề nhà tù này. Tôi xin lược qua một số địa chỉ để quí vị tìm hiểu thêm, có điều, có cả bài viết của người trong nước hiện nay, lý luận và từ ngữ đôi khi “khó nghe”, cũng để chúng ta hiểu thêm “sự thực” đã bị những người cộng sản tuyên truyền, bóp méo ra sao.

Cải tạo lao động tại các nước” – https://voer.edu.vn/m/hoc-tap-cai-tao/4a4a8047

Chuyện tù “cải tạo” của Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng Quốc Gia VNCH – Trần Đỗ Cung”

https://ethongluan.org/index.php/404/75-home/popular-articles/142-chuya-n-ta-a-ca-i-ta-oa-ca-a-pha-ta-ng-thanh-tra-nga-n-ha-ng-qua-c-gia-vnch-tra-n-a-cung

Chuyện tù cải tạo nhiều người muốn biết

https://aihuubienhoa.com/a4182/chuyen-tu-cai-tao-nhieu-nguoi-muon-biet-tran-van

Học Tập Cải Tạo Tại Việt Nam”   Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_t%E1%BA%ADp_c%E1%BA%A3i_t%E1%BA%A1o_t%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t_Nam

Lục lại báo cáo của Ân Xá Quốc Tế – 1981https://www.luatkhoa.org/2017/06/trai-cai-tao-sau-30-4-1975-luc-lai-mot-bao-cao-cua-xa-quoc-te-nam-1981/

TÙ CẢI TẠO:TỘI ÁC CHỐNG NHÂN LỌAI CỦA CSVN (Đỗ Ngọc Uyển)”

TÙ CẢI TẠO:TỘI ÁC CHỐNG NHÂN LỌAI CỦA CSVN (Đỗ Ngọc Uyển)

Nếu quí vị nhờ ông (bà) Google, chắc sẽ tìm thấy nhiều hơn nữa chuyện tù cộng sản. Phần tôi, chỉ xin kể mấy chuyện vặt vãnh riêng tư tôi còn nhớ được trong một năm rưỡi tại nhà tù Long Thành, một năm rưỡi khởi đầu cho “ngã rẽ cuộc đời” của thằng tôi. Sau đó, sẽ là chuyện ở nhà tù Thanh Cẩm, Thanh Hóa, trong gần 7 năm tiếp theo.

***

Trưa ngày 15 Tháng 6, 1975, vợ tôi chở tôi trên chiếc xe suziki đỏ – kiểu phụ nữ – đến trường Trưng Vương để chui vào rọ của mấy anh VC. Hôm đó, trời Sài Gòn toàn một màu xanh. Rất ít sợ mây trắng mỏng manh lững thững trôi chậm rãi. Đường phố tràn ngập nắng. Nắng trưa hôm đó đẹp lắm, quí vị ạ. Nắng đẹp và hơi kiêu, hơi thản nhiên dù chưa đến nỗi lạnh lùng, phủ lấy đôi vợ chồng trẻ chỉ còn ít phút để chia tay. Đó là lúc độ 11 giờ 30 phút trưa. Vậy mà, chạy được nửa đoạn đường khoảng 4, 5 cây số, từ Cao Thắng đến Cường Để, trời bỗng trở chứng âm u. Nhưng hình ảnh của phố nắng vẫn lưu mãi trong tôi, để sau này tôi mở đầu một bài thơ với câu: “Khi xưa em tiễn, Sài Gòn Nắng.”

Tôi xin lang bang đôi chút ở khúc này của chuyện kể.

Nếu vị nào dại dột theo dõi chuyện tôi kể vớ vẩn trong “tự sự” này, chắc đã mấy lần nghe nói đến chiếc xe suziki đỏ của Lan Anh, bà xã tôi. Khi còn là “cô bạn thân mến”, chiếc xe nhỏ nhắn đó giúp Lan Anh chở tôi đến “Quân Vụ Thị Trấn” để “chàng từ đi vào nơi gió cát – Chinh Phụ Ngâm”. Cũng chiếc xe màu đỏ xinh xắn đưa Lan Anh mấy ngày Thứ Bảy, Chủ Nhật đi thăm tôi ở Quân Trường Thủ Đức. Trước đây, nàng chỉ chạy xe loanh quanh trong thành phố, nghe nói đến “Xa Lộ Biên Hòa” là dúm dó lại, cho xe ngừng ngay bên lề ở khúc cuối đường Phan Thanh Giản. Máy xe có rên lên thì cô chủ cũng không nhích thêm một thước. Ghét của nào trời trao của đó, đến lúc chiếc xe được cô cho phép chạy băng băng trong “gió lộng sáng hè”, để đi gặp thằng phải gió đang bị huấn nhục ở Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức. Rồi cũng chiếc suziki thân yêu đưa cô từ Sài Gòn đến Lai Khê, Bình Dương, cho tên bồ khốn khổ đi tìm nhiệm sở là Tiểu Đoàn 5 Quân Y. Chiếc xe trở thành “ruột thịt” với cô chủ, nên cũng chứng kiến buổi trưa cô tiễn chồng vào chốn xa xăm, một đi biết bao giờ trở lại. Hơn 9 năm sau trở lại Sài Gòn tôi vẫn mong được gặp con ngựa thân như ruột thịt đó. Cô chủ không thể giữ nó lại, đành để nó ra đi vào phương trời nào, khi cô lên đường vượt biên. Tôi yêu chiếc xe đó lắm, bởi vì, cuộc sống của nó là một chuỗi dài nhiều chuyến ra đi của tôi. Mà mỗi chuyến ra đi của tôi là một lần gây khổ cực nhọc nhằn cho cô chủ của “con xe thân yêu.”Hôm nay ngồi ghi lại, tôi rất nhớ chiếc xe suziki màu đỏ của vợ tôi. Chắc rằng “con” đã tan biến trong một nghĩa địa nào. Tôi tin theo nhà Phật rằng vật chất cũng có ‘giác hồn.”

Thuở còn nhỏ có nhiều thứ để tôi ngưỡng mộ. Ngày học Đệ Thất, Đệ Lục, dịp hè tôi được về Sài Gòn chơi, được gặp anh chị em bên họ ngoại cùng trang lứa. Cô em con dì con già tên Ngô Thị Quy đến thăm, dắt chiếc xe đạp đầm sáng choang vào sân, dáng vẻ tự tin, tươi cười chào ông anh tỉnh lẻ về chơi thủ đô. Cô mặc đơn sơ chiếc áo dài trắng có gắn bảng chữ Trưng Vương. Ôi chao, thế là tôi thêm một lần ngưỡng mộ. Trường Trưng Vương di chuyển từ Bắc vào Nam, nổi tiếng nhất nhì với trường Chu Văn An. Tên học trò trường trung học danh tiếng ở Đà Lạt bỗng thấy mình quê mùa. Lớn lên, lại mê một cô nữ sinh Trưng Vương, đôi lần đạp xe lảng vảng bên hàng rào Thảo Cầm Viên, ngắm nhìn mấy cánh cổng gỗ nặng chịch (bây giờ tôi vẫn yên chí mấy cái cửa trường Trưng Vương bằng gỗ, chẳng biết có đúng không). Sau này cô nữ sinh Trưng Vương đó dại dột theo tôi suốt chặng đường đời. Thế rồi, sáng nay, 15 Tháng 6, 1975, cô nữ sinh Trưng Vương lại đưa tôi “nhập trường”. Hơn chục năm trước chỉ mong vượt qua cái cổng hẹp bên cạnh cổng chính, để mon men vào sân trường nhặt chiếc lá xanh theo nhà thơ Nguyên Sa. Hôm nay, được vào thật, lại còn được ở một lớp học tầng 2, Miền Nam gọi là lầu 1. Chữ “ở” nghĩa là “ăn, ngủ, chơi đùa, đọc sách, ngâm thơ, ca hát” tự nhiên như ở nhà mình. Nghĩa là tôi được quyền “ở” như vậy nếu thời gian ở kéo dài hơn một đêm.  Nhưng, buổi tối, sau bữa cơm “hộp” thịnh soạn của nhà hàng Bát Đạt, chưa kịp làm quen sàn lớp lát gạch hoa (gạch bông), chưa kịp xem bạn bè quen biết có những ai,  chưa biết sẽ ngủ ra sao, đã có lệnh leo lên xe bít bùng đi đâu không biết.

Chuyện Vụn Long Thành bắt đầu từ đây …

Tam khoái– Hình ảnh đầu tiên tôi ghi nhận ở Long Thành chính là khu nhà cầu của thuở ban sơ. Người ta cho những bạn tù thâm niên hơn đào sẵn một lô các hố sâu, rộng, rồi đặt mấy tấm ván bắc ngang từ cạnh này qua cạnh kia. Cứ việc bước lên mấy tấm ván khập khễnh đó, đến chỗ nào bạn thích, tụt quần, ngồi xổm xuống, và hưởng cái “khoái” thứ ba của  tam khoái: “Thứ nhất là đỗ thủ khoa, thứ nhì vợ đẹp, thứ ba ị đồng.” Ở đây rất giống ị đồng vì gió thổi lồng lộng từ các triền đồi, đồng ruộng chung quanh bên ngoài hàng rào kẽm gai. Quí vị cứ tưởng tượng, cái nhà tù Long Thành có lúc chứa đến hơn 2 ngàn rưởi người không kể bọn coi ngục, thì cái khu hố tiêu này bao la bát ngát đến đâu. Chẳng có tường nào che chắn, y hệt “mình ta với trời bơ vơ (cái câu hát này tôi xin phép được mượn nhiều lần nữa sau này)” Giá như tôi là thi sĩ cỡ như mấy anh thi sĩ giải phóng, chắc thế nào văn học xã hội chủ nghĩa cũng có thêm vài bài thơ bốc mùi. Có thua gì tiền nhân thời phong kiến, lần giở cảo thơm. Đó là kể cho có vẻ thi vị, còn thực ra mỗi lần tôi phải làm cái công việc “tiện lợi to lớn (đại tiện)” này, mối lo luôn canh cánh trong lòng. Cầu gỗ gập ghềnh, nhún nhảy, hố sâu thăm thẳm, hai bờ (đúng ra là mỗi hố có 4 bờ) cách nhau vạn dặm, mình ta giữa trời đất mênh mang, gió chiều ào ào, lỡ có sa chân rơi vào chốn đó, không phải chỉ là chuyện bẩn thỉu, mà còn là mạng sống có an toàn? Chết thêm một “thằng ngụy’, bớt một miệng ăn thóc gạo của nhân dân. Cũng là một thứ “tiện.”

Đại Lộ Hoàng Hôn – Khi xẩy ra trận An Lộc, Bình Long, năm 1972, Tiểu Đoàn 5 Quân Y cử tôi đến tỉnh lỵ An Lộc ở 3, 4 ngày. Hai buổi chiều của mấy ngày đó tôi cùng các bạn quân y đồng sự đứng trước cửa chợ An Lộc, nhìn ra đường phố rộng mênh mông phía trước, ngắm cảnh hoàng hôn. Chúng tôi bèn gọi luôn con đường đó là “đại lộ hoàng hôn.” Không rõ có ai trước đó đã đặt tên đại lộ này như vậy hay không, cũng có thể chúng tôi đã từng nghe địa danh này nên nhớ ra mà gọi như vậy. Nhưng cái nhóm 4 chữ đại lộ kiểu này tôi đã gặp một lần nữa trên con đường từ Huế ra Quảng Trị, “Đại Lộ Kinh Hoàng”, nơi mà bọn cán binh Hà Nội ‘giải phóng’ hàng ngàn thường dân ra khỏi cuộc sống, để lại hàng hàng lớp lớp xương khô vùi lấp theo các đụn cát dọc hai bên đường. Ba năm sau, 1975, tôi lại gặp địa danh quen thuộc do các bạn tù đặt cho con đường đất rộng thênh thang chạy qua đầu hồi dãy “nhà 2” ở nhà tù Long Thành, các bạn gọi là “Đại Lộ Hoàng Hôn”, một đại lộ chạy dốc thoai thoải theo sườn đồi.

Trên Đại Lộ này, tôi thường được sánh vai đi dạo tay đôi với mấy vị cùng một mái nhà (nhà 2). Cụ Phạm Trọng Nhân thuộc giới Ngoại Giao, lúc đó chừng ngoài 50 tuổi, nhưng mái tóc điểm bạc khá nhiều. Phong thái cụ như một nhà nho, điềm đạm, khiêm cung nhưng giọng nói, cách nói chắc nịch. Cụ hay xưng hô “cậu cậu, tớ tớ” khiến thằng bé 32 tuổi tưởng mình cũng là tay lịch lãm lõi đời. Cũng trong ngành ngoại giao còn có anh Nguyễn Ngọc Diễm, thoạt đầu tôi tưởng là một nhà giáo, ề à giảng giải, đôi khi thì thầm kín đáo, có lúc lại sôi nổi chứng minh. Có lẽ anh Diễm hơn tôi chừng 5, 6 tuổi. Một vị lão thành khác tôi được cùng hứng gió chiều trên con đường dốc “hoàng hôn” là cụ Đặng Hiếu Khẩn. Phong thái cụ cũng như một nhà nho, nhưng nếu cụ Nhân là một nhà nho của đất ngàn năm văn vật Hà Nội, thì cụ Khẩn là một nhà nho của mảnh đất cằn cỗi phấn đấu không ngừng để tồn tại, để vươn lên, mảnh đất Miền Trung. Nên cách nói chuyện của cụ chững chạc nhưng sôi nổi, nếu có đượm chút chua sót thì cạnh đó là tính quả quyết đấu tranh. Anh Nguyễn Thế Viên, cũng ở “nhà 2”, cho tôi ít chi tiết về cụ Khẩn: “Cụ Khẩn người Bình Định. Tốt nghiệp  Kỹ Sư Kiểm Lâm (ingenier de foret) tại ĐH Hà Nội.    Nhiệm sở sau cùng: Bộ Canh Nông (Nhà Kiểm Lâm). Chức vụ: hình như là Thanh Tra (tương đương Giám Đốc.) Thời Đệ Nhất CH cụ làm Dân Biểu pháp nhiệm 1 đơn vị Bình Định.  Cụ kể :  Vợ cụ là cháu (nội/ngoại) của Nguyễn Thân là quan cùng thời với ông Ngô Đình Khả, thân phụ TT Ngô Đình DIệm. Do đó ông Khẩn được TT Diệm kêu ra ứng cử dân biểu.

Sau  khi cải tạo về tôi có đến thăm cụ tại một ngôi nhà ở quận 1 (cụ ở trên lầu) mà tôi đã quên tên. Khi ấy cụ đã yếu và phải chống  gậy, đi đứng lẩy bẩy do di chứng cơn đột quỵ khi ở trong tù cải tạo ngoài Bắc.

Cụ Khẩn là người hiền lành, thật thà và dễ mến

Tôi chắc cụ đã qua đời vì khi đi tù (1975) cụ đã ngoài 60 (lớn hơn  cụ Phạm Trọng Nhân, cụ Nhân sinh năm 1925)

Một bạn tù cùng trang lứa hay đi dạo Đại Lộ Hoàng Hôn với tôi là anh Nguyễn Văn Thành (không rõ họ Nguyễn hay Phạm). Anh Thành trạc tuổi tôi, ngày mất nước hình như anh đang ngồi ghế chánh án một tỉnh Miền Trung. Anh ăn, nói nhỏ nhẹ, đôi khi giọng nói kéo dài ra thiếu tính dứt khoát. Có phải vì nghề nghệp khiến anh luôn đắn đo cân nhắc trước khi đưa ra phán quyết. Chánh án Nguyễn Văn Thành đi cùng chuyến tàu với tôi ra Bắc, đến cùng trại, và cũng phải trải qua 5, 6 năm ở vùng đất sát biên giới với Lào, bên bờ sông Mã.

Khóc Mao Sếnh Sáng – Tôi là tên đầu óc tối tăm, trí nhớ lãng đãng, mấy khi nhớ được ngày tháng của một biến cố nào trong suốt cuộc đời mình. Vậy mà tôi nhớ cái ngày bị “thượng thổ, hạ tả” sau hơn một năm nhập cõi Long Thành. Không rõ hôm đó tôi ăn uống làm sao mà buổi chiều bị một trận trên thì ói mửa triền miên, dưới thì tiêu chảy đầm đìa. Ngóc đầu dạy nhìn quanh, cả một dãy nhà chạy dài vô tận không một bóng người. Thiên hạ đi đâu tất cả rồi? Tôi cố bò ra ngoài sân, bò thật sự chứ không phải bò theo cách nói tượng hình của nhân gian. Năm phút bò được từ chỗ nằm ra đến thềm nhà, gục đầu vào cái máng xi măng dành cho nước mưa chảy, lại nôn tháo từng hồi. Nôn ọe đến mật xanh mật vàng, nước mắt giàn giụa (hay ràn rụa?). Ngưng nôn để thở, ngóc đầu lên nhìn quanh, mấy trăm con người của hai dãy nhà chung nhau một sân, đang đứng yên lặng ngước nhìn lên cái loa gắn ở đầu hồi, cái loa hôm nay oang oang, lớn tiếng hơn mọi ngày. Cái loa khốn kiếp đang truyền đi những tiếng khóc, tiếng nấc của mấy nàng xướng ngôn viên, “ôi bác đã mất rồi!”. Hóa ra là họ đang báo tin “bác cả”  (bác Hồ là bác thứ, bác em) Mao Trạch Đông vội bỏ chúng ta về với chốn nào, chắc là chốn hỏa ngục rồi. Cho nên, cái tiếng nôn ọe của tôi không khiến ai chú ý. May mắn, Trần Văn Chung, anh bạn cùng Bộ Dân Vận, Trưởng Cơ Sở Dân Vận tỉnh Biên Hòa, vô tình liếc lại, thấy thằng tôi nằm mệt lử, vắt ngang hè nhà, anh bèn chạy đến. Sau khi hỏi qua tôi, anh chạy đi đâu đó kiếm cho tôi mấy viên thuốc, nhét vào mồm tôi, đổ nước vào bắt tôi nuốt thuốc. Chung dìu tôi vào chỗ nằm, cho thay quần áo, lau rửa sơ sơ. Tôi tin rằng đã thêm một lần thoát chết. Cảm ơn bạn Chung nhiều lắm. Ở những ngày tù đầy này tôi còn nhắc đến bạn, nhờ vả bạn nhiều lần.

Thành ra, tôi nhớ chính xác cái ngày hôm đó, nhớ luôn được ngày Mao trạch Đông qua đời. Và tôi “đã khóc cho người” giữa cơn tiêu chảy ròng ròng (hay dòng dòng)”: Ngày 9 Tháng 9, năm 1976 của đời tôi. Tôi nhớ Mao vì thượng thổ hạ tả, hay tôi nhớ thổ, tả vì Mao?

Đừng nghe – Hãy Nhìn – Buổi chiều oi ả, tôi đang tẩn mẩn ngoài hiên “nhà 2” phía sân nối với “nhà 3”, bỗng nghe tiếng ai hét lớn. Nhìn ra, một chàng thanh niên đứng giữa sân, dơ hai tay lên trời, gào lên: “Đừng Nghe –  Hãy Nhìn!” Đó là bạn Nguyễn Thế Viên, con Giáo sư Nguyễn Thế Vinh. Chàng là Trưởng Cơ Sở Dân Vận tỉnh Bảo Lộc –  Lâm Đồng. Bị nhốt lâu ngày, tức khí, nhắc nhở anh em nhớ lời Tổng Thống Ngyễn Văn Thiệu: “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói. Hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm”. Hình như sau đó chàng vẫn được yên lành vì chắc không “ăng ten” nào báo cáo. Trưởng Cơ Sở Dân Vận tỉnh Gia Định Vũ Thành An ở bên “nhà 1”, cách “nhà 2” rồi mới tới sân bên này, có thể đã không nghe “tiếng hét giữa chiều oi.” Hoặc chàng “thầy sáu” lúc đó đang bận thêm vài nốt nhạc cho bài hát liệt kê tội ác Mỹ Ngụy. Nói vậy, nhưng cuối cùng ngẫm lại, cũng chẳng đáng chi cho một cuộc bận tâm, mọi sự đều như hư như ảo.

Hoa đậu bắp – Có một dạo tôi được phân công tưới vườn rau. Tôi không nhớ lúc đó trong vườn có những rau gì, có khi chỉ là những luống khoai lang. Đất trại tù Long Thành không phải đất trồng trọt màu mỡ, không phân bón, chắc họ chỉ trồng khoai lang là dễ nhất. Không nhớ phải tưới rau gì, nhưng tôi lại nhớ mấy cây đậu bắp mọc lẻ loi một góc vườn. Kể ra, nếu chỉ một mình phải xách nước tưới hàng trăm luống khoai lang chạy dài dằng dặc, hẳn là không phải một thú vui chăm nom vườn tược. Sau này, hình như có thêm một bạn được phân công đến cùng tôi, tự do làm việc trong 4 bức tường vây quanh “nông trại”. Chúng tôi chia nhau số luống khoai, rồi mạnh ai lấy làm, muốn làm lúc nào thì làm, làm sao xách cho đủ nước hứng từ cái vòi cao su, tưới cho lênh láng luống rau. Bọn cai tù hay đi kiểm soát đất ướt hay khô. Chạy nước hết buổi sáng, mệt đừ, tôi bắc mấy cục gạch, ngồi ngắm dăm đóa hoa màu vàng chanh, tươi tắn như dung nhan hoa hậu, dịu dàng như vẻ mặt tiên cô. Hoa có thì thầm với tôi, an ủi tôi, nâng đỡ tôi, khuyên nhủ tôi. Nàng tiên hoa bảo rằng trong cõi đời này, sướng khổ có vì hoàn cảnh, nhưng nặng, nhẹ còn tùy tâm người. Ngày xưa, đọc truyện chưởng Kim Dung, tôi mê Triệu Minh, suốt ngày lẩn thẩn đi tìm Triệu Minh, tranh nhau với Trương Vô Kỵ. Trước đó nữa, tôi còn dám tư tình với nàng La Ra của Bác Sĩ Zivago. Gọi tên nàng hàng đêm trong giấc ngủ. Đắm đuối đấy nhưng xét cho cùng, chưa thấy nhờ cậy được nàng nào. Bây giờ, trong góc vườn hưu quạnh, nàng tiên hoa cho tôi điểm dựa an vui giữa cơn thống khổ. Hỏi thăm, anh bạn đồng sự gốc Tiền Giang, nói đó là mấy cây đậu bắp, có lẽ do chàng nào đó trước ở đất này trồng lên. Cảm ơn đất trời cho ta cây cỏ, cảm ơn những bàn tay đi trước gieo hạt cấy trồng.

Phục Hồi Nhân Phẩm – Không nhớ rõ vào lúc nào của 18 tháng tôi lưu trú tại nhà tù Long Thành, có thể vào khoảng sau một năm, một đêm ngoài sân ồn ào tiếng người mới đến. Dãy nhà bên cạnh, chắc là nhà 3 hay 4, thêm bạn tù mới. Đã có vài đợt thả tù, chuyển trại, dồn lũ tù còn lại, trống ra vài dãy nhà. Sáng ra, thăm kẻ mới nhập cư, toàn là phụ nữ. Hỏi chuyện các cô còn bị nhốt sau bức tường song sắt, tiếng cười nói huyên thuyên vui vẻ. Lâu rồi mới được nghe lại tiếng cười “vô tư’ ròn rã. Có vẻ như họ đang đi nghỉ mát chứ không phải bị tù. Cuối cùng cũng có câu trả lời, chúng em đang cần “phục hồi nhân phẩm”, tiếp theo là tràng cười lan truyền khắp phòng. Hóa ra, mấy anh Vẹm gom tuốt tuột mấy “chị em ta”, mấy chị em trước đây bán bar, cả mấy chị em buôn bán ngoài chợ bướng bỉnh chống lại lệnh cấm đoán, mang nhốt hết, bảo rằng các chị em cần phải phục hồi lại nhân phẩm của mình. Rồi có tiếng oang oang từ trong phòng phán ra, chính “mấy thằng đó đó” nó mới cần phục hồi nhân phẩm. Bọn nó mất hết nhân phẩm rồi. Rồi lại trận cười lan tỏa. “Mấy thằng đó’ là mấy anh quần áo đồng phục vàng, vác mấy khẩu súng dài, đang hầm hè đe nẹt các bậc nữ nhi.

Anh bạn Nguyễn Kim Hùng, Trưởng Cơ Sở Dân Vận tỉnh Long An, biệt danh Cậu Sáu Long An, kể rằng, một hôm đang làm ngoài đồng, chuyện bất ngờ xẩy ra khiến các anh tù tối tăm mặt mày. Trưa nắng chang chang, mấy chàng tù mồ hôi nhễ nhại, không làm cũng đổ mồ hôi, cuốc cỏ thì thân hình như tắm. Có anh đang chống cuốc nhìn xa xăm xuống con đường nhựa nối Biên Hòa – Bà Rịa, Vũng Tàu, tự nhiên vất cuốc la toáng: Ê bọn mày! La được mấy tiếng, lưỡi như cứng đờ, không thêm tiếng nào. Nhìn theo hướng tay anh cuống cuồng chỉ chỏ, mấy nàng tiên nữ hiện ra. Đó là những nàng tiên đang cần kiếm lại chút nhân phẩm xã hội chủ nghĩa. Đội nữ tù cũng làm việc gần đám tù nam, bỗng nảy ra ý kiến, lâu lắm rồi “mấy chả” chưa thấy của quỉ này, có khi quên mẹ nó mất rồi. Một Bà Chị Hai ra lệnh: Ê tụi bay, cho mấy ảnh xem, cùng là Việt Nam Cộng Hòa mà. Thế là các chị em ùa nhau chạy đến đám tù nam, mặc cho mấy tên công an quát tháo. Mấy anh ơi, xem nè. Lâu quá rồi không thấy phải không? Nhìn kỹ cho đỡ nhớ nhé. Một hàng dài mỹ nhân thi nhau tênh hênh giữa trời. Ôi cái tình Việt Nam Cộng Hòa sao mà thắm thiết! Đó là thứ tình đồng loại giữa những con người vẫn giữ trọn vẹn phẩm giá con người . Làm sao lũ Vẹm đánh mất phẩm giá hiểu được.

Bầy Thiên Nga – Chị em Phục Hồi Nhân Phẩm không phải là những phụ nữ bị tù duy nhất tại nhà tù Long Thành. Bây giờ tôi không nhớ rõ lắm nhóm nữ tù nhân khác đến Long Thành cùng lúc với mấy chị em kia, hay đến đợt khác, đợt sau. Tôi cũng không nhớ rõ nhóm nữ tù sau ở cùng dẫy với mấy chị em tôi kể chuyện ở trên, hay ở một nhà khác. Mỗi dẫy nhà của 13 dẫy nhà nhốt tù chạy suốt từ đầu đến cuối nhà. Nhưng dãy nhà khi dùng để nhốt nữ tù lại ngăn chia thành phòng nhỏ hơn. Có thể vì số nữ tù không nhiều. Số chị em nữ tù nhóm sau ít hơn và bị canh phòng nghiêm ngặt hơn. Một buổi sáng chúng tôi được lệnh tập họp ngoài sân vì một chuyện gì đó. Cả bọn ngồi chồm hổm trên sân. Lúc xong chuyện, nhìn lên dãy nhà trước mặt, sau chấn song sắt là mười mấy khuôn mặt phụ nữ. Họ âm thầm nhìn chúng tôi, không nói cười rôm rả như nhóm các chị em kia. Chúng tôi mon men đến làm quen. Một cô đột ngột hỏi chúng tôi: “Trông các anh sao hèn thế! Chịu ngồi bệt xuống đất mà nghe mấy thằng ấy “ný nuận” à?”. Chúng tôi bỡ ngỡ ở những lời chào hỏi đầu tiên. Có lẽ nghe câu nói khá tàn nhẫn, thô bạo, một chị có vẻ đàn chị kéo cô kia vào rồi đứng thế chỗ hòa nhã tiếp chuyện chúng tôi. Chuyện vãn được vài phút thì mấy tên công an đến đuổi chúng tôi trở lại “nhà 2”, nhưng cũng vừa kịp để biết hơn chục chị em trong phòng thuộc về “Biệt Đội Thiên Nga”. Từ lâu, tôi vốn đã nghe nói về nhóm tình báo “Thiên Nga” bên cạnh nhóm Phượng Hoàng của Cảnh Sát Quốc Gia. Chỉ nghe thôi, hôm nay mới được “diện kiến” những mỹ nhân sắc nước hương trời, thông minh, quả cảm. Về phòng, vắt tay lên trán, nghĩ lại, quả là mình trông hèn thật khi so với những đóa hoa ẻo lả bên nhà kia. Tự thân là những đóa hoa, nhưng từ họ thoát ra một khí thế thâm trầm mạnh mẽ, âm nhu mà cứng tựa sắt, đá. Tôi đồ rằng hôm đó được tiếp chuyện với người mà sau này, mấy chục năm sau ở hải ngoại tôi mới biết là chị Nguyễn Thanh Thủy. Không biết có đúng không, không rõ chị Thủy có trong nhóm các bạn Thiên Nga ở Long Thành không. Tôi vẫn tiếc là đến giờ phút này vẫn chưa hỏi chị chuyện đó. Tôi nghĩ đó là chị Thủy, vì người phụ nữ ra kéo tay cô bé đầu tiên mắng chửi chúng tôi, rồi với cung cách nghiêm mà hòa, chị làm như sẵn sàng tiếp chuyện mấy tên tù ngoài hàng rào song sắt. Đó là cung cách một đàn chị của lũ em cứng đầu kia, một cấp chỉ huy. Sau đó thốt nhiên tôi khám phá ra một điều, ngay trong không gian tù đầy đó, bầy Thiên Nga vẫn giữ được tôn ty trật tự. Soi rọi lại “bên này”, có được vậy hay không?

Lúc Bầy Thiên Nga đến Long Thành cũng là lúc chúng tôi, nhóm thứ hai rục rịch đi Bắc.

Mời quí vị tìm hiểu thêm về Biệt Đội Thiên Nga và Thiên Nga đầu đàn là Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy qua sách báo trên internet. Tôi xin giới thiệu một số địa chỉ: https://www.youtube.com/watch?v=aqv3XvaI4uk

Tach Tra voi An Mien Biet doi Thien Nga P1

Thiếu tá Nguyễn Thanh Thủy có xuất bản phần ký ức của chị xin xem:

Và, BIỆT ĐỘI THIÊN NGA Anh Phương  TRẦN VĂN NGÀ

http://thatsonchaudoc.com/banviet2/TranVanNga/HoiKy/BK_BietDoiThienNga.htm

Biệt-Đội Thiên-Nga, Nữ Chiến Sĩ Tình Báo:

http://www.truclamyentu.info/tlls_lichsuvietnamcandai/csqg_biet-doi-thien-nga.htm

Thăm tù – Khoảng 1 năm sau khi nhốt chúng tôi vào trại Long Thành, bọn Công An Cộng Sản cho thân nhân chúng tôi đến thăm tù. Có lẽ cũng là để chuẩn bị đưa chúng tôi đi Bắc. Vào thăm tôi gồm Đẻ tôi, vợ tôi, và hai đứa con 3 tuổi và 2 tuổi. Trong chừng một giờ đồng hồ nói chuyện giữa cái ồn ào của nhiều gia đình thăm tù cùng lúc, tôi luôn nhắc vợ tôi đưa hai con “đi Hà Nội thăm bác Toàn, và thu xếp cho hai đứa ăn học ở nơi thủ đô văn minh,…” Anh Đỗ Quý Toàn đã ra đi từ ngày 28 Tháng Tư, 1975, có lẽ gia đình anh đang ở Mỹ hay Canada. Vợ tôi hiểu rằng tôi thúc dục vượt biên, đừng ngại bỏ lại tôi một mình. Trong câu chuyện tôi còn chửi bọn đế quốc Mỹ đã thua nước Cuba trước đây, đến nỗi sau này muốn đón bọn chính quyền tay sai sang Mỹ, phải nộp cho Cách Mạng Cu Ba theo giá mỗi đầu người một cái máy cầy. Nhờ số máy cầy này mà Cu Ba sản xuất đường nhiều nhất thế giới. Không rõ vợ tôi có hiểu hết ý nghĩa câu chuyện hay không, hoặc vì luôn sót sa cho chồng, chẳng còn tâm đâu nghe biết gì nhiều. Đẻ tôi, suốt giờ thăm con, cụ chỉ trầm ngâm nhìn tôi, không hề rơi một giọt nước mắt. Cụ đã bỏ một đời chạy giặc từ quê ra tỉnh, từ Bắc vào Nam, bây giờ lại phải thăm con bị tù trong vòng tay giặc. Còn đâu nước mắt cho Bà Mẹ Già. Hai đứa con tôi, một ra đời năm 1972, một đẻ vào năm 1973, chắc chưa hiểu thế nào là cảnh bố bị tù đầy. nhưng mấy năm sau, lúc hai anh em được 6 và 5 tuổi, cũng đều nếm trải 1 tuần lễ trong một nhà tù tỉnh lẻ. Hai đứa có thể tự xưng là cựu tù của chế độ Cộng Sản. Tôi cũng tìm cách nói bóng gió cho Đẻ tôi hiểu rằng có thể tôi sẽ được đi cải tạo ở Miền Bắc, một nơi có nhiều điều kiện học tập “đàng hoàng” hơn. Tôi bông đùa: Cũng là một cách về quê! Đêm đó, ôn lại ít phút quí báu, ngắn ngủi gặp gỡ gia đình, nhớ lại lời bông đùa “về quê”, hai câu thơ chợt bật ra: “Anh từ ném áo, bàng hoàng, Qua sông, vượt biển, bẽ bàng về quê”. Rồi ngưng ở đó, mấy năm sau bên giòng sông Mã, nhớ lại, tôi mới làm tiếp thành “Một Chặng Đời Tôi”.

Các cháu Bù Gia Mập – Bù Gia Mập trước đây là một địa danh có lẽ thuộc tỉnh Phước Long hay Bình Dương, bây giờ trở thành huyện, cũng là địa điểm để du lịch, cắm trại. Người ta còn thành lập khu Vườn Quốc Gia Bù Gia Mập. Nhưng hồi đó, vào năm 1975, 1976 với các cháu thiếu nhi, đó là địa danh của chốn tù đầy trong hỏa ngục. Một buổi sáng giữa năm 1976, đoàn xe camion đổ xuống trại tù Long Thành hàng trăm hình tượng mà ta thường thấy trong các phim ảnh về Lò Thiêu Đức Quốc Xã. Một đàn các hình nhân chỉ còn trơ bộ xương mỏng manh tưởng như sắp gẫy đến nơi. Các bộ xương líu díu xuống xe, di động theo tiếng quát tháo của bọn cai ngục áo vàng. Các đôi chân khẳng khiu nâng đỡ hai cánh xương sườn oằn oại, và trên nữa là đôi mắt trơ trơ lồi ra, chẳng biết có còn khả năng nhận biết chung quanh hay không. Không lẽ đó là những con người thật? Vâng, đó là các cháu thiếu nhi tù nhân cộng sản. Một tuần sau, các cháu bắt đầu trở lại hình người, chúng tôi mới dám mon men tìm hiểu.

Sau khi bọn Cộng Sản Hà Nội chiếm được Miền Nam, chúng mở chiến dịch càn quét cái gọi là “tàn dư Mỹ Ngụy”. Các cháu thiếu nhi ngày xưa buôn bán vé số, đánh giầy, lang thang vỉa hè Sài Gòn kiếm sống, vì gia đình từ miền quê chiến tranh ngập ngụa, cố nhập tỉnh thành làm lại cuộc đời. Cũng có những bà Mẹ giận con cãi lời, nghĩ rằng đưa ra để công an giậy dỗ vài ngày cho cháu bé bớt cứng đầu, nên tự động ra phường khóm, năn nỉ cho mấy cháu đi học tập. Các bà vẫn nghe bọn công an khu vực nói việc học tập này chỉ kéo dài dăm bữa, nửa tháng. Gia đình cứ yên tâm, mọi điều có nhà nước lo, không phải đóng góp gì cả. Cứ thế, hàng ngàn các cháu được tập trung. Một nhóm khoảng 600 cháu được đưa vào giữa khu rừng Bù Gia Mập. Đoàn xe thả xuống, đoàn xe chạy đi. “Ta với rừng bơ vơ”. Không một tấc sắt, không một cái đinh, không một sợi kẽm, với chút ít lương khô để lại, 600 tâm hồn trẻ thơ tự tìm cách sống nơi chốn rừng hoang. Bằng tay không, các cháu làm ra lửa. Bằng tay không, các cháu dựng lên mái lá trú mưa, tránh sương lạnh ban đêm. Bằng tay không các cháu phải kiếm ra cái gì có thể nuốt qua cổ họng, xuống dạ dày nuôi sống tấm thân cằn cỗi. Thế đó, 600 mái đầu xanh ra đi từ đất Sài Gòn cuối năm 1975, 6 tháng sau, còn sót lại gần 200 được đưa về Long Thành. Họ đưa các cháu về đây “bồi dưỡng” trước khi trả lại gia đình. Còn gần 400 cháu vùi thây giữa rừng sâu núi thẳm, gia đình có cơ hội tìm ra mấy đốt xương khô?

Trước đây họ phải thỏa hiệp với các cháu bụi đời, với đám anh chị băng đảng giang  hồ để mà ẩn náu, để được bảo vệ, để mà thi hành công tác phá hoại, để xúi dục biểu tình, để đặt bon, gài mìn. Bây giờ, họ sợ chính những con người đó. Họ phải tiêu diệt những con người đó, những ân nhân của họ. Họ sợ, và họ tiêu diệt các cháu.

 Tội ác. Đó là tội ác! Lân la nghe các cháu kể chuyện, tôi chưa thể tin ngay rằng mình đã nghe một sự thật giữa cõi đời này. Rồi tự mình dằn vặt. Cái gọi là tội ác kia chính mình cũng ghé phần trách nhiệm. Nếu lũ chúng ta giữ được Miền Nam, các cháu đâu có lâm cảnh hỏa ngục trần gian như vậy. Nếu nhân loại không để bọn bịp bợm, bọn lường gạt xã hội chủ nghĩa, bọn cộng sản lưu manh ngóc đầu lên, các cháu Bù Gia Mập hẳn mang một mỹ danh khác, một cuộc sống khác.

Những ai đang lang thang trong khu du lịch Bù Gia Mập, trong khu Vườn Quốc Gia Bù Gia Mập, có nghe đâu đây trong gió, trong nắng, những tiếng trẻ thơ oán hờn?

Thưa quí vị, tôi chỉ kể chuyện tù theo cách này thôi. Toàn những chuyện vụn vặt, cá nhân, nhưng chứa chất sự thật trong cảnh sống hàng ngày. Long Thành, một nơi tôi từng biết đến là Làng Cô Nhi, bây giở, nửa thế kỷ sau thành cái gì, tôi quá chán ngán nên không tìm hiểu.

Và, với cái còng sắt lạnh ngắt cườm tay, tôi lên đường vượt biển ra Miền Bắc. Tôi đi lưu đầy nơi quê hương mình. Phạm Duy làm được “Trường Ca Con Đường Cái Quan” từ Bắc vào Nam, nhưng chưa làm được Trường Ca Tù từ Nam ra Bắc.

Ðỗ Ngọc Yến Thuở Sài Gòn

Ðỗ Tăng Bí

Nhật báo Người Việt xuất bản và phát hành một tuyển tập của 53 người viết về anh Đỗ Ngọc Yến, gọi là “Đỗ Ngọc Yến Giữa Bạn Bè”. Bài viết này vốn có tựa là “Đỗ Ngọc Yến Thuở Thiếu Thời” in trong quyển sách đó, Đưa vào blog, tôi đổi tựa bài, phác họa hình ảnh Đỗ Ngọc Yến giữa thành phố Sài Gòn.

Một buổi sáng cuối năm 1963, anh Ðỗ Ngọc Yến đến nói với tôi: “Bí này, chúng mình phải làm cái gì để cản bớt mấy cái trò nhảy nhót đang tràn lan các trường đại học mới được…” Anh đang nói về chuyện một số trường đại học ở Sài Gòn lúc đó, nhân đà “cách mạng 1 Tháng 11”, thay nhau  tổ chức các đêm dạ vũ ăn chơi tưng bừng từ cuối tháng 11, 1963 trở đi. Chúng tôi chia xẻ nhau ý nghĩ rằng lúc đó mức độ ác liệt ngoài chiến trường đang gia tăng, số thương vong mỗi ngày một nhiều, miền quê tràn lan khói lửa, mà thanh niên, sinh viên học sinh thành thị thi nhau vui chơi phè phỡn thì đâu có được.

Thế là chúng tôi chỉ có hai người, phân chia công việc: Anh Yến về nhà soạn bức tuyên cáo kêu gọi ngưng các sinh hoạt phù phiếm trong khuôn viên đại học, còn tôi viết một lô các khẩu hiệu trên những tờ bìa khổ lớn gấp đôi, nội dung đả đảo những buổi nhảy nhót tại trường học, kêu gọi sinh viên học sinh tẩy chay các sinh hoạt đó. Buổi chiều cùng ngày, tôi cầm bản viết của anh Yến đến Ronéo Mỹ Hiệp thuê đánh máy và quay 500 bản ronéo. Ngay chiều hôm đó chúng tôi đạp xe một vòng các toà soạn những tờ báo lớn thời đó, khoảng trên chục tờ, gửi cho ông Chủ Nhiệm, Chủ Bút một bì thư trong có bản ronéo tuyên cáo kể trên. Ðồng thời chúng tôi đi lén dán các tấm bìa khẩu hiệu viết bằng bút nét lớn tại các trường đại học sắp mở “ball” mừng Giáng Sinh năm đó.

Tôi không nhớ rõ nội dung anh Yến viết gì. Chỉ nhớ đầu đề là “Tuyên Cáo Chống Sinh Hoạt Ðồi Truỵ Xa Hoa Phóng Ðãng”, sau đó nêu một số điểm, rồi ký tên là “Phạm Hồng Thái”, thay mặt “Nhóm Sinh Viên Chống Sinh Hoạt Ðồi Trụy Xa Hoa Phóng Ðãng”.  Không ngờ báo chí hưởng ứng lời tuyên cáo của chúng tôi trong số báo ra vào chiều hôm sau. Tôi không còn nhớ đích xác tờ báo nào, nhưng ít nhất hai tờ đã lấy nguyên bức tuyên cáo thay cho mục xã luận. Một số tờ trích phần nào nội dung để bình luận. Có tờ làm bản tin về tuyên cáo và trích dẫn. Tựu trung báo chí đều cho rằng phong trào nhảy nhót trong trường học lúc đó là không được.

Mấy trăm bản ronéo chúng tôi phân phối đi các trường học bằng nhiều cách, qua các bạn bè, phần đông là Hướng Ðạo, rải ở các trường trung học. Có bạn gấp các “truyền đơn” để lên cánh quạt trần, khi bắt đầu giờ học, học sinh mở quạt, truyền đơn bay như bươm bướm. Tôi nhờ một cô nữ sinh Trưng Vương, cũng là Nữ Hướng Ðạo Sinh, mang mấy bản ronéo vào dán ở trường. Cô kể lại rằng phải cố gắng lắm mới dán được hai bản trên tường nơi cầu thang lên xuống, nhưng đủ để học sinh xôn xao, và khiến các cô Hiệu Trưởng, Tổng Giám Thị và các Giáo Sư  Trưng Vương lo lắng, hội họp tìm hiểu, điều tra. Không khí mật vụ của thời biểu tình mấy tháng trước đó còn đè nặng lên tâm trí mọi người.

Ðó là một trong vài kỷ niệm đầu tiên ngoài khuôn khổ sinh hoạt Hướng Ðạo tôi có với anh Ðỗ Ngọc Yến. Từ đó cho đến hôm nay, hơn 40 năm qua đi, trừ 16 năm tôi ở Thanh Hoá, rồi Sài Gòn, khi anh Yến ở Mỹ, hầu hết thời gian còn lại tôi vẫn làm việc, sinh hoạt với anh Yến, hoặïc thường trực, hoặc cách đoạn. Ngay cả mấy năm tôi ở trong quân đội, những sinh hoạt này vẫn được nối tiếp. Giai đoạn nhộn nhịp nhất là khi anh là Tổng Thư Ký “Chương Trình Công Tác Thanh Niên Sinh Viên Học Sinh Hè 65”, thường được gọi tắt là “Chương Trình Hè 65”, anh cho tôi làm phụ tá để đỡ cho anh những việc thường xuyên hàng ngày .

Có nhiều chuyện anh Yến làm mà chỉ hai anh em chúng tôi biết với nhau. Năm 1991, tôi được qua Mỹ đoàn tụ gia đình. Gặp chị Loan, vợ anh Yến, tôi kể “chuyện hồi đó”, khi đoàn văn nghệ Ðường Sáng của Chương Trình Hè đang trình diễn ở Miền Trung (1965) thì hết tiền ăn, mà ngân khoản từ ngân hàng chưa được tháo khoán, tôi đã chở anh Yến về nhà lấy vòng vàng của chị đi cầm lấy tiền đưa anh Phạm Quốc Bảo mang gấp ra Trung “cứu đói” các bạn nghệ sĩ. Lúc đó chị mới kêu trời. Chị nói mấy chục năm nay vẫn băn khoăn về số vòng và kiềng vàng là của hồi môn của chị, bỗng dưng biến mất. Mà Chị không dám nghĩ ai đã lấy, nên cứ nín lặng. Anh Yến lo ngay được một số tiền cho việc chung, nhưng anh lại không dám lấy tiền từ quỹ chung đi chuộc vàng về trả vợ.

Người ta thường nói đến những cái “dùi trống” anh Yến chất đầy trong garage nhà anh. Ngụ ý mấy chữ châm biếm trên để chỉ nhiều chuyện anh Yến đã bắt đầu nhưng không kết thúc, như anh đánh trống rồi bỏ dùi đâu đó. Gần gũi anh, tôi biết rằng đa số những hồi trống anh dóng lên thường là những chuyện cần thiết, hoặc cho lúc đó, hoặc cho mai hậu. Nhưng với lối làm việc “team-work”, không tự quyết định độc đoán, không dễ gì anh tìm được những người chia xẻ với anh và thực hiện những dự định lớn lao và cần thiết, nên anh đành để đó và “sau hãy hay.” Vậy mà cũng có lần anh phải đi dọn dẹp đống dùi trống của người khác để lại, như chuyện dưới đây.

Khoảng giữa năm 1993, một nhóm vài ông khá tiếng tăm và giầu có dự trù cấp một ít học bổng cho mấy bác sĩ ở Việt Nam đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ. Việc tuyển chọn nhờ một tổ chức y tế ngoại quốc đang làm việc tại Việt Nam. Các ông bắt đầu bằng chuyện tuyển chọn một cô bác sĩ ngành chống bệnh truyền nhiễm, phù hợp với ý định của tổ chức kia muốn giúp Việt Nam chống sự lan truyền bệnh Aids. Năm, sáu ông góp mỗi người ít tiền mua vé máy bay cho cô bác sĩ qua Miền Nam California, các ông xin cho cô được tu nghiệp ở một bệnh viện hay trường đại học nào đó. Nhưng còn chuyện cô sẽ ở đâu, ăn uống ra sao, di chuyển ra sao, đời sống hàng ngày thế nào cho suốt thời gian cô ở California thì không ai đứng ra lo, không ai chịu bỏ tiền ra cả. Và bỗng dưng anh Yến được mời tới. Và anh Yến lại về nhà, cậy cục sao đó với vợ anh, chị Loan, được ít tiền để cô ta dằn túi. Anh tìm tôi: “Bí này, có cách nào lo được chỗ ở cho cô ấy không nhỉ?” Ngay hôm đó thì không có cách gì đi thuê nhà cho cô, vào khách sạn thì tiền đâu, tốt nhất là rước cô về nhà tôi. Vợ chồng tôi qua ở phòng con trai, nhường phòng cho cô, con trai tôi ra phòng khách ở tạm. Gọi là tạm cũng mất đâu hơn một tháng. Phải tìm một phòng ở ngay gần nơi cô tu nghiệp, đỡ chuyện xe cộ đi lại. Tiền thuê appartment mỗi tháng cũng mất năm, sáu trăm, ít nhất phải mất một năm tiền nhà, còn tiền ăn uống của cô, rồi đồ dùng linh tinh, từ cái TV, giường nằm, bàn làm việc, rồi mùa lạnh tới cần quần áo phù hợp, rồi tiền quà cáp những ngày Thanks Giving, Giáng Sinh, giúp cô ít tiền gửi về nhà… cũng phải có đủ. Tôi không biết anh xoay đâu ra ngần ấy thứ, cứ đưa tôi dần dần để tôi lo liệu. Có những tháng anh chưa xoay kịp tiền, chúng tôi phải nghe những cú điện thoại chửi rủa của chủ nhà và phải è cổ ra trả tiền phạt vì hai vợ chồng tôi là người đứng ra ký hợp đồng thuê nhà cho cô ta. Hoàn cảnh chúng tôi lúc đó cũng không thể góp nhiều với anh được. Chuyện tiền nong coi như xong, nhưng còn tin đồn lúc đó anh Yến có bồ, đi thuê nhà cho cô ta ở, thì nói làm sao? Hôm nay lần đầu tiên tôi xin nhắc lại chuyện dùi trống này, để nếu chị Loan hay ai đó mười mấy năm nay vẫn nuôi thắc mắc, có thể giải toả từ đây. Cũng là cái nghiệp, nếu anh Yến để lại nhiều dùi trống thì anh cũng là người phải dọn dẹp nhiều dùi trống của thiên hạ.

Trên là vài mẩu chuyện nhỏ phác hoạ một phần rất đơn sơ chân dung anh Ðỗ Ngọc Yến. Theo tôi, đó là một con người tử tế. Và anh cũng không quên những gì người khác đã làm cho anh. Cuối Tháng Tư, 1975, tôi không nhớ rõ ngày nào, khoảng 26 hay 27, nhận được lời nhờ cậy của anh Ðỗ Quý Toàn, tôi mượn chiếc xe hơi R-8 của ông bố vợ, đến đón gia đình anh Yến đưa vào sân bay Tân Sơn Nhất. Sau này anh chị còn nhắc mãi chuyện đó, và nói rằng nếu không có chuyến xe đó, chắc anh sẽ trải qua những kinh nghiệm khác của cuộc đời.

Tại hải ngoại, nhiều tổ chức, đoàn thể, nhiều cơ quan truyền thông, nhiều trường đại học Hoa Kỳ và các sắc tộc thiểu số đã công nhận sự đóng góp của nhà báo, nhà hoạt động Ðỗ Ngọc Yến, cho sự phát triển và hội nhập của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ, và sự hòa hợp với các cộng đồng bạn. Ðộc giả đã được đọc và nghe nhiều chương trình phỏng vấn, bài báo viết về anh Ðỗ Ngọc Yến. Riêng phần ghi dưới đây sẽ cho chúng ta thấy bàng bạc hình ảnh anh Yến hồi còn rất trẻ qua ký ức của anh về Sài Gòn thập niên 50. Một số những người cùng thời anh Yến đều có chung kinh nghiệm này: Lúc còn bé thơ, chúng ta không được chơi đáo, đánh quay, bắn bi như những bạn cùng lứa tuổi trên đường phố, trong sân trường học. Hình như chúng ta tự dưng bị ngăn cách sao đó với sinh hoạt trẻ thơ. Anh Ðỗ Ngọc Yến cũng là trường hợp đó, 15 tuổi đã làm báo lậu là một thí dụ kinh nghiệm không phù hợp với tuổi; 16, 17 tuổi đã chui trong các hậu trường ca nhạc cải lương là một thí dụ khác. Và những kinh nghiệm không hợp lứa tuổi này thường khó có ai cùng lứa tuổi làm chung. Cho nên, muốn phác hoạ chân dung anh Ðỗ Ngọc Yến thời niên thiếu chúng tôi phải góp nhặt nhiều lần qua những lúc anh cao hứng kể cho nghe, chứ không thể nhờ ai đó làm nhân chứng kể lại.
Về việc trò Trần Văn Ơn bị bắn chết, những năm sau đó các nhóm bí mật đều tổ chức truy điệu. Vụ này anh Yến nhớ lại như sau: “Hồi đó tôi còn nhỏ quá (khoảng 13, 14 tuổi), hồi đó cái vụ truy điệu tôi không phải là cánh “tổ chức”, đôi khi tôi chỉ tham dự. Sở dĩ tôi tham dự là vì lúc đó tôi là hướng đạo sinh, hướng đạo mình thường khuyến khích đoàn sinh đi đâu mình cũng tích cực, phải đóng cái vai trò phục vụ, thí dụ như ăn uống mình phục vụ bằng cách tổ chức cho người ta ăn uống, đưa đón mình tổ chức đưa đón, trật tự này kia nhưng mà thực sự mình không biết chương trình. Nghĩa là chuyện đó định làm như thế nào thì mình không biết, nhưng thấy có một số người tập họp thì mình xoay ra “tổ chức” thế nào cho cuộc họp có trật tự. Ðó là năm 1955, nhưng từ năm 1956 tôi đi sâu vào chuyện sản xuất báo, báo bí mật, báo lậu. Năm 1957 thì tổ chức hội họp bí mật. Ðến năm 1959 tôi bị bắt”.

Bây giờ anh vẫn khiêm nhượng nhận rằng chỉ học được nghề báo từ cụ Nguyễn Ðức Quỳnh, từ Lê Xuyên, từ Phạm Long Ẩn,… nhưng thực ra anh Ðỗ Ngọc Yến vào nghề báo từ năm 15 tuổi. Chuyện “làm báo” từ 1956 anh kể như sau: “Báo in ở đây là báo in bột, tức là bột thường, bột gạo, nhưng có điều đặc biệt là mực in phải mua ở tiệm bán ở đường Catinat. Loại mực đó là loại mực của Ấn Ðộ. Lọ mực cũng đắt tiền, lúc đó đi mua lọ mực cũng bằng bao anh em đi một chầu ciné. Mực chà lên bột, mực thấm vào, rồi lăn bột lên từ tờ giấy này qua tờ giấy kia, lăn độ chừng ba chục trang thì bột xộc xạch và chữ ngoằn ngoèo hết, đôi khi muốn làm nhiều phải in hai lần. Sau này người ta gọi in sương sa thì cũng là nguyên tắc đó. Nói cho đúng thì cái đó chỉ là chuyện học tập làm công tác, thực sự nội dung của những tờ đó không có gì đặc biệt”.

Thực ra trước đó anh Ðỗ Ngọc Yến đã ngồi tù một thời gian. Ðó là năm 1957, lúc anh 16 tuổi. Câu chuyện xẩy ra vì đầu năm 57, Bộ Quốc Gia Giáo Dục ra thông tư về điều kiện cho học sinh Ðệ Tứ muốn lên Ðệ Tam. Tự nhiên là tương lai của đại đa số học sinh bị đe dọa. Từ chuyện này đã phát sinh ra phong trào Kiến nghị, anh Yến kể như sau: “Hồi đó, tự nhiên mấy ông bên Bộ Quốc Gia Giáo Dục hay mấy ông nào đó cho ra quyết định những ai đỗ bằng Trung Học Ðệ Nhất Cấp hạng từ Bình Thứ hay Bình gì đó trở lên mới được vào học lớp Ðệ Tam trường công. Như thế là họ đẩy một số lớn học sinh không cho học đệ nhị cấp. Thành ra phía học sinh phản đối. Các ban đại diện hội họp rồi làm kiến nghị.

 “Vào khoảng đầu năm 1957, cả lớp có 40 chục người. Kiến nghị thì đứa nào cũng ký vào hết, nhưng phải có một học sinh đại diện, mà thường học sinh đại diện này phải là người học giỏi trong lớp. Như thế có 10 lớp Ðệ tứ có 10 lá thư như vậy. Mỗi lá thư đính kèm 30, 40 chục chữ ký. Chẳng những trường Petrus Ký làm thế mà tất cả những trường công ở Sài Gòn đều làm, (và người đại diện ký kiến nghị cho cả trường Trưng Vương là chị Kim Dung (bà Hà Tường Cát bây giờ). Thế là cả Sài Gòn kể cả trường Nguyễn Trãi, Chu Văn An đều ký, những trường dưới miền Tây như Nguyễn Ðình Chiểu ở Mỹ Tho, trường Thoại Ngọc Hầu ở Phan Thanh Giảng cũng đều ký hết.

”Khi kiến nghị thì phải đèo theo hai điều, là đèo theo học bổng, cải thiện về giáo dục. Phong trào này xảy ra đầu năm 57, đây là năm đầu tiên đấu tranh Chống Hiệp Thương. Trên nguyên tắc là năm 56 thì đòi Hiệp Thương nhưng hai bên lắc đầu nhau, đến năm 57 điều này xảy ra thì là con đẻ của chuyện kia thôi.

”Các trường lớp được tổ chức họp tại Sài Gòn, rồi miền Nam mười mấy trường họp lại trong một nhà hóc bà tó tại Bàn Cờ. Tôi thì không đại diện lớp đại diện trường nhưng tôi lại là người tổ chức cuộc họp đó mà địa điểm lại không biết ai cho mượn (vì tất cả đều là bạn bè, người một tay). Tôi lại là người tổ chức đi lại, ăn uống và cuối cùng tôi là chủ tọa của buổi họp đó, bạn bè tôi thì được dặn để làm này nọ, còn tôi thì không ai dặn hết, chỉ vì tinh thần xì-cút mà có tinh thần tổ chức. Vì là chủ tọa cho nên sau đó tôi ra bưu điện gửi thư cho Tổng thống và Quốc Hội. Tất cả những thư từ lúc đó khi gởi cho hai cấp đó phải có số căn cước của mình, còn nếu gởi thư bảo đảm thì không thành vấn đề. Khi đưa căn cước là tôi thầm biết, “Mẹ,ï lúc này là bắt đầu lãnh đủ rồi đấy nhá!” Nhưng đã lao theo thì phải tới luôn. Và dĩ nhiên là thơ không đời nào có câu trả lời. Thế là phải họp lại và xuống đường.

”Cuộc xuống đường tại Nha Trung Tiểu học đường Lê Văn Duyệt trước cửa Tao Ðàn, nơi trước là văn phòng Thủ tướng Ngô Văn Thinh ngày xưa treo cổ chết, mà tôi là đại diện của phe biểu tình 200, 300 trăm người với cờ xí. Tôi vào nói chuyện với ông Tổng Giám Ðốc Trung Học Bùi Phượng Trì. Xong về nhà, đến ngày hôm sau thì mới thấy những bạn kia đến nói cảnh sát ở quận nhì, quận nhất, quận ba gọi tôi. Mới đầu chỉ có 1, 2 thằng báo tôi còn không tin nhưng sau đó 7, 8 thằng báo tin thì biết đúng là nó đã lùa hết đám này ra rồi. Thằng nào cũng báo tin cho biết là họ đang đi tìm xem vụ này có những ai. Ðến lúc này tôi biết tình hình nguy đến nơi. Tôi dò hỏi thì biết cảnh sát đặc biệt miền Ðông ở chỗ Mạc Ðỉnh Chi, tôi đến trình diện, “Tôi đây không cần phải đi tìm.” Thế là cảnh sát giữ tôi ở đó.

”Trong bản khai tại đó có những câu hỏi rằng: Những ý kiến này là của ai. Tôi biết vậy nên nhất định chứng minh rằng đó là ý kiến của chính anh em học sinh. Thế là tôi bị giam một thời gian sau đó thả ra. Trước khi thả ra tôi phải ký vào giấy cam kết phải báo cáo cho họ biết nếu có những ai tiếp xúc… Tôi ký xong về và suy nghĩ tìm cách báo cho mọi người biết là tôi đã bị theo dõi rồi các anh đừng liên lạc với tôi nữa. Nhưng tôi khám phá ra rằng tất cả những người chơi với tôi cũng đều đã được dặn như vậy hết rồi, nghĩa là không đứa nào liên lạc với đứa nào nữa. Thì rồi lại yên”.

Anh Ðỗ Ngọc Yến đã thú nhận rằng cứ cái máu hoạt động, cái máu hướng đạo hay lăng xăng tham gia, phục vụ, thì thế nào mình cũng bị dính vào cái gì đó. Một trong “cái gì đó” là vụ kể trên, bị nhốt, rồi thả ra, rồi bị ra toà. Anh Yến kể về chuyện ra toà: “Từ bản kiến nghị đó họ đưa đâu khoảng 14 người ra trước tòa, trong đó là 12 người đại diện của các ban đại diện học sinh, những người đã ký tên vào các kiến nghị. Trong những người ký tên có năm bảy người loại hoạt động, có những người vì là vào đại sau đó gia đình lo cho họ thoát được, họ học hành tiếp tục bình thường không có gì hết, có những người cũng bị sổ đen sổ đỏ hoài, có những người thoát ly luôn.

“Trong trường hợp tôi, tôi là người không có ký tên trên văn kiện nào hết, nhưng mà tôi lại ký trong hai cái loại văn kiện hành chánh, vì khi gửi những bản kháng nghị lên cho tổng thống và quốc hội thì phải ra bưu điện gửi bảo đảm, và hồi đó muốn gửi bảo đảm cho tổng thống và quốc hội thì họ biên căn cước của mình, tôi dùng Thẻ Học Sinh có dán hình để gửi, thành ra nó có vẻ là một người tổ chức ở một dạng nào đó”.

Loại hoạt động của anh Yến là loại khá độc lập, thấy cái gì tiện thì làm, không thuộc hệ thống nào, do đó bên Công An theo truy mãi, theo dõi mãi cũng không thấy gì nên để đấy thôi. Nhưng khi nội vụ đưa ra tòa thì lại lấy cái tên người gửi thư để gọi vụ án, và báo chí hồi đó đã gọi “Vụ án Ðỗ Ngọc Yến và các đồng lõa”.

Theo những người còn nhớ kể lại, hồi đó vụ án mang tên anh Yến cũng “xôm tụ” lắm, cái kiểu “anh hùng Lương Sơn Bạc” ø. Người ta lạc quyên để lấy tiền lo luật sư, người ta biểu tình để ủng hộ đòi hỏi hợp lý của nhóm học sinh. Nhưng anh Yến lại cho rằng: “Cũng chẳng có gì to tát lắm đâu. Ðại khái như thế này. Cả bọn ra tòa cuối Tháng Giêng năm 1959. Cũng lại là một kinh nghiệm nữa về hoạt động của phía”bên kia”, là tự nhiên không biết từ đâu có bao nhiêu luật sư đến để đề nghị biện hộ miễn phí. Một số trong các ông luật sư này là những ông đầu tàu của mấy ông tranh đấu thời sau, có ông sau này vào bưng với “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam”.

“Như vậy mình phải hiểu rằng mấy ông ấy đã được “bên kia” yêu cầu yểm trợ. Lúc xử án, lại nảy ra phong trào nhịn ăn điểm tâm để dành tiền trả luật sư biện hộ cho mấy người bị ra tòa. Ðến ngày tòa xử lại có bãi khóa, học sinh vây chung quanh tòa án, leo lên bám nghẹt các song sắt hàng rào tòa án. Chính tôi phải khó khăn lắm mới vào được trong toà.Vì chúng tôi từ nhà ra hầu tòa chứ không bị đưa từ nhà giam. Ðến lúc chúng tôi vào đến tòa, tập hợp điểm danh xong thì ông tòa nói là đình vô hạn định. Ai về nhà nấy”.

Mặc dù phiên xử án được đình vô hạn định, nhưng anh Yến vẫn bị trường Petrus Ký đuổi học. Hẳn nhiên điều này đã ảnh hưởng không ít đến cuộc đời anh. Suốt vụ án anh thuộc loại tại ngoại hậu tra, không ở tù nên không bị “bên kia” móc nối như một số tù chính trị đương thời, nhưng phía “bên này”, công an vẫn theo dõi. Bị đuổi học, việc “cách ly” với bạn bè, xã hội càng nặng nề hơn, khe khắt hơn. Lúc đó anh Ðỗ Ngọc Yến học đệ nhị tại Petrus Ký. Chàng thanh niên 17, 18 tuổi bỗng dưng bị cách ly với sinh hoạt công đồng thường nhật. Ôn lại kỷ niệm này, anh Yến kể:

“Tôi từ tòa án đi về trường, lúc đó tôi học đệ nhị. Vừa đến trường thì hai ông giám thị chờ sẵn kẹp cổ tống ra ngoài cửa trường và bảo từ rày trò không được trở lại trường này nữa vì sáng nay hội đồng giáo sư họp đã đuổi học vĩnh viễn. Ðó là khoảng cuối Tháng Giêng năm 1959.

“Buổi sáng đi thẳng ra tòa, rồi về trường thì bị đuổi. Lúc đó tôi đang là Trưởng Ban Báo Chí của trường. Ðể lại đống bài vở cho các bạn trong ban, xin đi lấy xe đạp, rồi lững thững đạp về nhà. Ðến nhà thì ông cụ đã được báo là tôi bị đuổi học từ sáng rồi.

“Sau buổi sáng đó tôi đi khỏi trường Petrus Ký. Thành ra trong cuộc sống đời tôi có khác với nhiều bạn khác. Bình thường, ở mỗi lứa tuổi người ta có một số kỷ niệm, một số kinh nghiệm giống nhau. Thí dụ ở tuổi mười mấy thì có những kinh nghiệm đúng với tuổi đó.

“Ở đây, tôi có những kinh nghiệm hơi sớm trước tuổi, ngoài kinh nghiệm đi học, mà lại không có kinh nghiệm hồi còn bé như đánh đáo, đánh điếc, bắn chim. Nó cũng là hoàn cảnh chiến tranh. Chiến tranh trong nước ta xảy ra trên hai ba bình diện, nội chiến, ý thức hệ này kia, không phải bây giờ người ta mới tận dụng đám trẻ con như là bên Phi Châu, đám trẻ 13, 14 tuổi cầm khẩu súng bazoka hay là mặc bộ đồ lính của người lớn nom nó buồn cười. Thời đó người ta cũng sử dụng trẻ con nhưng mà tinh vi, vô cùng tinh vi, hệ thống lớp lang và nó có một kinh nghiệm là mấy chục năm ở Việt Nam, Trung Quốc, ở ngoài Bắc vào trong Nam mấy chục năm, mấy thế hệ như vậy. Thành thử cái đó đối với Tây Phương đó là cái gì nó hơi lạ nhưng đối với xứ nông nghiệp, xứ Ðông Nam Á mình thì nó thành là chuyện bình thường ai cũng có thể trải qua được. Ðó cũng là cái điều mà người Mỹ không hiểu được về đất nước, con người Việt Nam. Ðôi khi có những người rơi vào giữa cuộc chiến của hai hệ thống, bị hút vào đó như một cơn lốc”.

Trong chúng ta, một số người ra đời trước và sau 1940 vài năm thì cảnh “tản cư” là một phần ký ức của tuổi thơ. Cùng với ký ức tản cư, có thể chúng ta còn ghi nhận những cảnh Tây về làng “điểm mục”, lính kín ruồng xét, cho “bao bố nhận diện”. Tôi không biết từ “điểm mục” có phổ biến không. Ký ức thời 5, 6 tuổi của tôi đã ghi nhận hai chữ đó. Ðiểm mục là lính Tây, lính “dõng” về làng, tập họp cả làng lại điểm danh, nhìn từng khuôn mặt xem có ai là “du kích”, làm việc cho “Uỷ Ban Hành Chánh” hay không. Giai đoạn tản cư của anh Ðỗ Ngọc Yến ngắn và gần, nghĩa là chỉ tản cư chung quanh Sài Gòn chứ không đi xa.

Anh kể: “Hồi đó tôi đi tản cư ở Lái Thiêu (những mảnh vườn mà sau này chúng ta đi cắm trại, ăn trái cây), để tránh Nhật bỏ bom tại Sài Gòn vào cuối 1944 đầu 1945. Tôi không có cuộc tản cư lớn. Trong đầu óc tôi Tản Cư là những cảnh nên thơ, tản cư là các cụ thuê các xe cá. Xe cá là xe ngựa kéo, xe cá có ít nhất hai con ngựa kéo. Còn xe ngựa, xe thổ mộ, chỉ có một con ngựa thôi. Xe cá giống như xe minivan, phía trên rộng có thể để tủ lớn chồng lên nhau. Xe cá này chở người tản cư từ Sài Gòn về phía ngoại ô, thường thì chạy về Lái Thiêu hoặc Tân Quy vì ở đây có nhiều nhà vườn. Người dân Sài Gòn chạy về đó, nhờù đồng bào tại đây cho tá túc.

“Sau này, khoảng 1954, 1955, tôi hay đạp xe đạp về vùng đó chơi, đi thăm những cụ già, những “ngôi nhà tá túc” hồi đó. Ðặc biệt năm 55 tôi đạp vô vườn chơi, có chứng kiến một cảnh, sau này mới vỡ lẽ ra. Lúc đó tôi khoảng 13-14 tuổi, tôi thấy mấy ông nông dân mặc quần áo đen ngồi đầy, đông lắm, ngồi rất trật tự. Sau này tôi mới hiểu là mấy ông tập kết. Nhưng hình ảnh tôi nhớ rõ nhất là cái hình ảnh mà trong sử cũng nói, là dân ở ủy ban hô hào dân chúng xuống đường đi ra đường Catinat thời 1945, ông già tôi đã dắt tụi tôi đi từ sáng sớm, ghé tiệm Tàu đầu đường làm ly cà phê mà ông Bình Nguyên Lộc từng mô tả là “đổ ra cái dĩa” uống, lúc đó tôi khoảng 4 tuổi.

“Sau đó cảnh đáng nhớ nữa là cảnh Tây đi xét nhà. Ðầu tiên chúng chỉ xét thôi, xong có mấy người Việt Nam đi theo bắt mở tủ, rương… ra, rồi tôi thấy đồ đạc chúng lấy đi. Tụi Tây và người nhà mình thấy vậy thì bắt phải trả lại.

“Nhưng cái cảnh bắt đầu biết sợ là sợ cảnh bị Tây bố. Hồi đó cứ sáng sớm: “đi bố, đi bố” nghĩa là Tây bao hết vùng đó, trước cửa trường Nguyễn Bá Tòng, tất cả đàn ông bị lùa hết ra ngoài khu đất trống, nằm trước cửa nhà tôi. Tất cả ngồi chồm hổm, hai tay để lên đầu; đàn bà con nít thì đứng lóng ngóng quanh đó. Sau đó bị lên xe “cây” chở về bót.

“Sau rồi đến “bao bố nhìn mặt” nghĩa là cho nhận diện mọi người, những người làm việc nhận diện thì được chụp bao bố lên đầu. Ai bị nhìn mặt và gật đầu thì bị giữ lại, không có thì cho về. Về sớm nhất là những ông công chức, gần nhà tôi có mấy ông công chức Sở Hỏa Xa. Sở Hỏa Xa không phải là của nhà nước nhưng có chế độ công chức nên được ưu tiên. Và từ đó trong đầu tôi có ý niệm thế nào là công chức, công chức thì oai quyền lắm, làm công chức thì an ninh, rồi được về trước cho đi làm. Chờ đến chừng 10-11 giờ nghe nói ông già được thả về thì mừng, còn giờ đó không được thả về, mà tin “bao bố trùm mặt” gật đầu thì chết. Ðây là những giây phút điếng hồn của những gia đình lúc bấy giờ. Vài năm sau thì lựu đạn nổ ngay trước cửa nhà. Hay trong những năm đó, hình ảnh những ông Việt Minh cứ đến nhà xin tiền bố tôi – thời đó thanh niên ngày ấy ai cũng tầm vông vạt nhọn đi quanh quanh khu phố – hay có những ông bạn già đến nhà… và sau đó mới biết rằng đó là những ông Việt Minh, nôm na là những người bị bắt rồi thả ra.

“Thường những người được thả ra bị đánh đập xơ xác rách mướp, đau ốm ho lao, phải đi loanh quanh xin tiền. Những gia đình bình thường dù muốn dù không ai cũng giúp đỡ. Và những cảnh này cứ trở đi trở lại hoài”.

Tuổi thơ chúng ta có thể còn chất chứa thêm những ký ức về cuộc sống trong vùng “ấm ớ hội tề”. Ở làng tôi, ban ngày mấy ông “hội Tề” cai quản. Ban đêm, mấy ông “Uỷ Ban Hành Chính” từ bên kia sông qua tập họp nói chuyện, thu thuế,… Tôi vẫn nhớ như in hình ảnh những “anh nuôi” đêm đêm lén lút về xin tiền, xin thuốc chữa bệnh của Mẹ tôi. Chế độ chính trị trong vùng thật ấm ớ, nên mới gọi là “ấm ớ hội tề”.
Về khoản này, anh Yến không có cơ hội trải qua: “Ngược lại tôi hoàn toàn sống dưới chế độ mà bên kia gọi là “tạm chiếm.” Nhưng tôi lại có liên hệ (đến phía Việt Minh) nhiều nhất là khi vào học ở Petrus Ký, Petrus Ký là cái ổ! Khi tôi vào Petrus Ký thì vừa xảy ra vụ Trần Văn Ơn được hai năm, cao trào này đang từ từ đi lên. Trong trường Petrus Ký lúc này học sinh đi học là một chuyện nhưng mặt khác bị chi phối quan tâm đến một lối sống khác: họp hành, đọc sách báo này nọ… Nhà tôi lúc đó ở Bùi Thị Xuân, gần khu Bàn Cờ, Lê Văn Duyệt thì có hai bãi đất trống bán sách báo cũ — cũ đây là cách đó chừng 3, 4 năm thôi — các sách vào thời kỳ bắt đầu kháng chiến, mà đặc biệt là toàn là sách báo kháng chiến. Dần dần có sách báo của Thông Tin Hoa Kỳ. Những cuốn sách đầu tiên của Thông Tin Hoa Kỳ vào truyền bá về thế giới tự do. Tôi nhớ là báo Thế Giới Tự Do số hai là tôi đã được trông thấy, và tôi biết tòa soạn của Thế Giới Tự Do đặt ở lầu 4 tại phố như thế nào, mà khi đó tụi con nít chạy đến, tìm cách chạy lên thang máy vì hiếu kỳ”.

Những cuốn sách đầu tiên được dịch ra mà anh Yến nhắc đến là cuốn “Ðêm hay ngày” của Koestler, cuốn “Tôi chọn tự do, chọn công lý” của mấy anh đi trốn ở Nga thật dày; trong đó cũng có những cuốn về văn hóa Mỹ như “Dũng sĩ da đỏ,” rồi “The Last of Mohican” của P. Coopper, lúc đầu là mấy cuốn đó. Rồi đến thời kỳ ông Diệm từ năm 1954 trở đi, những loại sách văn học như cuốn “Kho tàng phiêu lưu” của Tom Sawyer, “Ðôi bạn phiêu lưu”… mới được dịch. Nhưng trước đó, những cuốn sách khác đều là sách chính trị hết, duy có vài cuốn về văn hóa như “Bác sĩ Aerosmith” của Sand Lewis có thể nói là sách nói hoàn toàn về Mỹ. Có một cuốn nổi tiếng “Tẩy Não Tại Trung Hoa Ðỏ” (1949)…

Anh Yến kể: “Trong trường hợp của tôi, tôi khác với nhiều bạn vì tôi là một thằng bé lớn lên hoàn toàn trong thành phố, thành ra hai loại tranh đấu này tôi quen từ bé đến lớn: tranh đấu nội thành và công khai hợp pháp tranh đấu dưới một chế độ chính trị đặc biệt nào đó. Lúc đó mình đủ sức tò mò để nghĩ tại sao có sách như thế này (nói về kháng chiến), mà lại có thể phổ biến được? Sau này có một người thông thạo vấn đề đó cắt nghĩa mới hiểu. Lúc đó chính phủ Sài Gòn người ta để tình trạng như vậy để người Mỹ quan sát thấy là có tài liệu cộng sản khắp mọi nơi, hoạt động cộng sản tưng bừng khắp ngõ, để người ta sợ chế độ cộng sản mà ủng hộ viện trợ cho phe Tây ở Việt Nam.

”Sách Thông tin Hoa Kỳ tôi đã xem từ đầu, từ năm 49 Sở này bắt đầu hoạt động, thì mấy năm đầu chưa có loại sách đó đâu. Hai cuốn của Thông Tin Hoa Kỳ lúc đó nổi tiếng nhất là cuốn sách hình “Tám bậc vĩ nhân” (Hoa Kỳ) trong đó có từ ông Washington đến ông Jefferson rồi ông Headman rồi trong đó có một ông Tây đen là ông B. Washington (?), rồi một ông thi sĩ Whitman, rồi ông G. Nixon… Rồi đến báo Thế Giới Tự Do, số đầu tiên thì tôi không biết nhưng tôi biết số Thế Giới Tự Do 2. Còn nhà xuất bản của Thông Tin Hoa Kỳ lúc đó được đặt tên là Tân Á. Rồi báo Sức Mạnh và Tự Do, đây là báo người ta bỏ… nhà cầu. Tôi có đọc một đoạn trong tờ báo này về “Ðêm hay Ngày” và bắt đầu hiểu, khi ấy tôi khoảng 11-12 tuổi, hiểu rằng cuốn này đặt đề tài là nếu anh chấp nhận thế này thì anh là cộng sản rồi, tức là ở đời quan trọng nhất là tự do với cơm áo, nếu anh muốn có cơm áo thì phải chấp nhận cộng sản, còn chấp nhận tự do thì phải cãi nhau với cộng sản. Hồi đó sách vở cũng đủ sức để dạy cho mình những hiểu biết như vậy”.

Trở lại trường Petrus Ký mà anh Yến nói là “cái ổ”. Ðó cũng là nơi xuất thân của các ông Huỳnh Văn Tiễn, Lưu Hữu Phước… những vị mà sau này nổi tiếng về cách mạng. Anh Yến cho rằng đó đúng là một chỗ quy tụ những trí thức yêu nước, những người ý thức về thân phận của dân tộc của đất nước để bắt đầu tranh đấu. Truyền thống đó đã tiếp tục cho đến vụ Trần Văn Ơn, đây cũng là một yếu tố nuôi dưỡng, mà sau này khi anh Yến vô học Petrus Ký cũng đã cảm được cái không khí đó ở trong lớp của Petrus Ký. Chuyện người hoạt động bí mật thời đó thì coi như là những thần tượng. Không phải chỉ anh Yến, các bạn khác của anh như  Lê Ðường, Trần Ðại Lộc vẫn nhìn thấy ánh hào quang của những năm cuối 40 đầu 50 còn phảng phất tại Petrus Ký.
Về điểm này, anh Ðỗ Ngọc Yến nói: “Nói tóm tắt một là nó có truyền thống, và hai là nó có nề nếp rồi. Nghĩa là lớp nào nó cũng có những người thuộc loại lăng xăng có liên hệ với những tên hoạt động lớn hơn chừng hai, ba tuổi, hai ba lớp hay là thân nhân ở ngoài. Trước đó thì những học sinh này không có gì hết về suy nghĩ chính trị, nhưng sau bị ảnh hưởng của những anh kia. Trong trường hợp tôi, trước đó tôi không có liên hệ với ai hết, nhưng lúc đó tôi là xì-cút (Hướng đạo). Trong xì-cút có dạy nhiều thứ như dạy anh phải là một thành phần nào trong lớp của anh, nghĩa là trong lớp cần gì thì anh phải tự nguyện v.v… Thầy giáo ở Petrus Ký cũng có nhiều thầy hóc búa như ông Giám thị, nhưng cũng có một số thầy luôn luôn kích thích tinh thần yêu nước của học trò. Tôi còn nhớ năm học Ðệ tứ, một thầy giáo dạy Sử Ðịa, mà người này đã từng ở tù thời Trần Văn Ơn. Ông này đã dạy Sử trong tinh thần kích thích học trò. Thầy giáo này mê báo Ðời Mới của ông Hoàng Thương lắm. Năm học Ðệ tứ tôi đã có gần đủ số báo Ðời Mới này (có khoảng 154 số) — đến tháng 4 năm 1955 thì tờ báo đóng cửa — tôi chỉ đi ra nhặt ở đầu đường bán lẻ. Ngày tôi bị ra tòa rồi đi tù, tôi mang hết bộ đó biếu cho người thầy này. Khi ra khỏi tù, cảnh sát cứ theo điều tra xem mình bị ảnh hưởng bởi những ai, ai nói cho mình điều này, ai nói cho mình thế kia”.

Anh Yến đã nhắc lại giai đoạn học Ðệ Tam Petrus Ký kể trên, anh bị vướng vụ “Kiến Nghị”, biểu tình. Ðang học Ðệ Nhị, đang hoạt động tưng bừng thì tự nhiên anh hoàn toàn bị cô lập vì bị đuổi học, bị theo dõi. Có lẽ thành tích “đấu tranh” của anh được “lưu ý”, nên “Sau đó vài tháng thì cũng có người đến liên lạc nhưng không phải là chuyện học sinh nữa mà là liên lạc, mời tôi đi họp trong Tổng Liên đoàn Lao Ðộng, mời lập một nghiệp đoàn Văn Nghệ Sĩ, bây giờ là lúc đấu tranh vào khu vực văn nghệ từ những rạp hát, cải lương, báo chí v.v…”

Lúc đó anh Yến chưa hề là văn nghệ sĩ, chưa viết lách gì ngoài những trang báo trong trường. Nhưng từ xa xưa anh vốn đọc sách nhiều, đã có cái nhìn “viễn kiến”, nên người ta dễ tìm đến anh. Anh kể: “Tôi đâu có viết lách gì, nhưng đại khái mình là dân hoạt động. Rủ là tôi đi. Vô họp đây thì bàn bên cạnh là bàn công an. Tụi công an ngồi đó 24/24 để ghi lại tất cả những chuyện đó vì là đấu tranh công khai mà. Tôi lại nghĩ thầm, “đây lại là cái rắc rối nữa đây. Nhưng kệ, làm thì cứ làm.” Lúc này tôi cũng đã bắt đầu chơi với đám văn nghệ sĩ rồi nhưng cũng chỉ là tép riu thôi, nhưng vấn đề là hệ thống tổ chức tức là anh đã bị lộ phía học sinh rồi thì họ sẽ đưa anh vào sâu sang hoạt động khác, vì đây là một hệ thống có tổ chức mà. Sau đó khó khăn thì họ dặn tôi đừng liên lạc với Liên đoàn Lao động nữa, muốn liên lạc gì thì đi lên trên Hóc Môn, đi vào các vườn họp. Khi đi họp lên đường Chi Lăng, từ Chí Nhuận từ nhà ông Phạm Duy đi ngược về Bà Chiểu, cứ buổi chiều từ 4, 5 giờ muốn gặp thì đứng chờ ở đó có người đạp xe đạp ngang qua. Các bạn đã biết phần nào tuổi thơ của tôi”.

Trong một bài viết, chị Hà Dương T. Quyên có nói về khả năng “luồn lách” của anh Ðỗ Ngọc Yến, chị gọi là khả năng “lăng ba vi bộ”, theo chữ trong tiểu thuyết của cụ Kim Dung viết về nhân vật Ðoàn Dự.  Chúng ta vừa mới lướt qua về thời thơ ấu của anh Yến, hình dung vài nét phác hoạ chân dung anh hồi nhỏ. Chúng ta có thể hiểu được khả năng “lăng ba vi bộ” của anh từ đâu tới.  Tuy nhiên, theo tôi, khả năng đó của anh chỉ để làm lợi, làm tốt cho những người cần được giúp đỡ, cho cộng đồng, cho cuộc đời. Và đó là điều đáng quí của anh Ðỗ Ngọc Yến.

TRANSCRIPT OF THE FILM, SHADOW GATE

by Millie Weaver

MILLIE WEAVER: What if I were to tell you that a small group of government contractors were hired by government officials to frame the Trump campaign, set him up for the Russia Collusion investigation, provided witnesses for the impeachment hearings and provided administrative support services to the Department of Justice during the Mueller Investigation?

And what if it just so happened that this same group of contractors are behind the Fake News in Mainstream Media, influence operations on social media and the civil unrest nationwide, pushing the “defund the police” movement? The Obamagate scandal only scratches the surface.

[VIDEO]

LINDSEY GRAHAM: You mentioned shock value, that it’s shocking what the Russians did. I agree. We need to stop it.

SALLY YATES: I know that now, based on the Horowitz Report.

LINDSEY GRAHAM: I’m not saying that you lied to the court. I’m saying you signed something that was a lie and you didn’t know it.

MILLIE WEAVER: Talk about a cover story! What really happened is much more alarming. Both parties are equally guilty of covering up what should turn out to be an even bigger scandal.

Shadowgate: the tactical and operational role the Shadow Government played behind the scenes, carrying out the coup against President Trump. We’re going to be looking behind the puppets, at who the real puppet-master string-pullers are.

The material presented in this documentary should concern people of all political affiliations. This is about real players; people whose names never come up but should. Career politicians are definitely part of the Beltway Swamp, even aspects of the Deep State – but they are not the Shadow Government.

The Shadow Government consists of government contractors, defense intelligence, security and so on. Our government mostly consists of front-facing desk jockeys that are compartmentalized in cubicles, there to cover up for the fact that most of the real work is outsourced to contractors, aka the Military Industrial Complex.

That way, what the public sees through FOIA requests, investigations, congressional hearings or otherwise is as clean as a whistle. All the dirty work is kept private with contractors in clandestine networks. These contractors have used their connections, power and influence to create an unprecedented international criminal enterprise, where blackmail is traded and people’s personal data is gold.

MILLIE WEAVER: Two whistleblowers, Tore and Patrick Bergy, who both worked extensively within the Shadow Government as contractors have come forward with revelations that may be part of the biggest whistleblowing event to date.

TORE: I’m one of thousands faceless, patriotic Americans that work within the shadows and had been doing that for a very long time. People that worked for John Brennan approached me while I was in my specialist training, while I was in the Navy.

When I was recruited, it was for electronic warfare. Then, I ended up in Information Warfare and ironically, the base that I first went to for electronic warfare is now Information Warfare.

PATRICK BERGY: My job was for a company called Dynology, which was owned by Obama’s National Security Advisor, General James Jones and I answered directly to his son. I worked for them for about eight years, from 2007 to 2010.

My focus was primarily in the development on a couple different contracts for the Department of Defense for the development of the capabilities for “Interactive Internet Activities”, being something that helps support CNO, which is Computer Network Operations, hacking and different things like that and Information Operations, which would be your actual Influence Operations.

It’s a supporting application that’s really kind of like a Microsoft project, which allows you to manage large projects, like enterprise-level projects, but instead of managing the construction of a 14-story building, it’s managing the most malevolent operations that you could imagine.

TORE: I was a contractor for various intelligence agencies that were privately- created, so they were private contracting agencies, because unlike what most people think, our intelligence doesn’t stay within our borders or within federal buildings.

PATRICK BERGY: The Shadownet was the commercial version of an IIA weapon, IIA being “Interactive Internet Activities”. That’s the military nomenclature for what basically, you’ve heard just being described for the last three or four years, with all the Fake News and the Fake News journalists and fake stories, fake dossier – all these things are attributes and characteristics of IIA, which is social media psychological warfare.

We began that really in 2007, when right after the policy guidelines first came out. We were one of the first contracts with the DOD that I’m aware of, trying to help the 4th Psychological Operations Group understand how to go from dropping flyers from planes to a more micro-targeted, social media, psychological warfare application, where you could select an individual target or a group target – or an entire country, if you wanted to.

TORE: What I did was something called localization or L-10N. So, a localization strategy is, you find a group of people; that could be a whole country, a city, a certain religious group, a six-block radius, like CHAZ and you try to get in their mind.

You have to understand how they eat, how they walk, how they talk, what they like, what pushes their buttons, what drives them nuts, what upsets them, what makes them happy. And then you use that to your advantage to push whatever ideology or product or direction you want them to go, marrying together cultural appropriation, language, nuances of the demographic that you are targeting or the nation you are targeting.

It pries into your demographic, your world, so if I want to blackmail you and put you under my thumb, not only will I know everything, but I will know your deepest, darkest fears; I will know people I can get in contact to find out more about you.

Maybe you had an old hockey injury, so if I wanted to attack you, I’d know where to hit you.

PATRICK BERGY: You understand enough about someone and you can hack their shadow, you can use their fears, you can use their anxieties.

Sound anything like pandemics that you recognize, here?

MILLIE WEAVER: Oh yeah, definitely.

PATRICK BERGY: So, you can use those things to help reflexively control or influence and target an individual or whoever it is, or a group of people or an entire election, an entire country

TORE: What Patrick Bergy created was a program that was based off of the strategies that we used in person. It was a psychological operation but that crunches data with the use of psychological operations, so you can predict how your target will respond.

PATRICK BERGY: I spent like seven years overseas; a couple of those years were specifically related to IIA, so I understood certain things when.

TORE: We hijacked the Afghan elections. How did we do that? We had to understand how the Afghanis think. We had to go to the areas that were anti- Taliban, because the Taliban political group was now more militant than it was political. We used that to our advantage and formulated a plan where we would sway their thoughts to believe that “XYZ candidate” is the way to go, because then, you won’t get robbed and we’ll tame the Taliban – but we had to do it in their way. So, he created the algorithm that does that for you

PATRICK BERGY: When we were largely doing this, it was done by analysts. Now, this is more done, automated through Artificial Intelligence, which is just a common iteration of the program or application development process.

The database component ends up allowing you to build behavioral profiles on individual targets and through those behavioral profiles you can develop or implement reflexive control, which allows you to understand – with enough information about someone – you can predictably determine how they’re going to react.

TORE: I was really good at what I did, really good and I can still do it, too. I’m not doing it now though

MILLIE WEAVER: Well, don’t be doing that, Tore!

TORE: You wouldn’t know if I was, too!

But I helped them train algorithms with the strategies that I had created, all these years.

PATRICK BERGY: They had asked us to bring the application to a classified network. But Jim sent him a bogus, just a made-up, ridiculous bid to actually do that, because if it went on a classified network, we couldn’t turn around and sell it commercially. We went on, after that to another contract in Tampa, took everything with us.

4th Psychological Operations Group had no idea that we were going to be taking their years’ worth of work, that they paid us to do – the taxpayers paid us to do

– and we kept the intellectual property rights to it and remarketed it, branded it commercially as the Shadow.

So, I come back here and I see these guys back here, in America have just been having a field day utilizing the technology that we’ve been developing to alter the outcomes of our elections in America.

MILLIE WEAVER: This technology was so successful, they couldn’t resist the temptation to not use it commercially and have the power to affect outcomes of elections at home. The commercial and black market value of such a technology is incalculable.

PATRICK BERGY: This is the mobile mega Shadownet mobile. My laptop sits in here and then I got uh two 4k capture cards. I can do VTC and this charges all the camera equipment, so while I’m riding, I’m told I’m getting as much as 40 amps.

These are the same cases that we used to build out our Skips; our SC2IPs, which is a Small Command and Control over IP.

And when I was working with JCSE, we would take these cases and build out networks. This is a Small Command and Control over IP. It’s just only running on one unclassified network.

SIM-enabled Wi-Fi router and if I get decent cell connection, then I can run the multiple cameras and I can put multiple images in one screen and I can run all that from my cell phone, that I have mounted here.

MILLIE WEAVER: The group of whistleblowers from the NSA and other classified data collection agencies, referred to as the Global Surveillance Whistleblowers were used as a vector to legalize what was then illegal dragnet spying on everyone, 24/7.

[VIDEO]

60 MINUTES: The NSA and its former head, General Hayden declined to comment for this story.

MILLIE WEAVER: The FISA Amendment Act of 2008 had section 702, that permitted the government to spy on citizens with a warrant from the Foreign Intelligence Surveillance Court.

The NSA data system collects everything through what’s called the Upstream, where everything is stored for 72 hours then dumped. However, if one could twin this stream of data they could privatize it. Imagine what you could do with that?

Tore alleges that she worked for John Brennan at the Analysis Corporation and Global Strategies Group.

What is the analysis corporation?

TORE: It is a company that does a lot of things, varying from administrative work, to analyses, to data collection, biometric collection. I mean, whatever contract they’ve been awarded by the government, they do. It could be something as simple as janitor duties.

[VIDEO]

STATE DEPARTMENT SPOKESMAN DURING 2008 PASSPORT SECURITY

BREACH: In case you missed the Secretary’s words upstairs, she reached out to Senator Obama to say that she was sorry that this had happened, that there were these unauthorized accesses to his passport files.

One incident this past summer, where there was a trainee in the Passport Office who had an unauthorized access of Senator Clinton’s passport file. Now, in the case of Senator McCain, we detected earlier this year, one of the same people who accessed Senator Obama’s passport file also accessed Senator McCain’s passport file.

This is the same individual who was disciplined but at this point in time, still remains working with the contractor.

MILLIE WEAVER: She claims to be the actual person who moved the electronic files at Stanley, Inc and CGI in 2008, which publicly was falsely alleged to be a “hack”. What can you tell us about the CGI-Stanley passport incident?

TORE: See, Brennan has a certain MO, okay? When he wants to get something, he pretends there’s a hack. So, I was asked, when I was stateside, “Hey, would you go by that office and pull all this data from the State Department?” and I said, “Of course I will.”

I put it on two rugged drives. They were like the orange tips, really big drives and I put it on there and then later, it’s like, “Oh, they were hacked.” And I’m thinking, “Um, I didn’t hack anything. I was told to do it.”

So, I just kind of watched what was happening. One person actually committed suicide or something and the other two were found. I’m like, “But there was no hack!” And that that’s a going theme. You know that, right?

MILLIE WEAVER: Wow. If it wasn’t a hack, I’m presuming that means you took the information off of their servers and computers?

TORE: Correct.

MILLIE WEAVER: So, that information was then missing?

TORE: Correct.

MILLIE WEAVER: What would be the point of that? What were they trying to hide?

TORE: Well, if I removed it, that means someone else was there to replace it, right? So, I remove the factual, actual information and then someone goes behind

– that’s like super switch. I didn’t see that until in retrospect.

Because for me, going to copy a server off of a consulate computer, State Department, wherever would be normal. If we had a contract with them, they would tell me what terminal, I’d scan the barcode, make sure that I was at the right computer and do my job.

So, I removed data. That means someone else replaced it.

MILLIE WEAVER: So, what is the relationship between Global Strategies Group, Analysis Corporation and Canadian Global Information?

TORE: They all do the same thing. They’re the Jacks of all Trade, except for the fact that Global Strategies Group was actually a hub for all information; in and out, in and out.

All of the directors there were former GCHQ, CIA, NSA, MI6, MI5, German intelligence. You have to wonder, why are all these former heads heading up consulting firma and what were they consulting? And they weren’t consulting. They were collecting everybody’s data and privatizing it.

MILLIE WEAVER: John Brennan, working within his network of contracting companies, such as Stanley, Canadian Global Information and the Analysis Corporation helped then-Senator Barack Obama get elected using Internet influence operations.

March 5th, 2013, Brennan gets confirmed as CIA Director, dodging controversy over his involvement in the CIA Enhanced Interrogation scandal.

Now, tell us about these data bridges to the NSA. Is that legally obtained information?

TORE: I mean, that’s kind of what Snowden did, too.

MILLIE WEAVER: According to sources closely-connected to this subject, under John Brennan’s direction, Snowden created a data bridge from the NSA database into private servers controlled by private intelligence and cyber security

contractors, aka the Analysis Corporation, Global Strategies Group and Canadian Global Information.

TORE: The twinning of streams is duplicating the information in the Upstream. That’s crazy. To think that another company is copying all emails, texts, phone calls, messages, emojis, Instagrams, tweets – anything you can imagine that’s being uploaded, that has to go into the 72-hour holding is suddenly being pushed offshore. That sounds kind of illegal, because it is.

MILLIE WEAVER: June 5th, 2013. Edward Snowden goes public with the NSA program PRISM, revealing the NSA collects Internet traffic of all US citizens from major Internet and telecom companies through the FISA 702 program.

Snowden’s actions kicked off, on the federal level justification for spying on US citizens, including the Senate and Congress, in the name of preventing US citizens with Classified or Top Secret clearances from being able to repeat Snowden’s actions. This opened the door for the creation of ClearForce.

July 4th, 2013 CGI and GCHQ launch a Defense Cyber Protection Partnership (DCPP), which includes sharing threat intelligence.

So, these were all private corporations that even had foreigners working in them and they had access to NSA servers?

TORE: Of course they did. How do you think we found, through facial recognition of the FBI the Belgium Bomber? Why would we have their facial recognition data?

MILLIE WEAVER: So, is this legal, what you’re telling me and why would they do it? Why would they set this up this way?

TORE: So, sharing our information and our private identifying information, facial recognition biometrics outside of the United States for official purposes, like at a consulate and an embassy, through Secret Service or anything like that is legal – or through Interpol – but to have a company that houses everybody’s data and any private person can buy that data or investigate that data or analyze that data, that’s not. And that’s exactly what GSG was doing.

[VIDEO]

[CNBC BROADCAST]: Early 2009, John Brennan left government and went to work for a small intelligence contractor here in the Virginia, area suburban Virginia area, just outside of Washington. The company was called the Analysis Corporation. There are subsidiaries of subsidiaries. Some of these companies are spun out, go public, go private, again. It’s kind of hard to keep track of them.

MILLIE WEAVER: In just four months, GSG, CGI and other private contractors allegedly had unauthorized access to the entire Five Eyes network; unfiltered, unrestricted, decompartmentalized, outside any government regulation or oversight.

Not surprisingly, the CIA gets caught one year later spying on the US Senate. Their excuse, it was their own network they had set up for the Senate to use, so they had authorization.

[VIDEO]

[C-SPAN BROADCAST OF SENATE HEARINGS] SEN. ROBERT WYDEN (D-OR):

Would you agree that the CIA’s 2014 search of Senate files was improper?

CIA DIRECTOR JOHN BRENNAN: This is the annual threat assessment is it not? Yes. These were CIA computers at a CIA-leased facility. It was a CIA network that was shared between Senate staffers conducting that investigation for your report, as well as CIA personnel.

SEN. ROBERT WYDEN (D-OR): The reality is those computers, in effect belonged to the CIA but they were reserved exclusively for the committee’s use.

NSA DIRECTOR, GEN. HAYDEN: We accelerated our ability, our – for one of a better word – invasiveness and into communications networks in which legitimate targets coexisted with legitimately-protected communications.

PATRICK BERGY: Obama takes office and General Jones is being sworn in as National Security Advisor. His son, General Jones’s son copyrights “CKMS”, Congressional Knowledge Management System.

Within a couple months after he leaves office in 2010, Dynology gets contract for CKMS, the Congressional Knowledge Management System, which basically controls all of the scheduling, the addresses, the documents, everything for the Congress.

CKMS is going to give you access to unlimited information. Think about the information you could get from that.

MILLIE WEAVER: If we look on usspending.gov, we see Dynology was awarded contracts for the Congressional Knowledge Management System. However, one contract stands out, where Dynology was awarded a contract by the Department of Defense that includes a mention of the Congressional Knowledge Management System.

A closer look shows that the award description is for “CKMS Hosting Labor/Admin Core Data.” The primary place of performance is Germany and the North American Industry Classification description is “Data Processing, Hosting and Related Services,” even one section stating, “Manufacturing Outside the United States, Use Outside the United States.”

Let it sink in, that these official documents suggest the Congressional Knowledge Management System, outsourced to a private contractor is hosted, managed and stored in servers in Germany. This is very disturbing.

With the Senate’s computer network compromised by John Brennan’s CIA and the Congressional Knowledge Management System being hosted, managed and stored overseas by General Jones’s company, the ability for these contractors to eavesdrop on both the House and the Senate is staggering.

PATRICK BERGY: When I brought this up, back in 2018, shortly after that, Dynology lost the contract that they had had since 2011/2012 with CKMS and that contract went to another company, a company that exists as nothing more than a website and a maildrop, a mile or so from Dynology’s Tampa office – controlling the entire Congressional Knowledge Management!

TORE: And if you look at the contracting database, they’ll say that, “Oh, they have an American entity!” and it’s like, “But it’s the same CEOs for this Canadian Company, I’m so confused!”

So, they even falsify information, so they can obfuscate where our federal tax dollars are going. And don’t forget they all share contracts, they all subcontract, co-contract.

PATRICK BERGY: PSYGroup has the exact same product as Dynology, the Shadownet and Eyesight, right? Yet, the owner of Dynology sits on the board of directors of PSYGroup, which in my opinion, is kind of like the owner of Coke sitting on the board of directors of Pepsi.

TORE: TAC, CGI and all these LLCs, they just keep cycling and cycling all of them.

[VIDEO]

[CBS BROADCAST ABOUT OPM HACK]: The Social Security numbers of 19.7 million Americans subjected to federal background checks, as a condition of employment are now in the hands of hackers.

MILLIE WEAVER: In June 2015, the Office of Personnel Management announced a major data breach. Tell us about the OPM hack.

TORE: Okay, so that’s another Brennan job, another “hack”, supposed hack and this is to obtain, delete and obfuscate information.

Hillary Clinton was up on the shopping block about her emails at the State Department and that was coming up, that was big talk of the town in 2014.

Suddenly, the Office of Personnel Management was hacked. In December, down the line, five months later, Hillary Clinton appears in court and they tell her, “Hey, you’re gonna hand over your emails.” A couple days after that, the now-fired corrupt, leaking former IG of the State Department, [Steve A.] Linick had requested from our elected officials to give him a big fat budget to create his own personal IG of the State Department server.

MILLIE WEAVER: How convenient.

TORE: Very convenient.

[VIDEO]:

[ROLLCALL BROADCAST OF FOREIGN RELATIONS SUBCOMMITTEE] STATE

DEPT IG STEVE A. LINICK: Well, we have no evidence that our data has been compromised. The fact that the contents of our network may be accessed by large numbers of Department administrators puts us at unnecessary risk.

The IT folks at the Department have the keys to our IT system, so they really have access, unfettered access to the system. If they wanted to, they could read, modify, delete.

I would like to be completely separate from the Department, to ensure the integrity of our system but I also need the Department to give us access to the same systems, that we have now.

TORE: And he was responsible, in releasing her emails that he gave in little, little doses, of course, over time. But at the same time, the press came out with a report. “Oh dear, months ago, there was a leak!”

[VIDEO]:

[ROLLCALL BROADCAST OF FOREIGN RELATIONS SUBCOMMITTEE] SEN.

DAVID PERDUE (R-GA): Do you have evidence that the State Department’s network has been attacked? And does that affect you guys?

STATE DEPT IG STEVE A. LINICK: There, there, uh there has been, there’s, there’s evidence that it has been attacked and it has affected us. I can’t really go into details, uh because of the nature of the information.

TORE: For people that don’t know, the Office of Personnel Management usually has information on every single American that has applied for any type of clearance. So, if you applied for a White House Press Pass or joined the military or an admin job that could require something like a Public Charlie clearance – anything – all your information is there.

MILLIE WEAVER: What could they do with all that information?

TORE: Right. They started slowly creating these Memorandums of Understandings (MOUs) with your Secretaries of State and Attorneys General, secretly behind your back, providing facial recognition data, private identifying data, data, data.

This was the most incredible data, because if you want to control someone, all you need to do is put that information through a couple of systems and you’ll know exactly what buttons you need to push and how to make them nod their head the way you want them to or shake it.

[VIDEO]

[CBS BROADCAST ABOUT OPM HACK]: Millions of Americans have received letters like this, notifying them their data are at risk and referring them to a government-contracted credit monitoring agency.

MILLIE WEAVER: Does this correlate with predictive programming?

TORE: Yes.

MILLIE WEAVER: The merging of John Brennan’s tactical intelligence and General Jones’s operational capabilities gave birth to ClearForce.

PATRICK BERGY: iPSY was the relational database component of it. That’s what we named it – I named it, actually and –

MILLIE WEAVER: What did you name it “iPSY” for?

PATRICK BERGY: “I” like the iPhone, “PSY” for psychological warfare.

MILLIE WEAVER: Okay.

PATRICK BERGY: You have the component where you need to be able to collect all this information and then you need to be able to collaborate this information with a team of an unspecified amount of analysts and/or other legal people that will be looking at stuff and you need to be able to provide the leadership of a tactical operation; you need to be able to provide them what’s called a “COP”, a Common Operational Picture, right?

So, this provides people at the top Common Operational Picture of all the different assets. Assets can be journalists, it could be an entire news organization, it could be a podcast, it could be just an individual YouTube influencer.

It could be anybody like that and you would either build them from scratch or contract them out, just bring them online.

MILLIE WEAVER: According to Bergy, the 2012 changes to the Smith-Mundt Modernization Act of 2012 opened the floodgates for domestic IIA: Social media Influence Operations.

Do you think that some of these smart devices were created in order to gain access to the public by the military-industrial complex?

PATRICK BERGY: I know that the iPhone really was released within this – if not the same month of the IIA policy letter, right. I know for a fact – and you can easily look it up – that the Smith-Mundt Modernization Act was modified to allow for the influence, dissemination of propaganda to Americans, which had previously been restricted or prevented by the Smith-Mundt Act in the late ‘40s, when it was put in place.

When they modernized that, they took away those protections, allowing it to adapt for social media. And then, within a few months or just a very short period of time, they came out with the Obamaphone

[VIDEO]

[FOXNEWS BROADCAST]: Free cell phones to low income families. Tracfone has just started a program here, in the Volunteer State called SafeLink Wireless. More than 800,000 families here in Tennessee qualify for these phones. The company says this program is about providing a safe link for families no matter what their level of income is.

PATRICK BERGY: A very short time after that, they added free unlimited data plans to them.

MILLIE WEAVER: He also suggested that the contiguous release of the Obamaphone with an unlimited data plan played a significant role in fostering the Ferguson Riots, using IIA.

So why do you think they were targeting them for collection purpose?

PATRICK BERGY: We know – think of what you could do, right? Think of how easily you could start a riot in Cleveland, if you had the data? Oh, my goodness.

MILLIE WEAVER: So, you could gather that information and know how to psychologically-target them to get them upset or do you think that they were pushing information to them, tailoring their viewpoint on social media?

PATRICK BERGY: I would. And like I said, I didn’t really actually finish this, earlier but I originally, in 2014, I recognized the Black Lives Matter movement during the Michael Brown riots as being influenced by IIA.

The colleague of mine in South Korea did a trace route on it; trace routed the source of what I believe to have been IIA to Ukraine. That’s funny, right? Because Ukraine just always keeps popping up and whether or not it was actually the Shadownet, itself, or it was a competitor, like McChrystal…

What they accused McChrystal of having is the exact same thing as what we built before him. Maybe it was a competitor. Who knows? It’s becoming really a boutique market.

MILLIE WEAVER: Do you think that many of these social media companies like Twitter, Facebook, that they were created with IIA operations in mind and it was never intended to be a Free Speech platform? What’s your take on that?

PATRICK BERGY: In our Shadownet flyer, it has a screenshot of a South American social network site that was kind of like the predecessor for MySpace, owned by Google and I believe the name was Orkut.

You can actually look on our flyer and see a screenshot from that, which looks like an active engagement from South America. Now, if you look up what happened to Orkut, what was really Google’s first attempt, pre-MySpace, you’ll see that it was largely shutdown and largely contributed to an overwhelming use of fake personas. What was one of the reasons that they attributed to MySpace shutting down last year? Rampant fake personas.

At the same time I’m developing these flyers for a company that doesn’t have a sales staff – they only have a product – at the same time I’m doing that, our number one partner for a company that doesn’t have a product – that has only sales people – are working John McCain’s campaign, doing micro-targeted social media for John McCain’s campaign.

MILLIE WEAVER: You were speaking on news pundits and how many of the news pundits are IIA assets and intelligence assets. So tell us more about that.

PATRICK BERGY: Mika Brzezinski, her father is the father of influence operations and psychological warfare.

[VIDEO]

[TODAY SHOW BROADCAST]: A towering figure in American foreign policy, an extended member of the NBC news family, as well, Zbigniew Brzezinski, Jimmy Carter’s National Security Advisor…

PATRICK BERGY: Jillian Turner, Fox News host was also Vice President of Jones Group International, doing an interview with her old boss – and my old boss – now, why would I assume that they would be using anything other than the Shadownet, because the owner of the Shadownet has so many key assets. Why would he need to go to anybody else, right?

So they get their talking points from the analysts that are putting it together but then they disseminate those talking points, through non-attribution to their assets, throughout these news organizations, utilizing an application like the Shadownet.

Jillian Turner has a direct connection to Atlantic Council. General Jones was the Chairman of the Board of the Atlantic Council, JGI: Jones Group International is an oil lobby. Atlantic Council and Burisma has a relationship. Burisma is an energy company. Obviously, they have these connections.

MILLIE WEAVER: This would explain why Fox News focuses mostly on the Biden- Ukraine scandal, never mentioning Jones’s connections nor the Atlantic Council.

Trump focusing on Ukraine isn’t just about Biden. It’s about Jones, Hayden, Brennan, McChrystal, the State Department, USAID and corrupt inspector generals.

With everything in place and after being in control of the office of the presidency for decades, the Military-Industrial Complex had confidence they could take Trump out as a candidate, or even as President.

Has IIA been used against President Trump?

PATRICK BERGY: Absolutely. Through the Russian Dossier, there are so many people, former colleagues of mine, directly connected to the Shadownet.

John McCain and Lindsey Graham. One of the last two people to have their hands on the Russian Dossier before it was handed off to BuzzFeed, as part of the dissemination process.

[VIDEO]

[CNN BROADCAST: GRAHAM DEFENDS MCCAIN OVER STEELE DOSSIER] DON

LEMON: I told the President it was not John McCain. I know, because John McCain showed me the dossier.

PATRICK BERGY: It was built, it was a product, it was used as a weapon, as part of an influence operation. It was fake information put into it to help create chaos and to influence an election, bottom line.

But those people that were directly involved with that were also directly involved with the Shadownet.

MILLIE WEAVER: So, you have knowledge of them using military-grade psychological warfare weapons on the President of the United States.

TORE: Done by the closest people around him, too.

PATRICK BERGY: As Trump’s election unfolded, and as all of the Russia Collusion and all these things started happening and becoming exposed, revealed to me it was to keep from exposing the stuff they’ve been doing over here, which I believe includes the Maidan Massacre in Ukraine.

TORE: Where did the Dossier come from? Nelly Ohr testified it came from Ukraine. Where’s all the money-laundering and crazy IIAs we see going on? Ukraine.

PATRICK BERGY: So Manafort’s being accused of social media influence operations in Ukraine, in 2010. World courts charged him with that.

TORE: Ukraine was the epicenter of everything – like, everything – and that’s because we had maimed that nation and made them deal to us. Barack Hussein Obama did it.

We deployed troops, National Guard, of course – and what states are the ones that work with Ukraine? it would be California and New York.

So, we deployed troops there, because they weren’t listening. Why would you want to stay independent and hang out with the Russians, when you can be with us, the Americans and the Europeans?

And they were really upset that they weren’t willing to commit to receive debt from the EU and ignore Russia, which they had been attached to for eons.

So, we went in there and destroyed them. That’s how Hunter Biden got his job. That’s how we weaseled our way in there. We got a hold of corrupt people, we said, “We’ll help you out with your lawsuits, you get us in there.” We wrote bills, we sent the money, so we can “help” them conduct elections. We did everything there.

MILLIE WEAVER: The Obama aid package in Ukraine, which corresponds with Joe Biden’s billion- dollar loan guarantee scandal is the same aid package, where Scytl got a field office in Kiev to provide “election training” and “election management” for the Ukrainian Election Commission.

Scytl is one of the most notorious outsourced companies for elections, with regular electronic voting machine problems, who also tabulate our election results in cloud services in Europe – aka, servers outside the United States.

A whistleblower leaked to me in 2019, internal documents from Scytl that appeared to show meddling in the Kentucky election.

PATRICK BERGY: Atlantic Council has been deciding America’s policies for decades now – and look at what a panic they were in when Trump made that phone call to Ukraine!

They went into absolute panic mode! 75% of the people testifying were all directly connected to General Jones, McCain and Atlantic Council.

TORE: The now-IG of the NSA, literally with his wife, created the National Anti- Corruption Bureau in the Ukraine in 2009. They created it.

[VIDEO]

[UKRAINIAN BROADCAST]: Robert Storch is the Deputy Head of the US Inspector General’s Office.

ROBERT STORCH: I recognize how important this task is for NABU and for the effort to address corruption there, in Ukraine.

MILLIE WEAVER: September 30th, 2016, Obama knows that within 30 days, if the NSA can’t fix the over-collection problem, by either dumping data or justifying having it, the FISA Court will order the IG of the NSA to investigate.

So what does Obama do? He writes an Executive Order that makes the IG of the NSA a Presidential Appointment, rather than an appointment by the Director of the NSA.

November 30th, 2016, Obama nominates Robert Storch, who was working as Deputy IG of the DOJ under Horowitz, at the same time.

[VIDEO]

[OFFICIAL VIDEOS OF BOTH THE DEPARTMENT OF JUSTICE AND NSA PLAYING SIMULTANEOUSLY] ROBERT STORCH: I’m Rob Storch and I’m

honored  to   serve  as  the   Inspector  General               at   the     Department           of

Justice/National Security Agency.

MILLIE WEAVER: During the transition period from the Obama Administration into the Trump Administration.

Storch appears to never have actually been confirmed by the Trump Administration.

TORE: How did this guy get confirmed? Not one person asked, “Hey, have you ever worked for – ?” I mean, a couple months before they even had the hearing, to see if he’s going to be confirmed or not? Nobody asked him, “Hey, did you, by any chance get an offer from the President of Ukraine to work for them?” It was all over the media – but not one person asked!

You know who else helped them set it up? Bill Taylor and George Kent. Those two clowns also testified against the President. One of them has supersonic hearing; they could hear phones that are not on speakerphone from across the room.

MILLIE WEAVER: That’s odd!

According to TORE, the alleged impeachment whistleblower was actually a wiretap, hence “supersonic hearing capabilities”.

Eric Ciaramella was a decoy to hide the fact that the President was being wiretapped, through a 702 data over-collection problem connected to the sunset clause. A collection problem that the NSA Inspector General, Robert Storch oversaw.

TORE: The question is, what has been the Senate Intelligence Committee all complacent, every single one of them? Because it’s their job to be our voice and ask those questions? It’s because they’re in on it.

MILLIE WEAVER: So, I the question is, are they all just that inept or is there something else going on?

Section 702 of the FISA Amendment Act of 2008 was created to stop illegal surveillance through data collection. It ends up being used as cover, providing the intelligence agencies front-facing legal access to unauthorized data, while turning a blind eye to private contractors having backdoor access to all data.

TORE: I had access, through the administrative side platform, because I was one of the first on it, to be able to see all communications between people, like Adam Schiff, Brennan, Feinstein’s staffers and General Jones – and many more that I don’t want to say, because I haven’t publicized that, yet, actually. Because there’s foreign people that I did see communications of – former GCHQ’s Hannigan.

Robert Hannigan was part of the company at GSG. So I gave most of this information to Millie Weaver and she put out a report and even though I had legal access to all their communications, because I had my username and password, the minute she did that report, within just – I believe, almost instantaneously, the website was taken down and my access was revoked. They changed it – well, it wasn’t revoked – they just uphauled the whole server. It was done, it was finished. They made it toast. I mean, that’s what they do.

But nothing ever really dies, really because the way they use their servers is by torrents, so all their information is hidden somewhere across the planet. Maybe we should look at some old articles that I put out on “Hurricane Electric” to find those servers and those little bits and seed them correctly.

So, you’d be able to seed it with something like Keystone.

MILLIE WEAVER: I want to ask you about John Brennan and the blackmail. So, who all did he have blackmail collected on? Any politicians?

TORE: You mean, that I’ve seen?

MILLIE WEAVER: Yes.

TORE: A lot of people, yes. MILLIE WEAVER: And politicians? TORE: Yes.

MILLIE WEAVER: So, would you say there’s any side – more Democrats or more Republican – or is it kind of even?

TORE: Very even-steven.

MILLIE WEAVER: Okay, so once this blackmail was collected on politicians, what did they do with it?

TORE: Even Pelosi doesn’t know what they have on her. Neither does Blumenthal. Mobody. I can keep going down –

MILLIE WEAVER: But do they know that these people have blackmail on them?

TORE: Only if they’ve butted heads.

MILLIE WEAVER: Okay.

TORE: So, we saw a butting of heads between Murkowski, was it and Feinstein, right? That’s a butting of heads. That’s where it’s like, “Hey, we got this.” You know, where she put her up against the wall? Happens all the time.

MILLIE WEAVER: Now you know how our government has been compromised: 24/7 surveillance mixed with blackmail.

What’s the significance of Cambridge Analytica being attached to Trump’s campaign?

PATRICK BERGY: Everything that I saw, with the description of how Cambridge Analytica functioned; what they did, their app, the computer applications, everything that I saw with that, I would describe as just a later iteration of the Shadownet.

MILLIE WEAVER: Was Cambridge Analytica, to your knowledge an IIA operation?

TORE: Yes, it was and I believe that it was so blatant, because it was piloted at the same time that the RNC and the DNC were hacked. It was all formulated correctly.

[VIDEO]

[THE GREAT HACK, NETFLIX DOCUMENTARY] MALE CHARACTER: I have said

to you, it’s all coming out!

BRITTANY KAISER: I didn’t inspire Hillary’s emails and I have nothing to do with Russia. So yes, the fact is, it looks like I did both. If I wasn’t me, I would say, “Yes, that’s what it looks like!”

I was part of the team running Obama’s Facebook. We invented the way social media is used to communicate with voters.

TORE: This is how they were going to do it. They were supposed to go in, they were supposed to sway him, because they were supposed to give up the goods to match the Russia hack.

MILLIE WEAVER: Why would they be running an IIA operation that would be helping Trump win, because that doesn’t make sense, when we know that General Jones is a Democrat and many of these people don’t like Trump. So what gives?

TORE: Well, because then, we just make it look like Russia was running the Cambridge Analytica program, too.

[VIDEO]

[THE GREAT HACK, NETFLIX DOCUMENTARY] BRITTANY KAISER: And it

admits to it, right here.

I am headed to Washington, DC for my testimony for the Mueller Investigation. I definitely didn’t think that while we’re sitting there, counting votes, that some of those votes were made by people who had seen Fake News stories, paid for by Russia on their Facebook page.

TORE: So, not only did they hack the DNC and the RNC – but nobody talks about that, right – because we’re only supposed to focus that Russia was hacking just the DNC, not the RNC – we keep forgetting about that, because it was just information Brennan was getting. They wanted to get access to servers. That’s the way it goes.

Anyway, Cambridge Analytica, at the same time, would be supposedly helping President Trump win and the Russia Collusion Hoax would have stuck better, because behind all those LLCs and the glitz and glamour, they would have had some statue of Vladimir Putin in a tutu waiting for you.

[VIDEO]

[THE GREAT HACK, NETFLIX DOCUMENTARY] BRITTANY KAISER: Yeah, I

worked at Cambridge Analytica while they had Facebook datasets, went to Russia one time while I worked for Cambridge, I visited Julian Assange while I worked for Cambridge, pitched the Trump campaign and wrote the first contract.

I have an email from one of our senior data scientists that said that we were actually using Facebook-like data in our model. The methodology was considered a weapon; weapons-grade communications tactics.

“Well done, Britt looked quite tough and you did okay with a winky face, little emoji.

[VIDEO]

[MSNBC BROADCAST] RACHEL MADDOW: We found out that Cambridge Analytica reached out to WikiLeaks and said, “Hey, can we help?” What that means is we’ve got a Russian intelligence operation underway to illegally influence the US election in Trump’s favor and we’ve got the data firm paid by the Trump campaign offering operational help to that effort.

[VIDEO]

[ABC BROADCAST] GEORGE STEPHANOPOULOS: Are there any ties between Mr. Trump, you or your campaign and Putin and his regime?

PAUL MANAFORT: No, there are not. It’s absurd and you know, there’s no base to it.

MILLIE WEAVER: Cambridge Analytica was used to create the appearance that Russia conducted influence operations to help Trump win the 2016 election.

PATRICK BERGY: Stone, Manafort, Davis, McCain, Jones, all of these people have been doing this for, to my knowledge, a decade of my personal, fact-witness knowledge. They’d been doing this for a decade prior to Trump even running for office.

I met with Roger Stone. We were at his table at a speaking engagement that he did in Clearwater, Florida and I asked Roger Stone at that time, “Did you work with, do you know Jim Jones? Did you work with Dynology?” and he acknowledged his relationship and he said, “Yeah, sure.”

I asked him flat-out, I said, “Did you use the Shadownet? Did you know about it?” He’s like, “No.”

MILLIE WEAVER: Stone leaving the Trump campaign early on suggests candidate Trump didn’t want his campaign tied to Stone’s influence operations.

[VIDEO]

[THE GREAT HACK, NETFLIX DOCUMENTARY] ROGER STONE: We really

pioneered negative campaign advertising.

MILLIE WEAVER: Stone does have a reputation for political dirty tricks and influence operations

ROGER STONE: I revel in your hatred because if I weren’t effective, you wouldn’t hate me.

TORE: Manafort and Roger Stone go way back, like from the ‘80s. Come on, these people have been through everything together and this is why they targeted them and this is why they went on Manafort for things that were, like ancient. it’s like, Man, not even a statute of limitations, not anything. Come on, Man. Seriously? Nope.

PATRICK BERGY: PSYGroup and WikiStrats, absolutely connected to the Shadownet, through the owners of the Shadownet, through the fact that, PSYGroup, through Paul Manafort submitted a proposal to the Trump campaign. Now, Trump’s campaign rejected the proposal. I love that man, right? That’s why I keep voting for him, because even when he’s given the opportunity to do that, he rejected it.

MILLIE WEAVER: The Trump campaign must have known the Dems would try to use anything against them. Trump must have sensed that the offer for influence operations was a honey trap to set him up.

Well, do you think that the reason they attached Manafort to Trump’s campaign

– because that was kind of later, right – attached them onto there. Do you think it’s because they were trying to frame up trump?

TORE: Yes, because they failed with their IIA attempt.

PATRICK BERGY: Yeah, I definitely would say that Manafort was an asset, whether or not he fully understood what his role was, you know. They might have lied to him about what their true intentions were. I believe they fully intended to throw him under the bus.

Because two things had to happen. They could not let Hillary win and they could not let Trump keep his seat, right? So, they were trying to kill two birds with one stone, using Manafort to make sure that Hillary doesn’t win, through IIA, through WikiStrat, through his connections, there.

And then those same people, turning around throwing him under the bus, by somebody who had previously worked with Manafort and understood what he had been doing and what he was doing and used that to exploit him, as a way to hurt Trump.

TORE: Since their whole attempt to have him employ a company to help him win and use these psychological operations that the Left was using, I mean, “They’re doing it, we should do it!” – and he didn’t.

PATRICK BERGY: And that’s in the Mueller Report. That’s in The New York Times. There are several instances, where he’s rejected the opportunity to take advantage of influence operations, be it IIA-supported or just your standard run- of-the-mill influence operations, right? They’ve rejected that

TORE: And the thing is, people like Roger Stone aren’t saints but they’re not demons, either. They skirt the outs and they’re great at what they do and you know, you either love him or not. It’s like Brie cheese.

But the one thing that you can be sure of is that he sticks to his principles and if he’s your friend – especially if he’s been your friend for 40 years, like he was with president Trump – there’s no way he’s going to flip on you to save his butt, ever. Because that’s what honest people do

MILLIE WEAVER: Yeah, he seems to know how the games in the swamp are played.

TORE: Oh yeah.

MILLIE WEAVER: So, I mean, he knows how they operate.

TORE: He was actually framed by people that he worked with. I mean, that software was created by his friend that created the MagicWheel software – implemented Shadownet for the courts – so they can randomly have such specified – out of millions of people that were in the [jury] pool, they were all intelligence contractors and Never-Trumpers. Come on!

MILLIE WEAVER: So, why wouldn’t they just focus their efforts on running IIA operations to get Hillary in office?

TORE: Oh, they did! Are you kidding? They deployed everything, from censoring, shadow-banning, to dismissals to full-blown Mockingbirds. I mean, that’s where we saw the real face of the press. That is exactly where we saw it.

[VIDEO]

[PRISON PLANET BROADCAST OF CLINTON RALLY] HILLARY CLINTON: I

want all of you to know that that’s true, not only for the campaign but if I am fortunate enough to be your President, I want you to know and I want you to tell anybody you know; any friends or colleagues at school or work or your neighborhood, whether you vote for me or vote against me.

TORE: The polls’ “98% chance Hillary Clinton wins?” Like, what?

MILLIE WEAVER: Those were bogus!

TORE: That was an IIA! That was hijacking reality, to think she’s already won so obviously, she’s the best. All the superstars coming out, how she’s amazing, all these concerts – and all to divert you away from the fact that she couldn’t walk, talk, climb stairs, say a word without chucking-up

[VIDEO]

[ALEX JONES YOUTUBE CHANNEL] MILLIE WEAVER: Hillary Clinton is on

stage right now, as we speak and she is coughing non-stop.

TORE: Did she like chuck-up a lung or something that one day? That was super weird

PATRICK BERGY: There is a definitely some context that needs to be understood in the relationship between General Jones, Obama and Hillary Clinton.

General Jones was originally offered by Obama the position of Secretary of State. He accepted. He talked to his family, he accepted. And then two days later, without even telling him, which was kind of a jerk move to do, Obama turned around and tapped Hillary Clinton.

And I know that Jones – Jim Jones told me that his dad was really offended by that. And then, he was offered and accepted the role the position of National Security Advisor but actually, considered turning it down, because he was so offended by and was so upset by what had happened.

MILLIE WEAVER: What would be the point of taking Hillary out of the equation, to then get Trump in, to then want to just impeach him?

PATRICK BERGY: Well, because he wasn’t their choice. These people hate Trump.

[VIDEO]

[CNN BROADCAST] LINDSEY GRAHAM: He’s a jackass.

PATRICK BERGY: We’re talking about, at the time –

MILLIE WEAVER: That would just make Pence in charge.

PATRICK BERGY: Well, do you think John McCain would have rather had Pence in charge? You think Lindsey Graham would rather have Pence? Lindsey Graham was

so frustrated with Trump, he took his phone and smashed it on YouTube, because Trump gave out his phone number. Trump drove that man crazy.

MILLIE WEAVER: Trump got in the way of the Big Game, a contest between contractors and subcontractors over who gets first dibs on defense, security and tech contracts.

[AUDIO]

[RED STATE RADIO TORE SAYS SHOW] TORE: Mueller, since I think it was August of 2016 was well aware that I had in my possessions portions of the DNC mirrored server in February and March, did you know that?

ROGER STONE: No, I did not.

TORE: And when my private life was collapsing, the same exact day – not without a minute of separation – I was served by Barack Hussein Obama’s attorney, three years later to come and talk about it. Did you know that?

ROGER STONE: I did not know that, either.

TORE: They went as hard as they could. Stone, the same thing. They went with nothing, look, Mueller called him in for these emails and talking about WikiLeaks

– when I had actual portions of the DNC server, like even Mueller knew I had it.

PATRICK BERGY: Why did Mueller never call me back? When I went to him and told him about all this information and spoke to him for 15 minutes? Every one of these people are so corrupt. It’s not even funny.

TORE: The Swamp already knew, in August of 2016 that the information was compromised by people and they knew what type of people had accessed that information but they didn’t know who.

PATRICK BERGY: Some people will say, “Well, maybe they’re investigating.” Well, how can you investigate it, if you don’t ever call me back? And you don’t ever

really – because, there’s a lot of things that I need to be able to explain to them that I can’t say, outside of a classified environment.

So if they are investigating it, they certainly aren’t doing it with all the information.

TORE: Stop, stop, stop. We all know it was a fix!

MILLIE WEAVER: Did the DOJ outsource the Mueller Investigation to CGI?

TORE: Well, yes they did. So, I’ll tell you what happened. I actually, for my listeners on air, I interviewed former Acting Attorney General Whitaker.

[AUDIO]

[RED STATE RADIO TORE SAYS SHOW] TORE: I want to ask you something. You were Chief of Staff for Jeff Sessions, so there’s obviously contracts that are signed, like you know how you hire vendors?

I wanted to know why, during the Mueller probe, we spent over $40 million in waste management to a Canadian company that works with Canadian intelligence? Sounds like paper shredding.

FORMER ACTING AG MATTHEW WHITAKER: Yeah, this is the thing, we need watchdogs and something I did before I came to Washington, DC was run a watchdog group that asked these types of questions and to make sure that that there’s not waste, fraud, abuse.

TORE: So, why is our Department of Justice outsourcing to Canadian intelligence companies access to the Mueller Investigation?

MILLIE WEAVER: That definitely seems improper. Now, this Canadian company, how much were they paying? And were they paying them with tax dollars?

TORE: We have to ask ourselves why would we use federal tax dollars and upwards of $40 million to have them do paper shredding for Mueller and administrative tasks and emptying garbage cans? That sounds like a leaking opportunity! That sounds like, why are we getting foreign nationals involved in an investigation, that we’re supposedly investigating the President – the sitting President of the United States?

MILLIE WEAVER: From CGI’s involvement in the passport fiasco in 2008 to CGI involved in the Mueller Investigation we see how contractors have the ability to both perform and clean up their own dirty work.

TORE: I think it’s about time people understand what happened and I made it no secret that I know what happened.

So, Seth Rich worked for the DNC. He was asked, just like I, he was asked, “Hey, why don’t you go image the DNC server, right there, since you’re there for us, so we can keep it safe.” And he did so.

And he uploaded it where he was told. So, he uploaded it where he was supposed to. And there were a lot of “mes” that saw it, “mes” meaning a group of friends that I have, where we sit and talk String Theory and Predictive Analytics on the Undernet.

So, we find this and it’s like, “Whoa! Treasure trove!” Copied. And we fractioned it, so that way we can download it, because it was so massive. And that’s what happened.

So I’ll tell you what happened to Seth Rich. So, he did his job, as he was asked at the same time the RNC was also hacked. Again, Brennan’s MO. “Let’s hack!” And the hack was done on purpose, so you can delete information, insert information and of course, with them putting Cambridge Analytica and sending them over to President Trump – which was a trap, okay – that was a trap um you clearly can see.

They hacked the RNC – you mean, you had someone within the GOP do it for you, because no one died there. And yes, some of those emails escaped, because that is what was considered “mitigation”. You have to give them something really bad.

And so, when he saw that they had retroactively changed things; the stories and the rumors going in, seeing the Bernie Sanders elections were being stolen, the DNC was all about Hillary, not about real elections, that it was all rigged, he came in contact with a guy named Sean Lucas.

[VIDEO]

[OAN BROADCAST] SEAN LUCAS: We did make contact with somebody from the democratic national committee’s office and they’ve been served. Democracy has prevailed today.

TORE: So, they decided, oh yeah, maybe we can get it out to someone else. And it was not to Julian Assange, direct. And both of those guys are dead.

[VIDEO]

[OAN BROADCAST]: But in a bizarre twist of events on August 2nd less than one month after serving the subpoena, Lucas was reported dead.

TORE: Hillary’s emails were still being examined. They had to get rid of the evidence. And the only way that they can access the whole DNC server is if there was a breach and that’s how you can go in and change things.

This is why the FBI never asked for the server. That’s the real story. So, as Seth Rich thought, that what he was doing was correct, later on, he realized it was not. That’s why there was such a big gap. They didn’t need to find him, they needed to find out who had it and they already knew that I, myself had portions of the DNC server and others, in March and February.

Obama’s lawyer, for Seth Rich, three years later says, “You need to come and tell us about Seth Rich.”

I was like, “I don’t need to do anything. I don’t know who you’re trying to -” “You’re being subpoenaed!”

“I can’t bring you anything because you’re three years too late.”

And for the record, usually, they’re going to be three minutes too late. You know, Hillary doesn’t have a patent on hammers or city dumps or Bleach Bit or, or, or…

MILLIE WEAVER: Didn’t CrowdStrike initially investigate the DNC server, creating the whole “Russia hacked the election” scenario?

[VIDEO]

[CNN BROADCAST. “TRUMP SLAMS ‘RIDICULOUS US INTEL ON RUSSIAN

HACKING’”] DMITRI ALPEROVITCH: When the DNC hired us back in May, we actually came in and deployed our technology, called Falcon on all the systems inside that corporate network.

WOLF BLITZER: Who were these people that were actually doing the hacking of the DNC?

DMITRI ALPEROVITCH: There were two groups; two independently-working groups that we associate with Russian intelligence agencies. One of them was associated with GRU, the primary military intelligence agency in Russia.

PATRICK BERGY: CrowdStrike, owned by that Alperovitch guy, who is a Senior Advisor on the Atlantic Council!

When President Trump called up the Ukrainian President, what did he ask him for? The CrowdStrike servers, right? Again, all immediate, direct colleagues, like the brown bag lunch at this big star chamber that you can imagine existing there!

[VIDEO]

[DR. STRANGELOVE (1964)] PETER SELLERS: I’m sorry, Mr. President.

PATRICK BERGY: They’re all there! What can we do? Orange Man Bad! What are the statistical odds, of that Six Degrees of Kevin Bacon existing on virtually everybody connected to the Russian Dossier and the impeachment? The only other person that directly connected to both of them is President Trump – and he’s on the receiving end of it!

But yet you never hear this man’s name.

TORE: General Jones. That’s the guy that heads up ClearForce. That’s the guy that took Shadownet and made it what it is. That’s the guy that resold, reinvented Shadownet, to create the MagicWheel at the DC courts, to make sure that they get the most compromised juries put together for anyone that they didn’t want.

PATRICK BERGY: When General Jones was tapped as the Chairman of the Board of the Atlantic Council to replace Jon Huntsman, one of the first orders of business that he did with the Atlantic Council was to create a partnership with Facebook.

That happened a month after Mark Zuckerberg sat in front of Congress.

[VIDEO]

[C-SPAN BROADCAST OF SENATE JUDICIARY & COMMERCE COMMITTEES

JOINT HEARING] MARK ZUCKERBERG: I mean, they did not want their information to be sold to Cambridge Analytica by a developer and that happened. And it happened on our watch. So even though we didn’t do it, I think we have a responsibility to be able to prevent that and be able to take action sooner.

PATRICK BERGY: So, a month after they do that, Facebook partners with General Jones at the Atlantic Council to “restore election integrity worldwide”, right? So,

the best out of 7 billion people on the planet, Mark Zuckerberg picks the owner of the Shadownet.

[VIDEO]

[UNKNOWN BROADCAST]: President Donald Trump and Mike Pence both ran ads on Facebook that included a symbol of an upside down red triangle. Facebook today removed the ads.

[CBS THIS MORNING BROADCAST]: Facebook has taken action against what it calls “harmful misinformation” from President Trump. The company deleted a post by the President that included a false statement.

PATRICK BERGY: To “restore election integrity worldwide”. We all know that he was connected – directly-connected – to Cambridge Analytica, through PSYGroup and WikiStrat. So, essentially, what they did was they partnered with Cambridge Analytica, again.

MILLIE WEAVER: This also explains why Facebook went to Atlantic Council, aka Jones to fix the Cambridge Analytica problem. They needed to cover their IIA tracks.

What you’ve seen, with the recent riots surrounding George Floyd’s death, from your perspective, does that look like an IIA operation?

PATRICK BERGY: Absolutely. Nothing feels natural about what’s going on. More stuff is fake and fabricated, right now in the news than what’s actually real. When I say fake or fabricated, I mean like you have the truth and it’s being represented to you with a very specific slant. It’s so far beyond Russia spending some money on some Facebook ads, right? If you believe that, then they’ve already won.

TORE: So, that’s how it works.

MILLIE WEAVER: It’s like the movie, ‘Wag the Dog’, quite literally.

TORE: Well, you know, movies tell a lot of stories and it’s almost as if they’re making fun of us.

MILLIE WEAVER: They made fun of Alex Jones when he used to point out all these False Flags. I mean, I guess that’s just a term he was using, but if you actually look, what he was pointing out in a lot of instances was IIA operations.

[VIDEO]

[BBC BROADCAST ON 9/11. REPORTER DESCRIBES WTC 7 COLLAPSE 23

MINS BEFORE IT HAPPENED] MALE ANCHOR: Jane, what more can you tell us about the Salomon Brothers building and its collapse?

JANE: As you can see behind me, the Trade Center appears to be still burning we are getting information now that one of the other buildings, Building 7 in the World Trade Center complex is on fire and has either collapsed or is collapsing.

TORE: Well, but he didn’t know the term IIA, so it would be easier for people to understand someone’s “hacking your reality”, because now, in this day and age of computing, that makes more sense to people. They understand it more. “Oh, ‘hack my reality’! You mean, change the way I see things?”

And that is exactly what an IIA is. It’s just that it’s software churning out, “Oh, you need to do this, to get this outcome,” Kind of like using that Shadownet in the DC courts and saying, “Oh, Prosecutor, you want him to go to jail and you want a guilty verdict? Well, we’re going to have to pool it out. And then, when a pool of jury people come, all of them are potential to give you a guilty verdict.

So then, you pick from all the people that will give you a guilty verdict, so there’s no chance that you’ll win – and even Matt Whitaker said that on my on my show. He said the judges are corrupt.

MILLIE WEAVER: That’s a major problem for the justice system, if people are able to use that technology in jury selection to be able to predict who’s gonna you know throw their vote a certain way

TORE: Is anyone stopping them?

MILLIE WEAVER: That’s a major problem right there.

TORE: It is and roger stone with this commutation will solve it because this is where it all comes to the surface.

[AUDIO]

[RED STATE RADIO ‘TORE SAYS’ SHOW APRIL 22, 2020] TORE: How do you

think your jury pool was selected?

ROGER STONE: Well obviously, I don’t know. I do know that, based on the statistics on the District of Columbia, that is that the statistical improbability of my jury having a single Republican should be impossible. The statistical impossibility of my jury having a single military veteran should be impossible. The statistical possibility of my jury having no jurors with less than a college education is impossible. But that was the case.

TORE: Well, what if I told you, Roger that your jury was actually selected. The jury pooled the grander jury pool right before the voidier, they say where you select and approve and deny – the majority of it was actually plugged into a program – but see this program wanted to select a jury pool that would get you a guilty verdict, no matter what.

Hence the odds, like you say are so far-fetched. So the question is, who was the company who was the vendor that was used to select your greater pool for the jury? And if your lawyer was to able to able to find that or ask that question, I would not be surprised if you see the name General Hayden pop up.

ROGER STONE: I do think it might strengthen the possibility of my appeal it, should that become necessary. I will never plead guilty to something I didn’t do. It’s a matter that does require some research and I appreciate you bringing it up.

MILLIE WEAVER: It’s amazing. It’s like ‘Minority Report’ in real time, today.

PATRICK BERGY: ClearForce is what they built. It’s the next iteration of the Shadownet. They took the cycle, they took the profile, personas and profile capabilities, they added real-time criminal background, travel, financial, medical, added all these things in, to create predictive behavioral profiles that determine whether or not you’re likely to steal or leak.

ClearForce actually sells this to HR, right? So, you could actually go into a job, apply for it, not get the job, because an application with an algorithm designed by Obama’s National Security Advisor and/or Obama’s CIA Director determined that you were predictively likely to steal or leak, in some ‘Minority Report’-like fashion – and you may never, ever steal or leak but you might lose a job, because something read all your posts and looked at your information and determined it.

KORE: Think about it. If people knew just how bad it is. Think about how many things he’s changing and how much money they’re taking. I mean, think of all the money they’re going to lose in contracting. He’s stopped the clearances.

Remember, “once you’re out now we pull your clearance”? He did that. Remember? So now, all the future generals or all the future intelligence community persons don’t get to use their clearance. If you’re out, it’s finished.

PATRICK BERGY: You guys were paying me, as taxpayers were paying me, as the Information Assurance Security Officer, to protect our National Security. So y’all should want to get to the bottom of this as much as anybody, as much as I do.

But it’s very personal to me, I won’t deny that.

TORE: When you have your [Joint Chiefs of Staff – General Dunford?] trying to usurp your president by penning in an anonymous letter to the New York Times, that’s a big problem.

MILLIE WEAVER: This is the biggest and boldest move towards the ultimate surveillance state ever made and it’s near completion.

Micromanaging this technology on a global scale would require integrating it with Artificial Intelligence. Imagine Artificial Intelligence autonomously operating the Shadownet and ClearForce.

Interpol’s 2019 publication, ‘Artificial Intelligence and Robotics for Law Enforcement’ reveals we are already there:

“Although films such as ‘Minority Report’ and ‘Robocop’ may not present the most attractive depiction of the future of advanced technologies in law enforcement, understanding how these technologies can be applied by law enforcement agencies for the safety and security of our global community is of critical importance.

[VIDEO]

[NBC BROADCAST OF POLICE DRONE]: Keep a safe distance of six feet from others.

MILLIE WEAVER: Short from a major PR rollout, there is an international push for autonomous law enforcement to remove the human factor. Several features of the Interpol program indicate that they are using an iteration of Shadownet and ClearForce technology. This March 2017 United States Patent issued to Jim Jones III and ClearForce spells it out:

“Systems and methods for electronically monitoring humans to determine potential risk.” Several diagrams in this patent look identical to the dashboard layout of the Shadownet the patent mentions integration with US and international databases, local law enforcement and individual state databases, all

fed into international justice and public safety networks. Full integration of all data including the Internet of Things is the objective.

A March 2020 Atlantic Council policy primer, ‘AI, Society and Governance’ references the 2019 Interpol publication, stating “The United Nations Inter- Regional Crime and Justice Research Institute and the International Criminal Police Organization are leading the conversation on autonomous patrol robots, tracking and tracing systems, forecasting tools predictive policing and more.”

The next iteration of the Shadownet and ClearForce is ready to go. Integration with AI robots and the replacement of traditional law enforcement is just around the corner. Given that Leftist organizations managed by Momentum, which is behind the “Defund the Police” movement and given that Momentum has been connected to IIA operations, the case can be made that Jones & CO. are running the “Defund the Police” influence operation, simply because they are in a position to benefit, by offering an alternative solution that is already in line with the Green New Deal agenda.

We’ve already seen some of this rolled out, with the technocratic response to COVID19, with autonomous drones, contact tracing apps, nanotech vaccines and predictive modeling for social distancing and economic shutdowns.

Furthermore, this technology is behind the push for police abolition, defunding law enforcement and replacing it with “Smart Justice”, given we have seen IIA Shadownet technology, implemented by the Socialist Democrats and THE Sunrise Movement, who are using it to push for police abolition, this political movement is deeply connected to the UN who has partnered with Interpol to corral us into the Artificial Intelligence and Robotics for Law Enforcement direction.

07-15-2020- Meet the New Black Press

07-15-2020- Meet the New Black Press

Meet the New Black Press

How nimble, mission-driven outlets and a citizen-focused initiative are telling stories about — and for — Black communities

Tiffany Walden (left) and Morgan Elise Johnson co-founded The TRiiBE to reshape the narrative being told about Chicago's Black communities

Tiffany Walden (left) and Morgan Elise Johnson co-founded The TRiiBE to reshape the narrative being told about Chicago’s Black communities Chantal Redmond/The TRiiBE

The TMZ headline “1,000 People Attend Chicago House Party During Coronavirus Pandemic” was worrisome to Tiffany Walden, editor-in-chief of The TRiiBE, a digital outlet that aims to reshape the narrative about Black Chicago. She was already following social media comments on a viral Facebook video posted on April 25 showing a jam-packed party in a West Side Chicago residence. Like many Chicagoans stuck at home during Mayor Lori Lightfoot’s meme-worthy lockdown order, Walden had questions.

So did traditional media outlets that followed up on the TMZ release.

The Chicago Tribune was interested in what Illinois Governor Pritzker had to say. An April 26 headline read: “Video of crowded party said to be in Chicago prompts Gov. Pritzker to warn social distance violators: ‘You’re putting everyone around you in danger.’”

An April 27 NBC 5 online story was labeled “WEST SIDE: Homeowner Cited After Massive Party Held at Residence on Chicago’s West Side, Police Say.” The broadcast reported on a “party house crackdown.”

The Chicago Sun-Times April 29 headline read: “Party shut down by cops was held in townhome owned by CFD commander,” referring to the Chicago Fire Department.

“I had this feeling that TMZ was doing this very sensational, stereotypical, and dangerous narrative around Black people in Chicago,” Walden says. “I had to figure out what was going on because I know there aren’t many homes in Chicago where a thousand people can fit in them.”

Related Reading

Timeline: Milestones of the Black Press in the U.S.

Making Black Lives Matter in the News

By Susan Smith Richardson

Walden, who is Black, grew up in a low-income area of the city’s West Side. Even within the Black community, “West Side” is code for a certain kind of Black experience — low-income — when compared with the middle-class Black experience of people living on, say, Chicago’s South Side, according to Walden.

Walden reached out to freelance writer Vee L. Harrison to dig into this disturbing tale of failure to social distance at a time when African Americans nationally were suffering disproportionately from the coronavirus. The TRiiBE would do one thing none of the other outlets would initially do: Talk to someone who was there.

While traditional media outlets pointed fingers at the Black partygoers, Harrison talked to the woman, Tink Purcell, a mother of two, who made the video. She found out that the partygoers were memorializing friends who had died as a result of gun violence in 2018. The “aha” moment of the story was when Purcell and others said they did not perceive the coronavirus to be as dangerous as it is. The story quotes MTV host Dometi Pongo saying news media weren’t connecting with young, Black Chicagoans.

houseparty screenshot

Though many outlets reported on a giant house party that happened on Chicago’s West Side during the coronavirus pandemic, The TRiiBE was initially the only one to talk to people who were actually there Tink Purcell Facebook via TMZ

Walden says punitive coverage didn’t take into account that many of these partygoers live in low-income neighborhoods with few resources to make staying at home bearable. They may live in areas with limited internet access or in homes where staying in the house for an indeterminate amount of time may not be safe for everyone. The TRiiBE also connected this experience with underlying issues that may have informed the partygoers’ attitudes. The story quoted Black state representative La Shawn K. Ford, who is from that side of town and evoked police brutality, gun violence, and poor schools as some of the reasons it might be difficult to connect with parts of the Black community.

The TRiiBE’s headline reflected these insights: “A West Side house party exposes the disconnect between young Black Chicago residents, Chicago officials, and the news during the Covid-19 pandemic.”

As part of what might be described as “the new Black press”— outlets that advocate for and culturally represent Black people but are not necessarily Black-owned, are largely digital, nimble, and take an expansive view of who and what constitutes journalism — The TRiiBE was well-positioned to display an empathetic understanding of the community it covers. The racialized economic and health disparities that emerged during the coronavirus pandemic and the outrage that followed the killings of Breonna Taylor, Ahmaud Arbery, George Floyd, and Rayshard Brooks underscore fresh opportunities for the cultural nuance and campaigning coverage the Black press has always offered.

Newsrooms, too, cannot escape the racial tension — and exhaustion — of this cultural inflection point. Blacks in salaried positions comprise 7% of newsrooms that answered the 2019 American Society of Newspaper Editors (ASNE) survey, compared with whites, who occupy 78% of those jobs; Hispanics hold 7% and Asians 5% of salaried newsroom positions. The ASNE survey showed that 80% of newsroom leaders are white, compared with 7.6% who are Black.

Resignations at The New York Times opinion section and The Philadelphia Inquirer and turmoil at The Pittsburgh Post-Gazette stand as emblems of an enduring belief among minorities in the news industry that the “objectivity” standard is merely a tool of racial bias that establishes white norms as the measure of newsworthiness. Staffers at The Washington Post circulated a petition to address the hiring, pay, promotion, and retention of Black employees, and the newspaper has created several new positions that intersect race and other topics as well as a senior leadership position, managing editor for diversity and inclusion. The Los Angeles Times also is facing complaints over the lack of Black staffers.

“News and reporting about Black communities, which is what mainstream news offers, is a lower bar than news and reporting for Black communities,” says journalist and researcher Carla Murphy, who is working on a report about the Black news ecosystem for the Center for Community Media at the Craig Newmark Graduate School of Journalism at CUNY.

Outlets like The TRiiBE; theGrio, a video-centric site devoted to African-American perspectives; ZORA, a publication for women of color hosted on Medium; digital sports and culture site The Undefeated; Coronavirus News for Black Folks, a newsletter focused on the disparate impact of the pandemic on African-Americans; The Root, whose tagline is, “The Blacker the Content the Sweeter the Truth”; Outlier Media in Detroit, which leverages text messaging to drive coverage; The Plug, a news and insights platform covering the Black innovation economy; Blavity, a community for Black creativity and news; and networked journalism, which includes citizen journalists as well as trained professionals in the production of news are some of the sites and initiatives targeting Black audiences that have found their sweet spot in providing news, information, and resources for Black communities as national attention has been focused on the coronavirus and the protests following Floyd’s killing.

Of course, Black people have always found it necessary for their lived experiences to be authentically narrated through vehicles they control. That was the impetus for the 1827 founding of Freedom’s Journal by African Americans John B. Russwurm and Samuel Cornish. Born enslaved, Ida B. Wells found power and purpose as part owner and editor of the Memphis Free Speech and Headlight. (She shortened the name to Free Speech.)

For a long time, legacy Black outlets served as a corrective frame for a more authentic, nuanced Black American story. They were the go-to publications for Black representations of joy and beauty, as was the case with Ebony magazine, founded by John H. Johnson in 1945. Jet magazine, which debuted in 1951, helped catalyze the civil rights movement in 1955 when it published photos of mangled 14-year-old lynching victim Emmett Till in his casket before his funeral at Chicago’s Roberts Temple Church of God in Christ.

Currently, there are about 200 Black-owned newspapers in the U.S., according to the National Newspaper Publishers Association. A 2019 Pew Research Center chart detailing paid circulation of several Black newspapers illustrates the loss of influence among legacy outlets. Using data from the Alliance for Audited Media and Verified Audit Circulation, the chart shows The New York Amsterdam News, for example, reached 13,175 subscribers in 2006 compared with 6,786 in 2018. At its height, Jet’s weekly circulation was about 1 million; in 2016, Jet and Ebony and their online counterparts were purchased by Texas-based Clear View Group. In 2014, Jet went online exclusively with no new stories since 2019Ebony.com is a shadow of its former self, and Clear View did not respond to queries about its plans for the print version of Ebony.

The new Black press is changing the lenses of victimization and dysfunction into lenses of empower- ment and agency

At least 10 Black legacy outlets have joined the newly launched Fund for Black Journalism — Race Crisis in America, organized through the Local Media Foundation. The campaign aims to raise $2 million to create shared video, data, and investigative reporting projects and provide stipends to help local outlets enhance their reporting on race issues. Participating media organizations include New York Amsterdam News, The Atlanta Voice, Houston Defender Network, The Washington Informer, The Dallas Weekly, St. Louis American, Michigan Chronicle, The Afro, Seattle Medium, and The Sacramento Observer.

Nancy Lane, CEO of the Local Media Foundation, says the idea for the fund came from Elinor Tatum, publisher and editor-in-chief of the New York Amsterdam News. When an organizing committee talked about what better, more comprehensive, and shared coverage would look like, Lane says, the idea was, “Let’s empower Black newspapers to tell these stories and, most importantly, propose solutions. Black voices need to be heard.”

There is “still a yearning for a more complete look at the Black experience because we just don’t have that many vehicles,” says Charles Whitaker, dean of Northwestern University’s Medill School of Journalism, Media, Integrated Marketing Communications. “Today, we still see African Americans through the lens of victimization or as perpetrators of crime through the lens of dysfunction.”

Driven by the urge to address the depresencing of Blacks from their own narratives, the new Black press is changing the lenses of victimization and dysfunction into lenses of empowerment and agency. A look at select outlets:

TheGrio

TheGrio, owned by Entertainment Studios, responded to the nationwide pandemic shutdown and subsequent economic losses with a series of videos that addressed how the coronavirus is affecting Black entrepreneurs, called “Staying in Business,” a partnership with Facebook Watch. The series spotlighted everyone from Black travel agents to people driving for Uber and Lyft, “just talking to them and having real conversations about how this whole pandemic was affecting them,” says Todd Johnson, theGrio’s chief content officer. “Over the course of four episodes, we were able to track and hear from everyday Black folks — men, women, young and old — about how this national issue … is literally affecting Black people in different cities, New York, Atlanta, Chicago and other areas.”

Among business owners showcased by theGrio’s Natasha Alford were Vida and Virginia Ali of Ben’s Chili Bowl in Washington, D.C. They discussed the difficulty of accessing emergency funding approved by Congress to keep their restaurant going and their workers working. “If you didn’t close for the ’68 riots, we’re not going to close for this one,” Vida said.

Alford, vice president of digital content, also featured Ron Busby, president and CEO of U.S. Black Chambers, Inc., who urged people to spend their emergency money at Black businesses: “If 100,000 of those Black people say, ‘You know what, of this $1,200, I’m gonna take $200 and spend it with a Black firm,’ that would be $20 million back into our economy overnight,” he said, snapping his fingers.

ZORA

Vanessa De Luca, editor-in-chief of ZORA, a Medium Corporation site, felt her publication needed to dig deeper than mass media outlets in reporting on safety issues Black people could face when masked up in social environments already hostile to their presence. The essay, “Telling Us to ‘Tip Our Mask’ Is Racist,” resonated with the ZORA audience. Writer Danielle Moodie explained how racial profiling by police affects the Black community and would likely worsen as the government mandated face coverings in public.

Referring to armed white protesters who entered Michigan’s capitol building in April to demand the state reopen,  Moodie described the hypocrisy of “heavily armed, angry white mobs” who stormed government buildings, flaunting their privilege to do so without being attacked by law enforcement: “Why? Because in America, armed White people in masks are considered good patriots, while unarmed Black people in masks are perceived as a threat.”

Vanessa De Luca

At ZORA, co-founder Vanessa K. De Luca felt her publication needed to dig deeper than mainstream outlets on safety issues that Black people face at protests Michael Rowe

Pieces like this reflect how ZORA’s audience is “looking for those nuances in between,” De Luca says. “We’re looking at a very specific point of view, from a very specific point of view, and an experience that can only be told through our lens as opposed to just telling a story about how to wear a mask or how to make a mask at home.”

The Undefeated

The Undefeated, owned by The Walt Disney Company, spoke into a difficult moment when the video of Arbery being hunted and killed by white neighbors in Georgia horrified all audiences but made African Americans feel particularly vulnerable to what amounts to a modern-day lynching. The outlet highlighted the stakes in its interview with track and field legend Michael Johnson, “Olympian Michael Johnson on Ahmaud Arbery: ‘This is not about running.’”

Johnson admitted he hadn’t heard about Arbery’s killing until the video was released on social media. Though it’s uncustomary for Johnson, the former world-record holder in the 200- and 400-meter events, to speak publicly on social or political issues, he told The Undefeated’s Martenzie Johnson that he felt compelled to bring awareness to the mishandling of the case: “This is about Black people being able to live their lives without fear of consequence that someone is going to make a set of assumptions about them and call the police on them, or in this case, take action into their own hands by making an assumption that they’re a criminal.”

Coronavirus News for Black Folks

Patrice Peck, a former BuzzFeed writer, had been planning to launch a newsletter and grow her own audience when the pandemic hit. She was grounded in facts about health disparities and the Black community and says she relished the opportunity to be her own gatekeeper so she didn’t have to justify why her ideas about Black people are newsworthy or “fit within” a news organization’s scope.

Early on in her work on Coronavirus News for Black Folks, Peck tackled the topic of conspiracy theories to address suggestions within sectors of the Black community about so-called immunity to the coronavirus and how the virus is transmitted. She centered Black subject-matter experts, like Patricia Turner, a folklorist who is also senior dean and vice provost of undergraduate education at UCLA, who parsed the difference between unsubstantiated stories and universal truths about the Black experience in the U.S. healthcare system.

As a key example, she highlighted the Tuskegee syphilis experiment conducted by the U.S. Public Health Service from 1932 to 1972 in which Black male sharecroppers in Alabama were subjected to unethical medical procedures and misinformation as public health officials observed what happens when syphilis goes untreated. The trickery and the pain and suffering caused to these men and their families are what undergird the medical establishment’s polices on informed consent today.

While still in start-up mode and building her audience, Peck has set up a Patreon page offering various levels of membership, which all include access to Weekly Live group creative brainstorming sessions, video and audio exclusives, bimonthly live Q&As, and “Writer’s Cut,” compelling information that didn’t make it into a published piece. Monthly memberships start at $9, $19 and $49 up to levels for $299 or $499.

The Root

It’s not every day that a news outlet can call a major presidential candidate a “lying MF” and get away with it, but when you’re The Root, part of G/O Media, that’s just another day at the office.

Michael Harriot’s nuanced essay about coming of age in the Black community and the trials of upward mobility, published in November of 2019, was a sacred and profane rejoinder to Democratic presidential candidate Pete Buttigieg’s resurfaced 2011 comment about children from lower-income, minority neighborhoods. The candidate claimed at the time that these children were not supported by people who value an education. Harriot’s plainspoken language — which got Buttigieg to call him the next day — resounded with The Root’s affluent, educated Black audience, which overindexes in the 25-54 age range and skews female.

Harriot dressed down Buttigieg for offering respectability politics as the answer to education access and equity, saying the candidate had “never attended a school with more than 10 percent Black students.”

“Apparently, it’s not the fact that the unemployment rate for Black college graduates is twice as high as the unemployment rate for white grads. Black college graduates are paid 80 cents for every dollar a white person with the same education earns … Get-along moderates would rather make shit up out of whole cloth than wade into the waters of reality. Pete Buttigieg doesn’t want to change anything. He just wants to be something.”

Danielle Belton’s team at The Root is intentionally counterintuitive, and it is working. Because The Root is part of the G/O Media family of titles that also include The Onion and Jezebel, even non-Black audiences get to listen in on “lodge talk,” private, culturally specific conversations shared among African American community members.

Danielle Belton

Danielle Belton, editor-in-chief of The Root, which strives to publish stories “tied to that emotional chord…written in a creative or interesting way that kind of elevates the conversation” Danielle Finney

“I’ve always thought people would be more likely to consume an article if they were entertained by it no matter what the subject was,” says Belton, the editor-in-chief. A story “could be horrible, it could be sad, it could make you angry — as long as it’s tied to that emotional chord … written in a creative or interesting way that kind of elevates the conversation.”

Outlier Media

Though Outlier Media doesn’t identify as the Black press per se, Candice Fortman, the outlet’s chief of engagement and operations, acknowledges that serving low-wealth information in a nearly 80% Black community means that race does matter: “For us, serving the city is about serving a population that has been underserved.”

Outlier took that philosophy to heart when it launched a Covid-19 texting campaign to share resources to help residents navigate the pandemic. The team curated resources to help residents in the areas of housing, debt, unemployment, health, and public safety. They shared flyers at local social service agencies, and Fortman posted in “tons of Facebook groups” so community members would know where they could turn to ask questions. In most cases when a Detroit resident texted their zip code and designated an area of query, they received automated answers directing them to next steps. In other cases — more than 200 during a week that elicited more than 700 texting engagements — residents needed a personal touch.

One man with long-term health issues that he understood well needed help figuring out his best options, Fortman recalls: “They need somebody to figure out who they can trust, like, ‘I’m getting information from all these different places. Who should I listen to?’”

Sometimes, the questions are so good, Outlier launches accountability and investigative pieces, including a story — published by published by The Detroit News and aired on “Reveal” — about a dilapidated house that neighbors wanted the Detroit Land Bank Authority, the city’s largest property owner, to tear down. “We are not the assignment editor; our community is our assignment editor,” Fortman says. “We have basically outsourced the assignment editor role to the community [by asking], What do you need to know?”

The Plug

The Plug, founded by Sherrell Dorsey, is a subscription-based digital news and insights platform covering Blacks in the technology and innovation economy. The site renders Black people in tech as real, as they are traditionally depresenced in common conversations about the sector. With a team of 15 contractors, The Plug leverages a newsletter, industry-specific databases and events, such as a Zoom call with Andre M. Perry, the Brookings Institution Fellow who recently published “Know Your Price: Valuing Black Lives and Property in America’s Black Cities” to build out an authentic narrative about what Black people in the technology sector are building and innovating — a phenomenon mainstream tech media fails to make clear.

A recent data set of tech company statements and a graphic visualization released in the wake of mass protests over police brutality resounded with The Plug’s audience. The Plug curated links to statements on racial justice, Black Lives Matter, and the May 25 police killing of George Floyd, a Black Minneapolis man. The dataset includes company name, CEO, statement link, time of release, diversity report link and year of release. The document tracks over 200 companies such as Twitch, Spotify, Logitech, Microsoft, Zoom, and Hulu.

“It was a lot of folks who initially wanted to understand, ‘Are you all just paying lip service,’ which of course, many are,” Dorsey says. “Also, who’s really stepping up and for the first time centralizing where Black representation happens across these companies that had very bold things to say publicly kind of as part of their PR versus what representation actually looks like within the ranks of their employment.” Dorsey says Black tech workers were “blowing up my DMs,” including direct messages through Signal, an encrypted messaging platform. “For the most part,” she says, “Black tech workers in particular just demanded more accountability.

Tracking tech company statements from the 2014 police killing of Michael Brown, which ignited Black Lives Matter, till now reveals a pattern that helps explain the experience of Black people in the tech sector, Dorsey adds: “What’s been true for white moderates or white liberals is there’s kind of this propensity to say things and to not actually make a sacrifice to ensure the long-term survival of Black and brown folks.”

Blavity

When Blavity was established in 2014 by Morgan DeBaun, Jonathan Jackson, Jeff Nelson, and Aaron Samuels, the site set out to be a community for millennial Black creatives. Travel Noire and AfroTech, part of the Blavity brand portfolio, cover innovative Black entrepreneurs and thinkers, says Zahara Hill, Blavity’s deputy editor. The outlet also runs opinion pieces from community members covering everything from police brutality and anti-racism to #sayhername, a call to stand up for Black women and girls. The site’s coronavirus coverage has focused on solutions Black business owners and others bring to navigating the pandemic.

Hill cites one story — “This Black-Owned Gun Shop Is Committed To Educating, Consulting And Training Black People On Their Second Amendment Rights” — as representative of how Blavity’s coverage highlights “Black people and Black businesses who are essentially not waiting around for anyone’s permission to do the work.” The story is also representative of what Hill describes as Blavity’s ability to speak directly to Black lived experience, while traditional media seem to still be in a discovery phase of how systemic racism works: “Blavity is uniquely positioned because we don’t have to spend as much time on [educating newsrooms and audiences]. We can get right to like the more actionable item.” The approach seems to be working: Blavity reached 38 million page views in May, according to Hill, a 150% jump from April.

Networked Journalism

According to Allissa V. Richardson, assistant professor of journalism and communication at the University of Southern California, Annenberg, traditional outlets often fail to consider residents of marginalized communities as subject-matter experts, one of the reasons the Black community distrusts mainstream media. She also notes how the mainstream media pick up on condescending or outright false statements about the Black community, which further erodes trust. A case in point: Steve Huffman, the Ohio state senator and now-fired emergency room physician who speculated that African Americans, or the “colored population,” in his words, could be suffering disproportionately from the coronavirus because they don’t wash their hands well enough.

Incorporating citizen journalists as well as trained professionals in the production of journalism is an opportunity to create better coverage — and a better working definition of the Black press, argues Richardson, author of “Bearing Witness While Black: African Americans, Smartphones, and the New Protest #Journalism.”

The grip and depth of racial disparities revealed by the coronavirus pandemic and the ongoing problem of the policing of Black bodies are just two reasons for nuanced coverage of the Black experience

Ordinary people using hashtags are really producing journalism about their neighborhoods and often function as first responders in crisis situations, Richardson suggests. She cites the August 2014 uprising that followed the fatal police shooting of Brown, in Ferguson, Missouri as an example of the type of networked journalism that serves the Black community. “There were local people who were tweeting and posting pictures of Mike Brown’s body long before CNN even got there,” Richardson says. The same dynamics were at play in the case of Arbery and Floyd when citizen videos galvanized the attention of mainstream media and overtook the national conversation on policing. (In Arbery’s case, the video was produced by a white man who was later arrested and charged.)

“I would not discredit that work and say they weren’t Black journalists because they were operating very much in the same capacities our ancestors did who reported on lynching and let Ida B. Wells know, ‘You’ve got to get back down here from New York because there’s a fresh lynching you need to document,’” says Richardson, referring to the Black journalist who was posthumously awarded a Pulitzer Prize this year. Richardson recalls Wells’ “The Red Record” (1895), a formal lynching tally of every Black person murdered 1892 to 1894 through extrajudicial or state-sponsored means: “That’s exactly what citizen journalists are doing today. By filming, they’re keeping their very own red record of all the Black people who have died violently and unnecessarily.”

Networked journalism — user-generated, hyperlinked, crowdsourced — is even more imperative today, says Richardson, given her view that everything from the 19th-century movement to abolish slavery to lynchings to today’s Black Lives Matter protests are the necessary excavation that must occur to keep Black audiences and their experiences from being erased from the dominant news narrative. Where the general public may be occupied with government and other forms of surveillance, the methods employed by contemporary Black protesters function as a form of “sousveillance,” the recording of an activity by participants in that activity as a way to promote accountability from the bottom up. Footage of Floyd and Arbery and the McKinney, Texas girl at a 2015 pool party who was slammed to the ground by a police officer was crucial to getting media and law enforcement attention to these injustices.

The grip and depth of racial disparities revealed by the coronavirus pandemic and the ongoing problem of the policing of Black bodies, through law enforcement and otherwise, are just two reasons for nuanced coverage of the Black experience. Documenting the existence of Black joy is another, because these audiences need and crave both recognition and reckoning.

Richardson aptly recalls James Baldwin’s commentary on Black people’s need for witnesses, which he summed up in a 1984 New York Times interview: “I have never seen myself as a spokesman. I am a witness. In the church in which I was raised you were supposed to bear witness to the truth. Now, later on, you wonder what in the world the truth is, but you do know what a lie is.”

Related Reading

Nieman Reports Spring 2015 issue on Race and Reporting
The news industry has been talking about diversity for decades, but that talk has not always been followed by action. In this Nieman Reports cover package, reporters and editors discuss strategies for creating more inclusive newsrooms and how racially diverse staffs can improve coverage. ((Read the stories here))

07-15-2020- New York magazine -Andrew Sullivan resigns

07-15-2020- New York magazine -Andrew Sullivan resigns

Longtime columnist and blogger Andrew Sullivan resigns from New York magazine

By Kerry FlynnCNN Business

Updated 4:03 PM ET, Tue July 14, 2020

New York (CNN Business)Columnist and blogger Andrew Sullivan is leaving New York magazine, his professional home since 2016, he announced Tuesday.

“This will be my last week at New York Magazine,” Sullivan tweeted. “I’m sad because the editors I worked with there are among the finest in the country, and I am immensely grateful to them for vastly improving my work. I’m also proud of the essays and columns I wrote at NYM – some of which will be published in a collection of my writing scheduled for next year.”

Sullivan did not directly state his reason for leaving but said on Twitter that it was “pretty self-evident” and the “broader questions involved” would be discussed in his last column on Friday.

New York editor in chief David Haskell confirmed Sullivan’s resignation in a memo to staff obtained by CNN Business.

Haskell wrote that the decision for Sullivan and the magazine to “part ways was mutual.”

“Andrew and I agreed that his editorial project and the magazine’s, though overlapping in many ways, were no longer the right match for each other,” Haskell said.

Sullivan first came to prominence as editor of The New Republic. Later he founded The Daily Dish, an influential political blog that was published by a number of outlets including Time and The Atlantic before going independent.

But while at The New Republic, Sullivan published excerpts from “The Bell Curve,” a book that argues there are IQ score differentials among racial groups that can be explained by genetics. Even at the time, the book and the excerpts were controversial, but more than 20 years later Sullivan has continued to defend them, sparking more controversy and criticism of himself and New York.

Though neither Haskell nor Sullivan addressed these issues in their public statements, they may have played some role, especially at a time when the media is examining its own issues with diversity, both in its staffs and in its coverage. And Haskell did allude to differences of opinion between himself and much of the magazine’s staff, on the one hand, and Sullivan, who describes himself as conservative, on the other.

“I am trying hard to create in this magazine a civil, respectful, intellectually honest space for political debate,” Haskell said. “I believe there is a way to write from a conservative perspective about some of the most politically charged subjects of American life while still upholding our values. I also think that our magazine in particular has an opportunity to be a place where the liberal project is hashed out, which is to say not only championed but also interrogated.”

Haskell vowed to push for “work that challenges the liberal assumptions of much of our readership. But publishing conservative commentary, or critiques of liberalism and the left, in 2020 is difficult to get right, and thoughtful, well meaning people can come to different conclusions about it: how to weigh the value of plurality of political opinion against other journalist and community values; whether our current publication does in fact create that environment I am trying to foster; what to think of certain writers in particular.”

Sullivan’s resignation came on the same day that Bari Weiss,a controversial opinion columnistfor the New York Times, announced her decision to leave the paper. On her way out, Weiss published to her personal website a scathing letter in which she blamed the Times for fostering what she called an “illiberal environment” that she said was “especially heartbreaking.”

07-15-2020- New York Times – Bari Weiss resigns

07-15-2020- Bari Weiss Quits New York Times

07-15-2020- New York Times – Bari Weiss resigns

Bari Weiss Quits New York Times

Bari Weiss Quits New York Times, Excoriates Paper As ‘Performance Space’ For Woke Olympics

by Tyler Durden

Tue, 07/14/2020 – 16:15

The internal schism at the New York Times has claimed yet another staffer, as opinion editor Bari Weiss has left the paper and penned a scorching resignation letter denouncing the Times as nothing more than an echo chamber for ‘woke’ activists masquerading as journalists who believe dissent has no place on the platform.

But the lessons that ought to have followed the election—lessons about the importance of understanding other Americans, the necessity of resisting tribalismand the centrality of the free exchange of ideas to a democratic society—have not been learned. Instead, a new consensus has emerged in the press, but perhaps especially at this paper: that truth isn’t a process of collective discovery, but an orthodoxy already known to an enlightened few whose job is to inform everyone else. –Bari Weiss

As a refresher, the Times newsroom erupted in chaos following the decision to publish an Op-Ed by Sen. Tom Cotton (R-AK), in which he suggested that the Trump administration should deploy the military to quell violent race-riots gripping the country following the death of a black suspect while in custody of Minneapolis police. https://imasdk.googleapis.com/js/core/bridge3.395.0_en.html#goog_73511934 An internal schism formed within the Times, with younger ‘woke’ staffers insisting that such ‘wrongthink’ has no place on the platform, while others defended the decision to publish Cotton’s divergent opinion.

In the end, the woke mob won; the Times added an editor’s note conveying regret for publishing it – which was accompanied by the resignation of editorial page editor James Bennett (who Weiss writes ‘led the effort’ to reform the paper after the 2016 election).

Which brings us back to Bari Weiss, who came under intense fire by her NYT colleagues after she laid out what was going on in the newsroom in a Twitter thread, which ultimately defended the decision to publish Cotton’s op-ed.

https://platform.twitter.com/embed/index.html?dnt=false&embedId=twitter-widget-0&frame=false&hideCard=false&hideThread=false&id=1268628683952185346&lang=en&origin=https%3A%2F%2Fwww.zerohedge.com%2Fpolitical%2Fbari-weiss-quits-new-york-times-slams-paper-abari-weiss-quits-new-york-times-excoriates&siteScreenName=zerohedge&theme=light&widgetsVersion=9066bb2%3A1593540614199&width=550px In her Tuesday resignation letter, Weiss excoriated the Times.

My own forays into Wrongthink have made me the subject of constant bullying by colleagues who disagree with my views. They have called me a Nazi and a racist; I have learned to brush off comments about how I’m “writing about the Jews again.” Several colleagues perceived to be friendly with me were badgered by coworkers. My work and my character are openly demeaned on company-wide Slack channels where masthead editors regularly weigh in. There, some coworkers insist I need to be rooted out if this company is to be a truly “inclusive” one, while others post ax emojis next to my name. Still other New York Times employees publicly smear me as a liar and a bigot on Twitter with no fear that harassing me will be met with appropriate action. They never are.” -Bari Weiss https://lockerdome.com/lad/13084989113709670?pubid=ld-dfp-ad-13084989113709670-0&pubo=https%3A%2F%2Fwww.zerohedge.com&rid=&width=728 Weiss described the Times as a hostile work environment, and slammed the paper for allowing “this kind of behavior to go on inside your company in full view of the paper’s entire staff and the public.”

“Showing up for work as a centrist at an American newspaper should not require bravery,” Weiss writes, adding “But the truth is that intellectual curiosity—let alone risk-taking—is now a liability at The Times.

“Why edit something challenging to our readers, or write something bold only to go through the numbing process of making it ideologically kosher, when we can assure ourselves of job security (and clicks) by publishing our 4000th op-ed arguing that Donald Trump is a unique danger to the country and the world? And so self-censorship has become the norm.

What rules that remain at The Times are applied with extreme selectivity. If a person’s ideology is in keeping with the new orthodoxy, they and their work remain unscrutinized. Everyone else lives in fear of the digital thunderdome. Online venom is excused so long as it is directed at the proper targets.”

Published in its entirety below:

* * *

Dear A.G.,

It is with sadness that I write to tell you that I am resigning from The New York Times. 

I joined the paper with gratitude and optimism three years ago. I was hired with the goal of bringing in voices that would not otherwise appear in your pages: first-time writers, centrists, conservatives and others who would not naturally think of The Times as their home. The reason for this effort was clear: The paper’s failure to anticipate the outcome of the 2016 election meant that it didn’t have a firm grasp of the country it covers. Dean Baquet and others have admitted as much on various occasions. The priority in Opinion was to help redress that critical shortcoming.

I was honored to be part of that effort, led by James Bennet. I am proud of my work as a writer and as an editor. Among those I helped bring to our pages: the Venezuelan dissident Wuilly Arteaga; the Iranian chess champion Dorsa Derakhshani; and the Hong Kong Christian democrat Derek Lam. Also: Ayaan Hirsi Ali, Masih Alinejad, Zaina Arafat, Elna Baker, Rachael Denhollander, Matti Friedman, Nick Gillespie, Heather Heying, Randall Kennedy, Julius Krein, Monica Lewinsky, Glenn Loury, Jesse Singal, Ali Soufan, Chloe Valdary, Thomas Chatterton Williams, Wesley Yang, and many others.

But the lessons that ought to have followed the election—lessons about the importance of understanding other Americans, the necessity of resisting tribalism, and the centrality of the free exchange of ideas to a democratic society—have not been learned. Instead, a new consensus has emerged in the press, but perhaps especially at this paper: that truth isn’t a process of collective discovery, but an orthodoxy already known to an enlightened few whose job is to inform everyone else.

Twitter is not on the masthead of The New York Times. But Twitter has become its ultimate editor. As the ethics and mores of that platform have become those of the paper, the paper itself has increasingly become a kind of performance space. Stories are chosen and told in a way to satisfy the narrowest of audiences, rather than to allow a curious public to read about the world and then draw their own conclusions. I was always taught that journalists were charged with writing the first rough draft of history. Now, history itself is one more ephemeral thing molded to fit the needs of a predetermined narrative.

My own forays into Wrongthink have made me the subject of constant bullying by colleagues who disagree with my views. They have called me a Nazi and a racist; I have learned to brush off comments about how I’m “writing about the Jews again.” Several colleagues perceived to be friendly with me were badgered by coworkers. My work and my character are openly demeaned on company-wide Slack channels where masthead editors regularly weigh in. There, some coworkers insist I need to be rooted out if this company is to be a truly “inclusive” one, while others post ax emojis next to my name. Still other New York Times employees publicly smear me as a liar and a bigot on Twitter with no fear that harassing me will be met with appropriate action. They never are.

There are terms for all of this: unlawful discrimination, hostile work environment, and constructive discharge. I’m no legal expert. But I know that this is wrong. 

I do not understand how you have allowed this kind of behavior to go on inside your company in full view of the paper’s entire staff and the public. And I certainly can’t square how you and other Times leaders have stood by while simultaneously praising me in private for my courage. Showing up for work as a centrist at an American newspaper should not require bravery.

Part of me wishes I could say that my experience was unique. But the truth is that intellectual curiosity—let alone risk-taking—is now a liability at The Times. Why edit something challenging to our readers, or write something bold only to go through the numbing process of making it ideologically kosher, when we can assure ourselves of job security (and clicks) by publishing our 4000th op-ed arguing that Donald Trump is a unique danger to the country and the world? And so self-censorship has become the norm.

What rules that remain at The Times are applied with extreme selectivity. If a person’s ideology is in keeping with the new orthodoxy, they and their work remain unscrutinized. Everyone else lives in fear of the digital thunderdome. Online venom is excused so long as it is directed at the proper targets. 

Op-eds that would have easily been published just two years ago would now get an editor or a writer in serious trouble, if not fired. If a piece is perceived as likely to inspire backlash internally or on social media, the editor or writer avoids pitching it. If she feels strongly enough to suggest it, she is quickly steered to safer ground. And if, every now and then, she succeeds in getting a piece published that does not explicitly promote progressive causes, it happens only after every line is carefully massaged, negotiated and caveated.

It took the paper two days and two jobs to say that the Tom Cotton op-ed “fell short of our standards.” We attached an editor’s note on a travel story about Jaffa shortly after it was published because it “failed to touch on important aspects of Jaffa’s makeup and its history.” But there is still none appended to Cheryl Strayed’s fawning interview with the writer Alice Walker, a proud anti-Semite who believes in lizard Illuminati. 

The paper of record is, more and more, the record of those living in a distant galaxy, one whose concerns are profoundly removed from the lives of most people. This is a galaxy in which, to choose just a few recent examples, the Soviet space program is lauded for its “diversity”; the doxxing of teenagers in the name of justice is condoned; and the worst caste systems in human history includes the United States alongside Nazi Germany.

Even now, I am confident that most people at The Times do not hold these views. Yet they are cowed by those who do. Why? Perhaps because they believe the ultimate goal is righteous. Perhaps because they believe that they will be granted protection if they nod along as the coin of our realm—language—is degraded in service to an ever-shifting laundry list of right causes. Perhaps because there are millions of unemployed people in this country and they feel lucky to have a job in a contracting industry. 

Or perhaps it is because they know that, nowadays, standing up for principle at the paper does not win plaudits. It puts a target on your back. Too wise to post on Slack, they write to me privately about the “new McCarthyism” that has taken root at the paper of record.

All this bodes ill, especially for independent-minded young writers and editors paying close attention to what they’ll have to do to advance in their careers. Rule One: Speak your mind at your own peril. Rule Two: Never risk commissioning a story that goes against the narrative. Rule Three: Never believe an editor or publisher who urges you to go against the grain. Eventually, the publisher will cave to the mob, the editor will get fired or reassigned, and you’ll be hung out to dry.

For these young writers and editors, there is one consolation. As places like The Times and other once-great journalistic institutions betray their standards and lose sight of their principles, Americans still hunger for news that is accurate, opinions that are vital, and debate that is sincere. I hear from these people every day. “An independent press is not a liberal ideal or a progressive ideal or a democratic ideal. It’s an American ideal,” you said a few years ago. I couldn’t agree more. America is a great country that deserves a great newspaper. 

None of this means that some of the most talented journalists in the world don’t still labor for this newspaper. They do, which is what makes the illiberal environment especially heartbreaking. I will be, as ever, a dedicated reader of their work. But I can no longer do the work that you brought me here to do—the work that Adolph Ochs described in that famous 1896 statement: “to make of the columns of The New York Times a forum for the consideration of all questions of public importance, and to that end to invite intelligent discussion from all shades of opinion.”

Ochs’s idea is one of the best I’ve encountered. And I’ve always comforted myself with the notion that the best ideas win out. But ideas cannot win on their own. They need a voice. They need a hearing. Above all, they must be backed by people willing to live by them. 

Sincerely,

Bari

07-04-2020- TIN PHỊA – TIN XUYÊN TẠC – TIN BÔI BÁC

07-04-2020- TIN PHỊA – TIN XUYÊN TẠC – TIN BÔI BÁC

TIN PHỊA – TIN XUYÊN TẠC – TIN BÔI BÁC

Trong thời gian qua, như đã trình bày cùng quý độc giả, cận ngày bầu bán, TTDC xả hết tốc lực ra đánh TT Trump. Truyền Thông Tỵ Nạn cũng vén áo chạy theo tối đa, tung hàng loạt tin bất lợi cho TT Trump. Không phải là tin bất lợi thật mà hầu hết đều là tin phịa, tin xuyên tạc, tin bóp méo, tin bôi bác rẻ tiền,… Nhai đi nhai lại từ cả mấy năm qua.

Tuần rồi có một cụ tỵ nạn cuồng chống Trump viết rất oai “… nhiều người Việt đang cố gắng tự đầu độc mình và cộng đồng bằng tin giả”.

Một cụ khác cuồng hơn dõng dạc “Một số người Mỹ gốc Việt … sử dụng tin giả, tin vịt để thuyết phục mọi người tin theo!

Một cụ khác cuồng nhất đã ‘hoành tráng’ hơn nhiều “Ngậm máu phun người, xuyên tạc, vu khống, đổ thừa và ngang ngược nói dóc lừa bịp là thứ đầu đường xó chợ.

       BRAVO! Quá hay! Quá tuyệt!

Kẻ này -chẳng mấy khi- xin hoan hô các vị này, bằng cả hai tay và hai chân.

Chỉ có ‘hơi khác ý’ với các cụ về chuyện ai đang làm những chuyện dối trá đó thôi. Bởi vậy mới có câu “Đừng nghe những gì mấy cụ cuồng chống Trump nói, mà hãy nhìn kỹ những gì họ đã, đang và sẽ làm”. Kẻ này xin phép điểm qua một số lập luận để quý độc giả thưởng lãm. Gọi là tóm lược tổng quát làm ‘hồ sơ lưu’, mỗi lần các cụ lôi ra thì ta cũng lại lôi ra đối chất chơi.

Xin thưa ngay, hầu hết những lập luận các cụ cuồng chống Trump vừa mới đưa ra đều không có gì mới lạ, đã được bàn qua cả vạn lần, bác bỏ cả triệu lần qua hàng tỷ bằng chứng cụ thể nhất. Các cụ bất cần sự thật, nhắm mắt, bịt tai, cứ tiếp tục nhai lại, theo đúng sách vở của Goebbels và Lê-nin: một điều dối trá lập đi lập lại mãi, sẽ có người tin là thật. Nhưng lập đi lập lại chưa đủ đâu. Còn phải vừa ăn cướp vừa la làng nữa, như 3 câu trích dẫn vừa nêu trên.

Người Việt đã là những nạn nhân lớn và đau nhất của TTDC Mỹ tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo,… đến độ mất cả nước vào tay CSBV, vậy mà giờ này vẫn còn không biết bao nhiêu người chưa tỉnh, vẫn coi TTDC Mỹ như Kinh Thánh, răm rắp làm vẹt lập lại. Kể cả những người vừa làm vẹt vừa đấm ngực ầm ầm khoe mình có đủ loại bằng tiến sĩ, thạc sĩ, bác sĩ, văn sĩ, email sĩ, phịa sĩ, cuồng sĩ,…

Bây giờ, xin quý vị theo dõi cho vui.

Phần chữ nghiêng là nguyên văn những lập luận hầu hết cũ rích được lập lại cùng với tên tác giả (viết tắt chỉ để xác nhận không phải do Vũ Linh chế ra thôi, ai viết người đó biết) và ngày kẻ này nhận được (để chứng tỏ lập luận mới được nhai lại!). Phần chữ thẳng ở dưới là ý kiến của Vũ Linh. Cũng phải xin thưa ngay là những lập luận các cụ đưa ra nhiều vô kể, không có cách nào liệt kê ra hết được trong khuôn khổ một bài viết trên DĐTC này, do đó, chỉ xin đưa ra vài chuyện lố bịch nhất thôi.

Các mẫu tin được liệt kê không theo thứ tự đặc biệt nào, đọc tới đâu viết tới đó. Diễn đàn sẽ không bàn về những bôi bác vô căn cứ, hay chửi bới lung tung lăng nhăng.

1.     4 năm đập phá. Cuồng Trump khen (PN- 29/6)

Tác giả biểu diễn cái dốt của mình, chẳng hiểu gì về nguyên tắc của nền dân chủ Mỹ. Trị quốc ở Mỹ có hai khuynh hướng: cấp tiến và bảo thủ. TT Obama là cấp tiến, ban hành những chính sách cấp tiến nặng trong 8 năm, dân Mỹ chán hay không chấp nhận, không muốn thấy bà Hillary tiếp tục chính sách đó, bầu cho ông bảo thủ Trump để thay đổi toàn diện, chứ không phải bầu ông Trump để tiếp tục như cũ. Đó là nền tảng của dân chủ Mỹ.

Thay đổi không phải là “đập phá”. Đập phá là việc những tên cấp tiến thiên tả cực đoan khùng điên BLM và Antifa đang làm hiện nay như biểu tình bạo động, đốt nhà, cướp của, giật tượng, xé cờ, chiếm khu phố, đòi giải tán cảnh sát,… được các cụ tỵ nạn cuồng chống Trump vặn vẹo tìm cách bênh vực, bào chữa.

2.     Đập phá chế độ dân chủ, dẹp bỏ đối lập, Trump muốn xây dựng nước Mỹ ra sao, giống Nga? Tàu? Việt Nam, Saudi Arabia? Bắc Triều Tiên? (PN-29-6)

Vừa ăn cướp vừa la làng.

Đập phá dân chủ? Bên nào đang bằng mọi cách cố xóa kết quả bầu cử dân chủ 2016?

Dẹp bỏ đối lập? Nếu nhìn kỹ, hình như đối lập chưa bao giờ được tha hồ chống đối, ồn ào chửi bới, xuyên tạc, bôi bác, đập phá như hiện nay. Nếu Mỹ giống như VN thì tất cả các cụ cuồng chống Trump đã bị đeo gông sắt vì tội ‘phản động’ từ lâu rồi. Nếu giống như Bắc Hàn thì các cụ đã ăn điểm tâm đạn phòng không rồi.

3.     Một phóng viên hỏi Trump chương trình tranh cử Tổng Thống kỳ này là gì?… Trump không có chương trình, không biết phải ưu tiên thực hiện gì, không có mục đích (PN- 29/6)

Bôi bác.

Nhìn vào những việc TT Trump làm trong hơn 3 năm qua mà chưa biết TT Trump muốn gì sao? Vậy mà cũng dám bàn chuyện chính trị sao? 

Thế chương trình cụ Biden là gì? Tiếp tục bí mật lãnh đạo bằng nói nhầm từ trong hầm trú hay sau lưng tất cả mọi người?

4.     Bãi nhiệm, phế bỏ ngân sách các trung tâm nghiên cứu và lo cho y tế cộng đồng phòng ngừa bệnh dịch, làm dụng cụ y tế thiếu thốn (MP – 27/6)

Tin phịa quá xưa rồi.

Hãng thông tấn Associated Press tìm hiểu vấn đề và khám phá ra ngân sách CDC và NIH chưa bị cắt một xu nào. AP cũng cho biết thêm là CDC thật ra cũng đã cắt giảm tiền trợ cấp gửi cho các tiểu bang và địa phương để phòng bệnh, nhưng những cắt giảm đó đã bắt đầu từ luật của quốc hội do DC kiểm soát ban hành dưới thời TT Obama, mà CDC dưới thời của Trump vẫn phải tuân theo thôi. Chính New York Times đã xác nhận không có ai bị bãi nhiệm và không có cơ quan nào bị đóng cửa hay cắt giảm ngân sách hết.

https://www.realclearpolitics.com/articles/2020/03/17/no_the_white_house_didnt_dissolve_its_pandemic_response_office_142683.html

Dụng cụ y tế thiếu thốn? Đó là gia tài của TT Obama khi ông này xài hết mặt nạ và ống thở cho dịch H1N1 năm 2009, sau đó không mua/sản xuất lại cho kho dự trữ trong suốt 7 năm sau.

5.     Gần 130,000 người chết vì COVID-19 vì đã không chuẩn bị, lo cho việc bảo vệ người dân, ngăn ngưà lây nhiễm kịp thời (MP – 27/6)

Tin phịa.  

Giữa tháng Giêng, TT Trump cho kiểm soát dân từ TC qua Mỹ tại 5 phi trường lớn. Cuối tháng Giêng, Trump giới hạn du khách từ TC không cho vào Mỹ hay bất đắc dĩ vào Mỹ thì bị cấm cung quản thúc 14 ngày, bị cụ Biden tố “hysterical xenophobia”. Giữa tháng Hai, Trump giới hạn du khách từ Âu Châu qua, bị CNN tố bài ngoại vô lý. Cho đến đầu tháng Hai, toàn thể phe DC, nghị sĩ, dân biểu, cấp lãnh đạo đảng DC và tất cả báo và TV của TTDC vẫn lo chúi mũi đàn hặc TT Trump, không một phút để ý đến dịch. Đến tháng Ba, các tiểu bang mới bắt đầu đóng cửa trường học, đóng cửa kinh doanh, là những biện pháp tổng thống liên bang không có quyền làm.

https://diendantraichieu.blogspot.com/2020/04/bai-121-tom-luoc-dien-tien-oi-pho-dich.html

Từ ngày coronavirus tấn công Mỹ đầu tháng Giêng cho tới cuối tháng Hai, TTDC Mỹ vẫn khẳng định chỉ là cúm không có gì đáng quan tâm.  

New York Times:  99% ca sẽ là nhẹ, không cần chữa trị đặc biệt gì.

USA Today: không phải là một khủng hoảng y tế toàn cầu.

Washington Postmối đe dọa thật sự là bệnh cúm thường chứ không phải corona. Cảnh giác thiên hạ coi chừng cách đối phó quá cứng rắn và hấp tấp của tay độc tài Trump

CNN: corona không phải là đại dịch -pandemic-, chỉ là cúm -flu.

Đây là một thí dụ cụ thể: bài của Real Clear Science ngày 29/2/2020:

https://www.realclearscience.com/blog/2020/02/29/five_reasons_you_dont_need_to_panic_about_the_covid-19_coronavirus.html

Ai lơ là, không chuẩn bị, không lo bảo vệ dân?

Đại Học John Hopkins đã công bố một nghiên cứu chi tiết của họ về việc các quốc gia trên thế giới đối phó với đại dịch trên thế giới, theo đó Mỹ đã là nước có chuẩn bị chu đáo và hữu hiệu nhất thế giới, sẵn sàng ứng phó với đại dịch nhất.

https://www.foxnews.com/politics/us-was-most-prepared-country-in-the-world-for-pandemics-johns-hopkins-study-found-in-2019

Một điều không cụ nào dám bàn là tỷ lệ chết của Mỹ rất thấp so với các nước Tây Âu trong khi số thử nghiệm lên đến 35 triệu người, hơn gấp hai lần Pháp, Anh, Ý cộng lại chẳng hạn. Đây là thống kê ngày 30/6/2020:

6.     Quảng bá và công khai khuyến khích người dân tiêm chất khử trùng vào cơ thể là kẻ “ngu dốt” (HL-19/6)

Tin phịa.

Đây là nguyên văn câu nói của TT Trump: “And then I see the disinfectant where it knocks it out in a minute. One minute. And is there a way we can do something like that by injection inside or, or almost a cleaning? Because you see it gets on the lungs and it does a tremendous number, so it will be interesting to check that. So that you’re going to have to use medical doctors. But it sounds, it sounds interesting to me. So we’ll see”. [Trích nguyên văn tiếng Anh để khỏi mang tiếng là dịch bậy]

TT Trump thắc mắc không biết có cách nào có thể dùng thuốc khử trùng để trị vi khuẩn không, cần phải hỏi các bác sĩ.

“Quảng bá và khuyến khích” chỗ nào?

7.     Vào cuối tháng 2, tổng thống Trump tuyên bố “tháng Tư’ vi khuẩn sẽ biến mất, và mối quan tâm của đảng Dân chủ và giới truyền thông về đại dịch là một “trò lừa bịp mới”. (HL-29/6)

Xuyên tạc.

Đây là nguyên văn câu nói của TT Trump: “Now, the virus that we’re talking about having to do — you know, a lot of people think that goes away in April with the heat — as the heat comes in… One day — it’s like a miracle — it will disappear. And from our shores, we — you know, it could get worse before it gets better. It could maybe go away. We’ll see what happens. Nobody really knows. The fact is, the greatest experts — I’ve spoken to them all. Nobody really knows.”

Đại khái, TT Trump cho biết ông nghe nói vi khuẩn kỵ nóng, nhiều người nghĩ sẽ bị diệt tháng Tư, nhưng ông cũng nói thật sự không ai biết rõ hết, ta chờ xem.

https://www.washingtonpost.com/politics/2020/04/28/yet-again-trump-pledges-that-coronavirus-will-simply-go-away/

TT Trump bị phe DC và đồng minh TTDC tố là lơ là, bất tài, chịu trách nhiệm để vi khuẩn phát tác. TT Trump nói đây chính là ‘hoax’ mới của phe DC để bôi bác ông, sau những cái hoax thông đồng với Nga và đổi chác với Ukraine. Nghĩa là những tố cáo của phe DC và TTDC là hoax, chứ không phải TT Trump nói vi khuẩn tấn công là hoax.

Nhà báo Kathleen Parker của WaPo chính thức xin lỗi TT Trump vì đã tố oan chuyện này: “Let the record reflect: The president never said the pandemic was a hoax.  I regret the error.”

https://www.washingtonpost.com/opinions/now-is-not-the-time-to-cast-blame/2020/04/08/f0cf10b4-79d3-11ea-9bee-c5bf9d2e3288_story.html

8.     Tiền cứu trợ Covid19 là do các nhà lập pháp soạn thảo và thông qua chỉ đưa lên ký để hợp luật vậy mà tự in tên lên ngân phiếu đúng là hạng “chiếm đoạt lập công” (HL-19/6)

Bôi bác vớ vẩn.

Ký để hợp luật”? Không ký thì không thành luật, chứ không phải là chuyện “hợp luật”.

Việc đề tên trên chi phiếu là quyết định của bộ Tài Chánh theo đúng thủ tục hành chánh của bộ, không phải là quyết định của TT Trump.

Luật cải tổ y tế năm 2009 do Hạ Viện soạn thảo, lưỡng viện thông qua “chỉ đưa lên ký để hợp luật, sao Obama lại vỗ ngực nhận là ‘Obamacare’? “Chiếm đoạt để lập công”?

9.     Khuya ngày thứ năm 25/6 đã đệ đơn lên Tòa Tối Cao nhằm « khai tử » chương trình bảo hiểm y tế,… Đây là việc làm hết sức tàn nhẫn, vô lương tâm của chính quyền Donald Trump đang lúc dịch bệnh lây lan, gây tác hại, lo sợ đến mọi tầng lớp người dân. (MP – 27/6). Con số thất nghiệp đã tăng lên trên 40 triệu người, mất việc làm tức sẽ mất bảo hiểm. (MHN-29/6). Sẽ cúp bảo hiểm trên 24 triệu người (PN-29-6).

Xuyên tạc và hù dọa láo.

Ý muốn nói Obamacare cung cấp bảo hiểm y tế cho dân thất nghiệp, nếu không còn Obamacare mà bị thất nghiệp thì sẽ không còn bảo hiểm y tế nữa.

Hiện giờ đang có hơn hai tá tiểu bang kiện đòi thu hồi Obamacare; chính quyền Trump không xin gì cả, mà bộ Tư Pháp chỉ nộp ‘góp ý’ (legal opinion) ủng hộ việc này vì Obamacare có thể đã không còn hợp hiến nữa.

Thu hồi hay không là quyết định của Tối Cao Pháp Viện, muốn chửi là “tàn nhẫn” thì cứ chửi TCPV. Cho dù Obamacare bị TCPV cho thu hồi thì cũng không phải là ngày mai hay tuần tới, mà cũng chẳng ai mất bảo hiểm hết vì nếu thu hồi thì chỉ mất Obamacare, vẫn có thể thay thế bằng bảo hiểm của công ty, sở làm và cả chục công ty bảo hiểm đang hoạt động. Mỹ có 330 triệu dân, chỉ có 8,3 triệu người trong Obamacare, còn lại hơn 320 triệu người không cần Obamacare gì hết. Nói Trump thu hồi Obamacare để cho 24 triệu người mất bảo hiểm y tế là hù dọa phịa, rẻ tiền và ngớ ngẩn.

10.  Thủ đoạn của Barr, cố tình dấu diếm, tìm cách trì hoãn để cắt xén, sửa đổi, thêm bớt bản báo cáo chắc chắn không thể được chấp nhận trong một đất nước với tam quyền phân lập như Mỹ (TDL-27-6)

Xuyên tạc.

Phúc trình của công tố Mueller có 3 bản: một bản tóm lược rất ngắn có 4 trang do ông Barr nộp cho quốc hội hai ngày sau khi công tố Mueller nộp phúc trình trong khi chờ đợi bộ Tư Pháp kiểm duyệt; một bản nguyên văn đầy đủ sau đó được gửi cho quốc hội và công khai công bố cho công chúng nhưng bôi đen những đoạn mà theo luật an ninh quốc gia, không thể công bố được; và một bản nguyên văn không bôi đen đặt trong một phòng mật của quốc hội để các nghị sĩ và dân biểu hay các phụ tá chính thức vào đọc trong cả tháng trời. Chẳng có ‘thủ đoạn’ vớ vẩn nào hết.

Nếu có chuyện dấu diếm, cắt xén, sửa đổi, thêm bớt thì sao công tố Mueller và 18 luật sư hầu hết theo phe DC không ai lên tiếng khiếu nại? Nếu không chấp nhận được vì vi phạm nguyên tắc tam quyền phân lập, thì sao phe DC trong Hạ Viện chưa kiện ra tòa đi?

11.  Đối xử ác độc với những người tỵ nạn, di dân. Trẻ con phải xa cha mẹ, và một số đã chết trong các trại giam giữ (MP –27/6)

Xuyên tạc và tin phịa.

Chính sách cách ly trẻ em ra đời dưới thời TT Clinton, theo thỏa thuận giữa tòa án và bộ trưởng Tư Pháp Janet Reno thời đó, không phải là sản phẩm của Trump. Các quan chức Sở Di Trú bây giờ chỉ thi hành luật có hiệu lực từ hồi đó tới giờ thôi, không liên quan gì đến TT Trump hết.

https://www.heritage.org/immigration/commentary/family-separation-not-trump-administrations-fault

Bao nhiêu người đã chết trong các trại giam giữ? Có con số chính xác không? Bằng chứng?

12.  Trump cho phép và ủng hộ tinh thần nhóm Mỹ da trắng thượng đẳng KKK, Neo-Nazi, và nhiều nhóm lẻ tẻ khác, chống da đen da màu và di dân (PN-29-6)

Tin phịa.

TT Trump chưa bao giờ “cho phép và ủng hộ tinh thần” da trắng thượng đẳng KKK, Neo-Nazi hết. Cũng chưa bao giờ chống da đen da màu và di dân, chỉ chống di dân lậu, khác xa.

Các luật giới hạn một số di dân từ các quốc gia rối loạn Trung Đông chỉ có mục đích thanh lọc khủng bố, được Tối Cao Pháp Viện xác nhận hợp hiến vì nhu cầu an ninh quốc gia. Nếu đó là những biện pháp kỳ thị thì đã không được TCPV chấp nhận 9-0, kể cả các thẩm phán cấp tiến.

13.  Nợ quốc gia tăng, ngay cả trước đại dịch COVID-19 vì giảm thuế cho những người giàu nhất (MP –27/6)

Xuyên tạc.

Nợ quốc gia tăng mạnh, không sai, bắt đầu từ 2009 khi Obama nhậm chức cho tới cuối nhiệm kỳ với tổng số nợ tăng gấp hai, chứ không phải vì TT Trump “giảm thuế cho những người giàu nhất”.

Mức công nợ Mỹ

(TT Obama: 2009-2016)

14.  Thâm thủng mậu dịch với Trung Cộng tăng vọt trước đại dịch COVID-19 và vẫn tiếp tục thâm hụt thêmHơn 2 năm thương chiến hù dọa, đổi ý tới lui đối với Trung cộng làm thiệt hại hằng tỷ đô la, nhất là cho người dân, nhưng không đem lại kết quả hữu hiệu (MP–27/6)

Xuyên tạc và tin phịa.

Thâm thủng mậu dịch với TC tăng vọt, không sai, nhưng phần lớn là dưới thời Obama (2009-2016). Xin coi biểu đồ dưới. Đang xuống trong hai năm 2019-2020 (2020 là dự phóng dựa trên vài tháng đầu, cũng như dựa trên việc kinh tế đóng cửa, số cầu hàng nhập cảng sẽ giảm mạnh trong cả năm).

Hai năm thiệt hại bạc tỷ”? Bằng chứng đâu?

Thâm thủng thương mại Mỹ-TC

(TT Obama: 2009-2016 – TT Trump: 2017-2020)

15.  Chánh Phủ Mỹ dưới sự lảnh đạo của D Trump đã hoàn toàn thất bại đối với các vấn đề quốc tế quan trọng như sau: Tầu Cộng, Hàn Cộng, Hồi Giáo Cực Đoan Iran, Venezuela “vẫn còn sống nhăn” (HL-29/6)

Bá láp.

TT Trump chưa khi nào có ý định xóa 4 xứ này khỏi bản đồ thế giới, cũng chưa bao giờ có chủ trương lật đổ các chế độ hay lãnh đạo các xứ này. Sao lại là “thất bại”?

16.  Cái vụ mà Trump nịnh Tập và nói là hãy mua hàng giúp tôi thắng cử đó là Trump nói trước đám đông người chứ không phải tay đôi (DT-29/6)

Tin phịa.

Ông Bolton viết TT Trump đã nói câu này với Tập trong một buổi họp chung giữa hai phái đoàn Trump-Tập. Đại Diện Thương Mại Mỹ, ông Robert Lighthizer xác nhận đây là nói láo, TT Trump chưa bao giờ nói câu này, trong buổi họp ông Bolton kể lại (biên bản buổi họp vẫn còn đó), hay bất cứ nơi nào khác.

17.  Rốt cuộc sau 4 năm của Trump dân Mỹ chúng tôi thiếu thốn đủ thứ, mua cái gì cũng mắc thêm (PN-29-6)

Tin phịa.

Trump mới làm TT có 3 năm 5 tháng, chưa tới 4 năm.

Thiếu thốn cái gì? Cái gì mắc thêm?

Dưới đây là biểu đồ lạm phát giá cả Mỹ:

Tháng 2/2017: Trump nhận gia tài của Obama: 2,74%

Tháng 7/2018: 2,95%, tăng 0,21% trong gần một năm rưỡi 

Tháng 3/2020: 0,17%

Lạm phát Mỹ

(TT Obama -TT Trump)

18.  Ủng hộ, ngợi khen, “kết bạn” với những kẻ cầm quyền độc tài ác đức (MP-27/6)

Bá láp.

Các cụ cuồng chống Trump coi các quan hệ ngoại giao quốc tế giống như chuyện ba thằng nhóc tiểu học kết bạn vậy. Thân thì ôm vai bá cổ, không thì phải túm đầu đánh lộn ngay. Thế mới nới “các cụ già tuổi không có nghĩa là đã trưởng thành”. Đừng nói chuyện quan hệ ngoại giao quá phức tạp đối với các cụ.

19.  Mối liên hệ mật thiết giữa VN và Hoa Kỳ tăng trưởng rất nhiều dưới thời chính quyền Trump so sánh với chính quyền Obama trước đó? Có ai thấy tréo cẳng ngỗng không? (NL-27/6)

Tin phịa.

TT Obama: chính thức thăm viếng VNCS, thăm chùa Tầu ở Sàigòn,ăn bún chả ở Hà Nội, giải tỏa cấm vận quân sự, cho phép VNCS tha hồ mua vũ khí cho công an đàn áp dân chống đảng.

TT Trump: chưa chính thức thăm viếng VN lần nào, chỉ đi Đà Nẵng dự hội nghị ASEAN và Hà Nội gặp Kim Jong Un, rồi ghé chào xã giao lãnh đạo VC. Không đi chùa, không ăn bún chả, “mật thiết, tăng trưởng” chỗ nào?

Tất cả những người có mắt để nhìn, cho dù chỉ còn một mắt, đều thấy rõ quan hệ Mỹ-VC nở rộ trong các thời TT Clinton và Obama. (Tuần tới, ta sẽ bàn về chuyện TT Trump chống cộng hay không, đừng lo!)

20.  Ông Trump hoàn toàn chưa làm điều gì có ích lợi rõ rệt cho cộng đồng người Việt ở Mỹ hơn các cộng đồng khác nếu không muốn nói rằng chính sách nhập cư khắc nghiệt của Trump còn đang làm khốn khổ khoảng 8.000 người Việt và gia đình họ đang chờ bị trục xuất về VN… (TDL-27-6)

Phe đảng và tin phịa.

Thế các TT Clinton, Bush con và Obama đã ‘làm điều gì có ích lợi rõ rệt cho cộng đồng người Việt ở Mỹ hơn các cộng đồng khác”? Xin đưa bằng chứng cụ thể ra xem.

Chuyện Trump ‘còn đang làm khốn khổ khoảng 8.000 người Việt …” là tin phịa với mục đích hù dọa cộng đồng. 8.000 người là tổng số những người tỵ nạn phạm pháp từ khi mới đến đất Mỹ thời TT Ford cho tới giờ (45 năm) chứ không phải do TT Trump bắt, họ phạm pháp không được vào quốc tịch Mỹ nhưng Mỹ không gửi trả về VN được vì VC không nhậnCác TT từ thời Clinton đến Bush con, Obama và Trump đều cố điều đình mà VC vẫn không chịu, chỉ nhận những người tới đất Mỹ sau tháng 7/95 thôi.

Tin phịa xưa hơn trái đất, vẫn cố nhai lại.

https://diendantraichieu.blogspot.com/p/tr.html

21.  Khoảng mấy chục người Việt tị nạn bị trục xuất khỏi nước Mỹ, gửi trả về Việt Nam, có những người không biết nói tiếng Việt vì qua Mỹ có mấy tuổi đầu, bố mẹ của họ khóc lóc quá trời, xin cho con được tiếp tục ở trong tù nhưng không được (TDL-27/6)

Tin phịa.

VC cho đến nay nhất quyết từ chối không nhận dân tỵ nạn nào qua Mỹ trước tháng 7/95, chỉ nhận ‘Việt kiều qua sau thời điểm đó’ (du lịch, du sinh) phạm pháp bị Mỹ trục xuất về VN thôi. Con số ‘mấy chục người’ bị trục xuất KHÔNG phải là dân tỵ nạn, mà là Việt kiều du lịch hay du sinh, không có đứa nào ‘không biết nói tiếng Việt vì qua Mỹ có mấy tuổi đầu’.

Nếu kẻ này viết sai, tôi thách đưa bằng chứng cụ thể ra đó. Không tin đi hỏi ông Giao Chỉ cho xem các con số trục xuất chính thức đi.

22.  Ngay chính TT Trump cũng nợ nhiều triệu USD từ Bank of China (NL-27/6)

Xuyên tạc.

Nợ 200 triệu đô đã được một công ty tài chánh Mỹ mua lại cách đây 8 năm rồi. TT Trump không còn liên hệ gì đến Bank of China từ đó tới nay.

Con của cụ Biden giao dịch bạc tỷ với Bank of China qua Rosemont và Bohai, sao không dám hó hé bàn tới?

23.  The Guardian tung ra tin “Rửa tiền Deutsche Bank-Kremlin-Trump”. New York Times điều tra. Nếu tiền từ Nga-Deutsche-Trump là chính đáng, TẠI SAO Trump lại phải dấu diếm, tranh đấu “like hell” để hồ sơ tài chánh không được đưa ra cho mọi người (HMH-29/6)

Xuyên tạc.

Chưa có kết quả điều tra, sao đã vội tố vậy?

Nền tảng tư pháp Mỹ khác với tư pháp CS ở chỗ người tố phải chứng minh ra tội, chứ người bị tố không cần chứng minh vô tội khi chưa bị tố gì hết.

24.  Con gái ông Trump được cấp phép tổng cộng 34 thương hiệu tại Trung Quốc kể cả máy bầu cử (voting machines) (NL-27/6)

Dốt và phịa.

Thương hiệu chỉ là giấy xác nhận đặc quyền để cấm dân Tầu ăn cắp tên ‘Ivanka’ để bán hàng giả. Tất cả các công ty của thế giới muốn không cho các chú Ba ăn cắp tên để bán hàng giả ở TC  đều phải xin trademark của TC, kể cả CNN, Facebook, Channel, Louis Vuitton, Sony, Samsung, Nike, Apple,…

https://diendantraichieu.blogspot.com/p/tttn.html

 Bà Ivanka chẳng có liên hệ xa gần gì đến máy bầu cử, mà TC cũng chẳng bao giờ có nhu cầu mua … ‘máy bầu cử’!!! Ở TC làm gì có bầu cử mà phải cần máy bầu cử? Tác giả hình như chưa biết TC là gì?

25.  Gia đình Kushner, con rể của Tổng thống Mỹ Donald Trump, đã cố gắng “dụ dỗ” các các doanh nhân giàu có tại Trung Quốc đầu tư vào một dự án của gia đình với lời hứa cấp thị thực EB-5 vào Mỹ (NL-27/6)

Xuyên tạc.

Bất cứ ai đầu tư nửa triệu đô vào Mỹ đều được cấp giấy vào sinh sống ở Mỹ, đó là luật chung từ hồi nào tới giờ, cả triệu người đã vào Mỹ bằng cách này, kể cả hàng loạt đại gia đỏ TC và VC. Không phải là đặc quyền của Kushner tặng.

Chuyện bình thường đối với cả triệu người, nhưng với những người có thành kiến ghét Trump thì đây là con dòi to hơn con voi mà họ đã khổ công bới rác tìm ra được để đánh Trump.

—————-

Thích hay ghét Trump là chuyện bình thường. Phao tin phịa, tin xuyên tạc để công kích là không lương thiện, vô tư cách.

at July 04, 2020

05-11-2020- They Want Modify Us with the COVID-19 Vaccine

05-11-2020- They Want Modify Us with the COVID-19 Vaccine

Dr Andrew Kaufman: They Want to Genetically Modify Us with the COVID-19 Vaccine

Dear anh,

Dr Andrew Kaufman joins Spiro Skouras with his laser-like way of describing what is happening around the world with this Globalist “pandemic”.

“In an unprecedented way, we see all of the governments around the world, with very few exceptions, all adopting the same policies, all at the same timeframe, right? This tells us that that this is a highly-coordinated effort, internationally and it tells us that there is a group of people or individuals who are directing the governments, essentially what to do.

“This is compatible with a Globalist agenda, moving towards a One World Government, with tighter control over the population, with a reduced population, with a new financial, monetary and currency system, and there’s evidence for all these aspects and I think the overall plan has been well laid-out in the United Nations document, Agenda 21, later changed to Agenda 2030.

“There are many other supporting documents, like you pointed out, the Rockefeller document and there are several others, that essentially gives all the details to this plan and they all correlate to the policies that are taking place right now.

“They basically want to inject genes into us and they’re using this procedure called ‘electroporation’, where they apply an electric current through two extra needles with the vaccine that creates little holes in our cells that allow the DNA to go inside our own cells and then they are supposed to make foreign proteins that supposedly generate immunity…

“They want to make us into Genetically-Modified Organisms, because this is the exact same procedure that they would be using to make a Genetically-Modified Organism.”

Dr Kaufman is risking his reputation and his medical license to get this information out as widely as possible because he doesn’t want his children to live in a world with no freedom, which he believes is where we’re headed if this isn’t rejected by the people.

Citing the CDC’s own publicly-available data, updated daily on their website, Kaufman points out that there is no “excess mortality” charting. In fact, the number of deaths this season is lower than it has been for the past three years. This leads him to think that this so-called pandemic is a “manufactured public relations, marketing operation.” There is no virus or disease but there are major changes to government policies in all areas that are severely limiting our freedoms.

He says the novel coronavirus has, in fact never been isolated and that its identity is based on tiny snippets of DNA fed into a computer model – which, he says is also how the SARS virus of the 2003 was identified. The COVID-19 virus is being classified as a member of that SARS family because it shares 80% of its genetics with SARS, based on this very slipshod modeling.

For some perspective on how genetically distant 80% is, human beings share 80% of our genomes with cattle.

Moreover, the sample population originally used to collect materials and identify the COVID-19 virus was 7 people – and there was no control group. None of the basic scientific standards have been met in the identification of the novel coronavirus, such as purifying and isolating the virus particle through a filter. Its identification is based solely on theoretical and digital modeling.

These are just a few examples of the bad science involved. There’s much more that he details here. In short, this pandemic a massive medical fraud. 

Since beginning of this #CoronaHoax, we’ve been hearing all kinds of contradictory information about the very nature of viruses, themselves, with some subscribing to Rudolf Steiner’s suggestion that viruses don’t exist at all but that they’re the excreted toxicity of cells, aka exosomes.

Spiro asks Dr Kaufman, “At this point, they haven’t been able to successfully isolate the COVID-19 virus, so we don’t know if it really exists, because they haven’t been able to prove it. And then, the testing, itself is very flawed…resulting in many false positives and the method by which they are testing does not really make sense, scientifically…

Koch’s Postulates, which are meant to prove and…reproduce the effect of viruses have never been accomplished for any viruses – so, would that call into question viruses, themselves, their existence?

“And if that’s the case, then how do you explain when people get sick, like when they catch the flu and they just feel like crap, I mean, we all thought it was viruses. What can you tell us?”

Dr Kaufman says it’s true that Koch’s Postulates have never been satisfied for the disease causation of any virus, which means that our ideas about viruses consist largely of dogma and are based on a scientific system that rewards this theory-based approach.

When asked about the bioweapons angle of this story, Dr Kaufman gives a surprising reply: “I’m sure there are Top Secret labs that are researching all kinds of weapons…but…if there’s really no biological model for a virus to cause this disease, I’m not sure what they’re engineering, exactly.

“I imagine that it would be extremely difficult to create some kind of biological organism that would cause disease, because most of the time when we have parasitic problems, they’re opportunistic.

“They’re there because there’s something not right in our body and they’re actually trying to help us get rid of that but in the process, they might get out of control and cause us problems. But I’m not aware of any organisms that some in and take over when you’re healthy. So, I think that would be a really tall order and I’m not sure that it’s even possible. 

“But if they did want to make us sick, the easiest thing would be to put toxins into our bodies and there’s many ways this can be done – and that has been done. For example, they’re putting fluoride in our water supply, which is a known toxin to the central nervous system. And even the CDC put out a guidance in the early 2000s, instructing parents of newborns not to use fluoridated water to mix baby formula, because it would affect the children’s neurological development, right? Yet, they put it in our water. You can look at what happened in Michigan, with the lead pipes and the lead poisoning from the water…

“But getting back to the mortality figures, we haven’t seen excess mortality, so if there’s any strategy like this, I don’t see evidence that it’s been deployed. Now, am I concerned that it will be deployed in a second wave or a future part of this psychological operation? Yeah, I concerned about that.”

As for the “Contact Tracing” programs, now hiring tens of thousands of workers, aiming to remove individuals from their homes to put them into a quarantine prison, Dr Kaufman says that the term, “Contact Tracing” was created in the 1931 and all of this has been in the planning stages for a long, long time and that it absolutely does represent an end to our freedom.

The Royal Academy of Sciences journal in May of 2019 dedicated the entire issue to managing a pandemic and methods of controlling the population, which is what “Contact Tracing” is for.

“So, they took the easy way to do this, because if they just come up with a completely fake illness and get everyone to volunteer to give up all their rights, it’s much easier and much less risky than unleashing some kind poison on the population that would really make people sick and die – and that would also put themselves at risk. How would they make themselves invulnerable?

“In a sense, it’s a kind of genius plot but it’s a very sinister genius plot.

“[Contact Tracing] is the next step to further get us to volunteer to give up our rights and this time, it’s mostly about privacy. And they may say that, initially, they’re doing it for the public health but we don’t really know what their real intention is and I don’t think there’s going to be transparency.

“There was a Contact Tracing app…it would give you a red light or a green light and that would be to let you into your office building or to use public transportation. So, these things, where we have freedom of movement, now we have to be granted a privilege based on this…

“One of the [Contact Tracing recruitment] ads that you showed, they were looking for people with military experience…they know how to knock down doors, they know how to look for evidence and trash places, they know how to intimidate people. That’s what they’re doing and their training and their experience in a military operation. So clearly, there’s an intention to use these types of tactics with our own citizens.”

All of this is covered in the 2010 Rockefeller “Scenarios for the Future of Technology and International Development” paper, under the heading of “Lock Step”. (http://www.nommeraadio.ee/meedia/pdf/RRS/Rockefeller%20Foundation.pdf)

Spiro says, “It’s beyond Orwellian…Under the guise of this pandemic, it could be used to achieve many goals…one of them…is disappearing dissidents. Remember, at the beginning of this outbreak, at the beginning of the year? We had see all these videos coming out of China…there were so many videos of men in full hazmat suits…dragging people out of their homes, literally kicking and screaming. And if you look at who was filming those videos…they were *with* those dragging people from their homes. So, how did those videos get shared on social media, with the tight clampdown that China has? I think that there’s a chance that they wanted the world to see those videos and to terrify people…and to normalize the idea.”

Dr Kaufman says that if you want to know what the vaccine agenda is, it very easy to find out, you just need to read their Agenda 2030 documents.

“All of these measures are really voluntary…If we rely on the authorities to give us approval to exercise our freedoms, they’re going to take more freedoms away, as they’ve been doing. So, while I respect people who want to go and protest at city hall or at the state capital, they are coming from the right point of view but they’re just asking the authority figures, the government to give them permission, when they don’t need permission from the government, they already have permission because they have inalienable rights.

“It’s not really a decision for me it’s just what I feel that I have to do to preserve a way of life and the way that I want to live, for me and for my children.”

Running Time 55 mins: