Soi Gương

hay Chuyện Người Ta

Nói về, viết về, nhìn thấy, nghe thấy người ngoài, có thể thấy mình rõ hơn. Không rõ tôi lấy ý này ở đâu, xin ghi lại vì đúng với tôi ở những dòng chữ dưới đây.

Những gì tôi ghi chép dưới đây hoàn toàn tùy tiện, không theo thứ tự thời gian, không theo phân loại sự việc. Tựu trung, vẽ thêm vài nét về thằng tôi trong “tự sự”, trong “một chặng đời tôi.”

Chức sắc, nhân sự đặc biệt trong nhà tù cộng sản.

Trước hết, hai chữ “chức sắc” là cách nói thông thường để chỉ một số bạn tù được chỉ định làm gạch nối giữa tù nhân và nhóm công an coi tù. Tôi đoán rằng có những nguyên tắc, hay tiêu chuẩn để một người hay một nhóm công an có thẩm quyền, có trách nhiệm chọn lựa tù nhân nào đó giao cho “chức vụ.” Gạch nối chỉ để chuyển đạt một số điều chung chung, còn người công an vẫn có giao tiếp, có hành động trực tiếp với tù nhân. Tôi hay dùng chữ tù nhân vì đó là phương vị của những người tù chính trị Miền Nam. Hai chữ “Phạm nhân” dành cho các bạn tù hình sự Miền Bắc. Chúng ta, viên chức chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hòa không có “phạm” gì đối với bọn Cộng Sản Hà Nội. Bọn họ là kẻ cướp, chúng ta là người có của bị cướp. “Của” ở đây là vật chất, cũng là những giá trị tinh thần. Tiến đánh Miền Nam, tiến đánh nước Việt Nam Cộng Hòa, họ là “phạm” nhân của chúng ta.

Chỉ trong phạm vi mấy năm tôi bị nhốt ở nhà tù Thanh Cẩm, tôi nhớ có mấy chức sắc này: Trật Tự, Thường Trực Thi Đua hay Văn Hóa, Đội Trưởng, Thư Ký Đội. Không biết mấy nhà tù khác thì sao. Nhà tù thuộc hệ thống Công An Quản Lý Trại Giam chắc là giống với Thanh Cẩm.

Trật Tự – lúc mới đến trại giam Thanh Cẩm, trong các buổi học tập lúc đầu, tôi thường nghe 4 chữ “Thường Trực Thi Đua” để chỉ chức vụ giống hoặc gần giống như “Trật Tự”. Tôi nghĩ rằng bọn cộng sản là vua bịp bợm, đối với tù nhân nằm trong tay họ, như cá nằm trên thớt, họ vẫn bịp. Họ bịp rằng tù nhân phải thi đua không ngừng, từ đó có thể thay đổi số phận tên tù. Nên họ gọi Trật Tự là Thường Trực Thi Đua. Có lẽ tôi nhầm, họ gọi chức vụ “Văn Hóa” là Thường Trực Thi Đua thì đúng hơn. Bịp, chẳng có thi đua gì cả, chẳng có thay đổi gì cả. Vào tù không có tòa án phán xét, không có bản án, khơi khơi giam người ta gọi là cải tạo. Không có bản án, thi đua với cái gì. Thi đua với bản án 5 năm để hy vọng xuống 4 năm, còn có thể thi đua. Cải tạo, thi đua với “mút mùa lệ thủy” à? Bịp. “Mày cứ thi đua, lúc nào ông muốn thả thì ông thả”.

Về sau, tôi chỉ thấy họ dùng 2 chữ “Trật Tự”. Trật Tự nhận lệnh từ bọn công an để rồi truyền đạt cho tất cả tù nhân trong trại. Trong sinh hoạt anh ta nhận lệnh trực tiếp của Cán Bộ Trực Trại. Thực tế, mấy anh “Ban” trong Ban Giám Thị trại đều có thể ra lệnh cho anh ta. Nói chung, bất cứ anh công an nào ở trại cũng có thể ra lệnh cho anh ta. Nếu lệnh lạc có mâu thuẫn, lúc đó mới cần sự chính danh cho đường dây lệnh lạc. Mấy ghi chép trên tôi chỉ căn cứ vào kinh nghiệm và quan sát trong khi ở tù ở trại Thanh Cẩm.

Vậy, Trật Tự là tù nhân giữ chức quan to nhất trong xã hội nhà tù. Nếu “ông quan” không quên “thân phận thằng tù” của mình, biết thương những người cùng cảnh ngộ tù đầy, biết cách áp dụng, thi hành uyển chuyển lệnh của bọn công an, biết cách bao che cho bạn tù, thì thần dân trong xã hội nhà tù dễ thở. Ông quan được thần dân tôn trọng, thương yêu. Trở thành một ông quan nhân từ rất khó, nói thì dễ, làm thì khó vô cùng. Đó là lý thuyết, là chuyện mộng mơ ít có thật. Ở Thanh Cẩm, có một ông quan gần như vậy, thần dân thường gọi ông là “Bảy Chà.” Anh tên thật là Nguyễn Văn Bảy, hiện ở Burke, VA, Hoa Kỳ. Nhưng được “dân” yêu, thì nhiệm kỳ của anh sẽ không lâu. Bọn thống trị cần những anh gạch nối cứng rắn với tù nhân. Riêng với nhà tù Thanh Cẩm, một dạo ở Hoa Kỳ sôi nổi vụ một anh cựu Trật Tự bị một ông Linh Mục tố cáo là giết bạn đồng tù. Chuyện này tôi sẽ trở lại sau này. Ở đây, tôi chỉ ghi vắn tắt, đó là một tố cáo quá đáng, “tố cáo” bị lợi dụng.

Công việc của anh Trật Tự là mỗi sáng đi mở khóa các buồng giam, buổi tối đi khóa. Anh đi một mình hay với Trực Trại. Đi một mình nếu tình hình xã hội yên lành, anh được tín nhiệm. Như vậy, mỗi khi cần mở cửa này, cổng nọ, anh được giao cho chùm chìa khóa các buồng, cả cổng khu kiên giam, nhà bếp, bệnh xá, anh đi đến đâu nghe leng keng đến đó do anh hay chạy. Xong việc, anh trả lại tên Trực Trại chùm chìa khóa. Sau đó, anh đứng đếm số tù nhân ra khỏi cổng trại khi các đội đi lao động. Đếm giùm tên Trực Trại, ghi chép giùm tên Trực Trại. Suốt ngày anh bận rộn với những chỉ thị, lệnh lạc từ các tên công an coi tù. Nhiều anh tỏ tính sốt sắng cần mẫn trong công việc, chạy suốt ngày giữa các buồng, giữa đám tù nhân. Có những anh Trật Tự tổ chức đường dây báo cáo của riêng mình trong xã hội nhà tù. Hơi quá “làm tốt” nhiệm vụ được giao phó. Tóm lại, anh Trật Tự hiện diện khắp nơi, mọi lúc trong sinh hoạt của xã hội nhà tù. Đi ra Bưu Điện Huyện Cẩm Thủy cũng có anh, hoặc anh Văn Hóa, về phát quà cho anh em, cũng một tay anh kiểm soát dưới sự điều động của bọn công an. Các đội đi làm về chờ nhập trại, cũng chính anh lục xét mỗi tù nhân xem có mang gì trái phép vào trại. Thường anh là người “gánh” cơm lên buồng kiên giam, phân phát cho tù kiên giam. Bọn cộng sản hay dùng chữ “tay sai”, có lẽ đây là trường hợp hiếm hoi đúng. Tôi đoán rằng việc chọn tù nhân nào làm Trật Tự là do Cán Bộ An Ninh phối hợp với Cán Bộ Trực Trại quyết định. Ý kiến của Cán Bộ An  Ninh có lẽ nặng ký hơn. Với chức vụ Văn Hóa dưới đây, cũng vậy.

Văn Hóa – Tôi quên mất tên gọi chính thức của chức vụ này, nhờ bạn nào điều chỉnh giùm, chỉ gọi tắt là “Văn Hóa”. Có lẽ chức vụ này giống với “Thường Trực Thi Đua” hơn, vì anh này lo về các sinh hoạt văn hóa trong tù. Anh lo chuyện văn nghệ, chuyện đọc báo, chuyện vui chơi ngày Tết, ngày kỷ niệm đặc biệt, chuyện sinh hoạt giải trí cho tù nhân. Anh ta cũng có thể là người đi lãnh quà gia đình gửi qua bưu điện cho tù nhân. Vài tháng anh đi một đợt, theo lệnh công an trại. Trật Tự và Văn Hóa là hai anh “Tự Giác” cao cấp, nhưng phạm vi đi lại có lẽ không bằng nhóm tù tự giác đi rừng. Tóm lại, anh cũng là một gạch nối truyền đạt lệnh của bọn công an coi tù đến tù nhân. Nhiệm vụ của anh thu hẹp hơn, nhưng nặng về “chính trị, an ninh tình báo” hơn, và cũng dính đến khía cạnh “đời sống” của tù nhân nhiều hơn so với chức vụ Trật Tự.  Anh Văn Hóa hắc ám, bịa ra nhiều thứ luật lệ kìm hãm sinh hoạt thường nhật, làm khổ tù nhân. Anh Văn Hóa hiền lành, tìm nhiều cơ hội cho tù nhân cải thiện sinh hoạt.

Đội Trưởng – Tôi không rõ Quyết định chọn người tù là Đội Trưởng một đội do đâu. Có lẽ thời gian đầu do phía An Ninh, phối hợp với Trực Trại cho cán Bộ Quản Giáo ý kiến chọn lựa. Về sau, có lẽ Quản Giáo chọn Đội Trưởng. Đội Trưởng cũng là một gạch nối giữa bọn công an coi tù và tù nhân trong một đội. Như vậy, phạm vi quyền hạn nhỏ hẹp hơn hai chức vụ trên. Đội Trưởng nhận lệnh của Quản Giáo để điều động, đốc thúc anh em lao động, đó là nhiệm vụ chính. Đội Trưởng lo tổ chức sinh hoạt cho anh em trong đội, như họp hành học tập, đọc báo, kiểm thảo, sinh hoạt thể dục, vệ sinh, mua bán, nhận quà, … theo lệnh lạc từ mọi chức vụ cao hơn của công an hay tù nhân.

Thư Ký Đội – Phụ tá cho Đội Trưởng. Việc chính là chi chép biên bản họp hành, học tập để Đội Trưởng giao nộp cấp trên.

Y Tá trại – Bọn Ban Giám Thị hoặc Trực Trại lựa một, hai tù nhân có hiểu biết, có khả năng về y khoa (hơn tù nhân khác) để coi công việc dính đến vấn đề y tế trong đám tù nhân, gọi là “Y Tá trại”. Đó là về nguyên tắc. Bọn cộng sản có châm ngôn “Chuyên Bất Như Hồng”. Họ coi ý thức hệ chính trị, lập trường gia cấp quan trọng hơn khả năng chuyên môn. Thuở ban đầu, trong nhóm tù từ Long Thành ra Thanh Cẩm có vài vị tốt nghiệp Đại Học Y Khoa ở Việt Nam Cộng Hòa hay Tây Phương. Mấy bạn y tá từ nhóm tù hình sự vẫn tiếp tục công việc. Đến lúc số tù Miền Nam tăng lên nhiều, bọn công an trại lựa y tá trong nhóm tù Miền Nam. Cảnh nực cười, một tù nhân là Bác Sĩ Trương Khuê Quan, Giám Đốc Quốc Gia Nghĩa Tử, đi khai bệnh. Ông củng phải hả họng, cử động tay chân đầu cổ theo chỉ thị của Y Tá trại. Cuối cùng chàng Y Tá hỏi Bác Sĩ muốn khai bệnh gì, nghỉ (lao động) vì bị bệnh gì, chàng cho vào hồ sơ. Ở Mỹ, điều này là đương nhiên, khi vị Bác Sĩ ở vai trò bệnh nhân, ông (bà) ta được chẩn bệnh như một bệnh nhân. Ở Việt Nam, ở nhà tù cộng sản Việt Nam, chuyện đó khiến bạn tù cười. Tôi đoán mò cho vui, rằng có thể anh Y Tá hỏi, như thế ghi triệu chứng của bệnh thế nào hở Bác Sĩ? Y Tá trại cũng là một chức “Quan” quan trọng. Quan này nhiều quyền lực lắm. Tù nhân được nghỉ lao động hay không, do Quan. Quan quyết định ai được nằm ở bệnh xá, được tiêu chuẩn ăn cháo nấu từ gạo, thời gian bao lâu, do Quan. Cho nên, cũng có Quan nhân từ, có Quan hung ác.

Vệ Sinh Buồng – Tù nhân này lo dọn dẹp vệ sinh trong buồng, ngoài sân trong khuôn viên của buồng, trong 4 bức tường vây quanh khu vực buồng. Chức vụ này thường được giao cho người kém sức khỏe trong buồng. Nhắc lại, một buồng có nhiều đội sống chung. Lúc ban đầu, các tù nhân trong một buồng thường tin rằng bạn tù giữ Vệ Sinh Buồng được giao cho nhiệm vụ báo cáo tù nhân khác, gọi là “ăng ten”. Sau này, quan niệm trên mất dần.

Ăng Ten – Cán Bộ An Ninh trại, Cán Bộ Tực Trại, Cán Bộ Quản Giáo Đội, đôi khi, cả mấy tay tù nhân làm Trật Tự, Văn Hóa, chọn lựa, chỉ định bạn tù nhân nào đó làm công việc báo cáo thường xuyên hành vi, tư tưởng các bạn tù khác. Đó là họ tổ chức hệ thống báo cáo ngầm. Tù nhân gọi những người nhận nhiệm vụ báo cáo là “ăng ten”. Mới đầu, các “ăng ten” tin rằng việc này giúp họ thêm “điểm cải tạo tốt”, sẽ được về sớm hơn. Bánh vẽ, vẫn trò bịp bợm muôn thuở của mấy anh cộng sản. Thực ra, cũng có ăng ten vì bị ép buộc, có ăng ten “may mắn” được chọn. Từ đó, có anh báo cáo vớ vẩn, có anh báo cáo thiệt tình, báo cáo với ác ý.

Tù kiên giam – Tù kiên giam là tù nhân bị nhốt trong khu vực đặc biệt gọi là “Nhà Kiên Giam, Khu Kiên Giam”. Bình thường, tù kiên giam bị nhốt một mình một phòng, hoặc vài ba người một phòng. Tù nhân ở khu này thường trực bị cùm một chân hai 2 chân vào một thanh sắt gắn kiên cố vào sạp xi măng, nơi tù nhân nằm. Mỗi ngày được mở cùm một, hay vài lần, một chân hay cả 2 chân, để làm công việc vệ sinh, ăn uống. Tiêu chuẩn ăn uống, quần áo, ít hơn ở “dưới làng”. Tù kiên giam, như vậy, rất ít cơ hội hoạt động. Lâu lâu được đưa ra sông tắm, giặt một lần, đó là tôi đang kể chuyện ở nhà tù Thanh Cẩm. Lý do để nhốt tù nhân vào khu kiên giam rất đa dạng. Vì tù nhân được coi là thành phần nguy hiểm nếu để sống với mọi tù nhân khác. Nguy hiểm về bạo lực, nguy hiểm về chính trị, … Những bạn tù này thường bị nhốt thường xuyên trong khu kiên giam, hoặc bị nhốt dài hạn, bị nhốt lâu nhưng có thời hạn rồi được cho về sinh hoạt dưới “làng”. Khu kiên giam cũng gọi là khu kỷ luật. Vậy người ta cũng nhốt bạn tù bị kỷ luật ở khu kiên giam. Thường thời gian nhốt có kỳ hạn.

Đội Nhà Bếp – Đội Nhà Bếp bao gồm những bạn tù làm công việc nấu bếp, cung cấp mấy bữa ăn hàng ngày cho tù nhân “trong làng.” Nhân gian truyền tụng: “Giàu nhà kho, no nhà bếp”. Về chuyện ăn no, tôi không rõ nhà tù thời Việt Nam Cộng Hòa ra sao, tù nhân có được ăn no không. Kinh nghiệm cá nhân, tôi không bị tù, nhưng bị nhốt bóp Cảnh Sát Quận 3 Sài Gòn một ngày, hôm Hòa Thượng Thích Quảng Đức tự thiêu. Buổi chiều ngày bị nhốt họ cho tôi một tô cơm trắng đầy, trên để miếng trứng chiên lớn, kèm theo đôi đũa tre. Tôi vốn thích trứng chiên, nên ăn thoải mái, nhưng không hết tô cơm. Chỗ cơm đó gấp đôi mức cơm bình thường tôi ăn ở nhà. Kết luận đơn giản và không chính xác là tù được ăn no. Ăn “ngon”, dù ở đâu, thời nào, còn tùy mỗi người, không bàn chuyện này. Riêng tôi, hôm đó tôi ăn ngon miệng. Còn ở nhà tù của Cộng Sản Hà Nội, cụ thể ở nhà tù Thanh Cẩm, tù nhân luôn luôn bị đói. Mỗi năm có một ngày tôi biết mình được ăn no, là một trong 3 ngày Tết, còn 2 ngày kia ăn không bị đói như bình thường. Tôi nói tù nhân nói chung mà không sợ nhận định chủ quan vì tôi nghe ai cũng than đói. Do đó, được làm ở nhà bếp là có cơ hội ăn no hằng ngày. Được “ăn no” trong nhà tù Cộng Sản Hà Nội là cuộc sống trong tù được bảo đảm đến 80% an lành. Bình thường, đời sống tù nhân chỉ hy vọng cỡ 30%, 40% an lành. Mấy con số này, quan niệm “an lành”, nếu cần thảo luận, tôi xin để ở chỗ khác trong “tự sự” này, nếu nhớ được.

Như vậy “làm ở nhà bếp” là được ưu đãi hơn đa số tù nhân khác. Ưu đãi này từ đâu đến. Những vị bị tù cộng sản vì là viên chức và sĩ quan quân đội của Việt Nam Cộng Hòa, hoặc vì lý do chính trị, thường có câu trả lời chung. Ở đây, tôi trả lời để những vị chưa trải qua nhà tù cộng sản đọc đến chỗ này, biết thêm về người tù bị cộng sản nhốt. Tôi là tên lạc quan, cho rằng 30 % trường hợp do may mắn tình cờ. Còn lại, 40% do “công trạng”, 25% do lý lịch, 01% do “chạy chọt”, còn 4% dành cho sai số. Hai loại “công trạng” và “lý lịch” bao hàm cả cung cách sống trong nhà tù để thêm vào công trạng và lý lịch hồ sơ. Mấy con số hoàn toàn là nhận định chủ quan, xin đừng tin ngay. Nhưng tôi không tin là có chỗ nào để tra cứu, tìm hiểu về mấy con số này, may ra có trong văn khố của bọn Công An Cộng Sản Hà Nội.

Tự Giác – Tù tự giác là người tù đi lao động mà không có công an đi kèm. Đội Tự Giác, bình thường, cũng báo cáo xuất trại, nhập trại như các đội khác. Thực tế, vì mỗi tù nhân trong đội tự giác thường làm việc riêng rẽ, giờ giấc không khớp nhau, nên họ ra vào trại theo từng cá nhân, chỉ cần báo cáo với tên công an gác cổng. Là tù tự giác, tù nhân đã được hầu hết công an trong trại biết đến, nhận diện, nên ra vào cổng trại, gặp ở khắp nơi, trong rừng, trong làng dân chúng địa phương, bọn công an không thắc mắc, ngạc nhiên về tính an ninh. Do đó, về đời sống, người tù tự giác dễ dàng xoay xở để được “no và ấm”. “No” và “ấm” là hai chữ của ân sủng, của Thượng Đế đối với một tù nhân trong nhà tù cộng sản. Không chỉ no và ấm, đôi khi họ còn được “giải trí’ nữa. Chuyện thực ở trại Thanh Cẩm, vài bạn tù ở nhà bếp và tự giác tham dự nhẩy đầm (khiêu vũ) của bọn công an trại. Có bạn tù tự giác còn hẹn hò với phụ nữ trong rừng gây náo động trong đám gia đình công an ở trại. So sánh giản lược, tù tự giác sướng hơn tù nhà bếp. Đội Tự Giác ở chung với Đội Nhà Bếp, với Bệnh Xá, ở buồng 1, gần nhà bếp.

Lại câu hỏi như tù nhà bếp, do đâu mà một tù nhân được “là” tù tự giác. Xin dùng câu trả lời chủ quan ở phần tù nhà bếp vì tôi cho rằng hai nhóm tù này giống nhau.

Bản thân tôi bị nhốt kiên giam một lần, từ chiều đến nửa đêm, vì nấu nướng trong khuôn viên buồng. Bình thường, tù nhân không được nấu nướng. Được thả vì là đêm 30 tết. Bị nhốt ngắn hạn, nên chưa nếm mùi cùm. Cái nhà kiên giam đó do tôi trộn vữa, trộn bê tông để xây nên. Oái oăm cuộc đời.

Vào lúc “cuối trào”, lúc số ít tù Miền Nam còn ở Thanh Cẩm, theo mấy chàng công an, để chờ ngày về sắp tới, tôi phải nhận chức Thư Ký Đội Hồ Tiêu theo đề nghị của Đội Trưởng Lê Thiên Bảo. Bảo nói tôi “văn hay chữ tốt”, tức là đội không cần họp hàng tuần, nhưng tôi vẫn sản xuất được biên bản buổi họp, với những thảo luận sô nổi, với những kết quả lao động suất sắc. Để thưởng công, anh em trong đội cho tôi ấm chè trong khi tôi “sản xuất”. Cả bọn ngồi bên gô chè tán dóc, tôi cũng ngồi đó, nhưng bịa chuyện. Lúc đó đội còn mấy mống, Quản Giáo tập họp đội, nói, anh Lê Thiên Bảo làm Đội Trưởng nhé, rồi anh chọn anh nào làm Thư Ký đi. Nhẹ nhàng, đơn giản như không. Vậy mà trước đó chừng 3 năm, năm 1980, khi Đẻ tôi cùng bà Mẹ Vợ từ Sài Gòn ra Hà Nội, để từ Hà Nội vào thăm tôi ở Thanh Cẩm, mấy cái “chức” đó “đắt giá” lắm. Một ông anh dân Hà Nội đưa hai cụ vào Thanh Cẩm. Ông anh là Hiệu Trưởng trường nào đó, có thẻ đảng viên, nên chuyến thăm nuôi kéo dài gần hết buổi sáng, chừng 4 tiếng đồng hồ. Các cụ và ông anh kể chuyện, xe trâu ngừng chân chỗ nào đó, ngay trước nhà một ông cán bộ ở trại. Ông cán bộ ra đón các cụ vào nhà uống nước, hỏi có muốn cho tôi được làm Đội Trưởng không, hoặc “chức” cao hơn, hay vào làm ở nhà bếp. Các cụ ậm ừ, nói để suy nghĩ. Trì hoãn để hỏi ý kiến tôi. Các cụ muốn tôi được an nhàn hơn dù biết phải mất tiền. Tôi phải van xin các cụ đừng nhận lời. Công việc của tôi hiện cũng ổn (đánh vữa). Tôi phải nói rõ hơn với các cụ, khi giữ một chức vụ nào đó trong xã hội nhà tù là tự nhiên mình bị tách rời khỏi anh em, bị coi là tham gia việc đàn áp anh em, với tôi, việc đó không được. Các cụ nói, anh công an đó nói nếu làm ở nhà bếp sẽ được thừa thãi quanh năm, nên các cụ thuyết phục tôi nhận làm nhà bếp. Tôi vẫn từ chối. Tôi cho rằng cứ được ưu đãi là đã xa lìa đồng đội. Cụ nói tên chàng công an, chàng công an đó là “Ban” coi về an ninh. Khi đó không khí còn căng thẳng đối với tù Miền Nam. Sau này mọi sự dễ dàng hơn, thoải mái hơn.

Cũng ở giai đoạn Đội Hồ Tiêu tôi gặp lại anh chàng công an dạy tôi chữ “vét đĩa”. Nhắc lại, thuở ban đầu, chàng công an này là “ông quan” Quản Giáo đội xây dựng, bắt tù nhân gọi dạ bảo vâng, hai tay kính cẩn. Một giai đoạn tôi không gặp chàng, chắc chàng trông coi đội khác. Rồi chàng xuất hiện gặp Nguyễn Cao Quyền về chuyện gì, có lẽ về bản vẽ xây cổng trại, hôm đó chàng gọi tôi là “vét đĩa”, cho  anh Quyền một cơ hội vui với tràng tiếng cười thoải mái. Vét đĩa là “đồ cặn bã”, vét đồ ăn thừa trên đĩa của người ta. Tôi đoán vậy. Bây giờ, 1983, chàng công an đeo lon sĩ quan, lên làm Trực Trại. Khoảng giữa năm 1983, tôi được nhận gói quà gia đình gửi vào, trong đó có cái quần jean giả, may bằng vải dày, mặc mùa đông ấm, và bền. Chàng ta tìm tôi, điều đình mua lại cái quần đó, nói tôi mặc ở đây phí đi. Ở Miền Bắc, người ta gọi là “quần bò”, đắt và khá hiếm trên thị trường. Cuối cùng ngã giá, chàng kiếm cho tôi một cái quần của công nhân, thứ vải tốt, và 30 bơ gạo trắng. “bơ” là lon sữa bò. 30 lon sữa bò gạo trắng ở vùng núi này cũng khá nhiều tiền. Chàng cầm cái quần jean giả đi, ít phút sau một anh tù (tôi quên là ai) mang cho tôi bịch gạo, nói đây là 10 bơ ông … bảo mang đưa anh. Hai hay ba hôm sau, anh chàng đầu gấu bên hình sự tên Bình Bưởi, chạy qua, đưa tôi cái quần công nhân, nói, ông (tôi quên tên chàng trực trại dù bây giờ tôi vẫn nhớ khuôn mặt đó) bảo cháu kiếm cho chú cái quần này. Bình Bưởi tôi biết từ trước. Hỏi mày kiếm đâu cái quần này, trả lời, cháu không biết, chỉ thấy ông ấy đưa, chắc của thằng nào dưới làng mới có thăm nuôi. Tức là, cả gạo lẫn quần đều là của trời ơi chàng Trực Trại lấy của những ai đó. Chỉ trả 10 bơ thôi, chàng công an quịt của tôi 20 bơ gạo. Nhắn tin nhắc nhở, chàng cũng ậm ờ. Nhưng có lẽ vì nhớ thiếu nợ tôi số gạo, nên lúc tôi cần nhờ lại, chàng giải quyết ngay.

Mỗi buổi chiều, sau 9 tiếng kẻng báo hiệu đóng cửa buồng. Chàng Trực Trại dắt anh tù Trật Tự đi các buồng khóa cửa. Khi nghe 9 tiếng kẻng, các Đội Tưởng cho tù nhân xếp hành trước cửa buồng, đợi Trực Trại và Trật Tự đến kiểm điểm nhân số của buồng, rồi cho vào. Xong, khóa cửa. Tiếng xâu chìa hóa leng keng vì anh Trật Tự lo chạy đi buồng khác, xem hàng ngũ tù nhân có nghiêm chỉnh không, trước khi Trực Trại đến. Chiều hôm đó, vừa mới nghe 9 tiếng kẻng, cậu bé Tuấn Râu chạy ào vào sân gặp tôi, nói, anh Anh, lúc nãy nhập trại, thằng chèo … (ám chỉ Trực Trại) tịch thu của bọn em mất mấy bơ chè mới mua. Bọn nó nói nhờ anh lấy lại giùm. Tôi ngạc nhiên hỏi, làm sao anh lấy được. Đáp, bọn nó nói nếu anh nói là của anh, chắc chắn tên chèo … nó sẽ trả anh. Nói chưa dứt , Tuấn Râu đã chạy vọt xuống mấy buồng dưới. Bọn mấy cậu nhỏ này thuộc đội vận chuyển, lúc đó ở buồng 2. Tôi chạy theo, vừa vặn thấy Trực Trại và Trật Tự đi từ buồng 1 lên buồng 2. Thằng bé chạy về kịp lúc. Tôi đành xuống buồng 3, kế buồng tôi (buồng 4) chờ sẵn ở cổng buồng, tức cổng vào sân buồng 3. Thấy tên Trực Trại từ buồng 2 đi lên, tôi đón và nói ngay, hồi chiều tôi nhờ mấy đứa nhỏ mang vào mấy bơ chè, chưa kịp nói trước với cán bộ nên cán bộ tịch thu, tôi xin lại. Chàng Trực Trại ngần ngừ, rồi quay qua hỏi tay Trật Tự, túm chè đó anh để ở đâu. Đáp, ở nhà bếp. Chàng ta bèn phán, mai anh đưa lại cho anh Anh.

Nghĩa là mấy cậu nhỏ này ranh lắm. Lát nữa tôi sẽ kể chuyện mấy đứa này. Bọn nó biết cả chuyện “quần bò” của tôi, nên tin rằng nếu tôi nói là tên Trực Trại “chiều” ngay. Chính tôi cũng không ngờ có “uy tín” như vậy. Mộ tí uy tín vào lúc cuối mùa, lúc hai chữ này không còn ý nghĩa gây hại cho anh em, cũng có chỗ dùng đến.

Tóm lại, những gì tôi kể về mấy chuyện chức sắc trong nhà tù thường vẫn được nhiều người đặt trong khuôn khổ đơn giản, là sự đối nghịch cứng nhắc giữa “ta và địch”, giữa “kẻ nắm quyền và tên bị trị”, giữa “kẻ thua và người thắng.” Tôi chủ quan cho rằng, những khuôn khổ đơn giản đó “không đơn giản tí nào”, bởi vì, nó xẩy ra giữa những sinh vật gọi là con người. Gọi mấy tù nhân giữ chức sắc, gọi mấy bạn tù được ưu đãi, là tay sai cho bọn công an là cách quá giản lược cuộc sống một con người, là đánh đồng “cá mè một lứa.” Con người “sống” phức tạp hơn nhiều, không ai giống ai.

 Các Bạn Trẻ Phục Quốc

Ở phần nói về hai chữ Phục Quốc này, tôi đặc biệt nói về các em nhỏ ở cùng chúng tôi trong nhà tù Thanh Cẩm.

Phục Quốc là một tên gọi khá bao quát, bao gồm một số tổ chức, mặt trận, nhóm, của nhiều vị lãnh đạo tinh thần, các cựu viên chức chính quyền, sĩ quan, binh lính Việt Nam Cộng Hòa, đảng viên các đảng phái,… Theo báo chí Sài Gòn hồi đó mà chúng tôi có dịp “nghe đọc báo” mỗi tối, tôi ghi nhận một số danh xưng:

Lực Lượng Nhân Dân Vũ Trang Phục Quốc Việt Nam,

Mặt Trận Liên Tôn,

 Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng Việt Nam,

Tổ Chức Dân Quân Phục Quốc (thường gọi là nhóm “Nhà Thờ Vinh Sơn”).

Nhưng các em dưới tiêu đề “Phục Quốc” ở đây là các cậu nhỏ (lúc bị bắt), có thể hoặc chưa chắc thuộc các tổ chức và sinh hoạt kể trên. Từng em một có những hoàn cảnh riêng để bị bắt, và được gọi chung dưới danh xưng phục quốc. Nói chung, những công việc, những hành động của các em để bị bắt đều mang tính cách chống đối chế độ mới thống trị Miền Nam của người cộng sản, của đảng Cộng Sản, của Nhà Nước Cộng Sản. 

Khi chúng tôi từ Long Thành ra Thanh Cẩm, được phân phối cho ở 3 dẫy nhà gạch, mái ngói ở bên phải tính từ cổng trại nhìn vào, gọi là các buồng số 1, số 2, số 3, và cao trên cùng là số 4. Cứ độ một tháng, mấy tuần lễ là họ bắt chúng tôi mang hết đồ đạc cá nhân ra bày giữa sân, chúng tôi gọi là bầy hàng. Mỗi buồng một đống công an áo vàng, trông như bày sói, nhao nhao khám xét chúng tôi, xăm xoi từng tý mọi thứ đồ dùng của chúng tôi. Họ tịch thu cái này, tịch thu cái kia, la hét om sòm. Xong, cho lệnh ôm “đồ đoàn” cá nhân theo từng đội, qua buồng khác ở. Coi như không cho các đội ở chung với nhau lâu. Đôi khi, không xét đồ, nhưng xáo trộn đội. Người đội này đưa qua đội khác. Khoảng Tháng 7 năm 1977, họ cũng cho bày hàng, rồi đổi buồng, nhưng lần này, buồng 3 không có đội nào ở, hoàn toàn bỏ trống. Đội tôi ở buồng 4. Một tuần sau, một buổi tối, lúc tất cả tù đã bị nhốt trong buồng, cửa khóa ngoài, chúng tôi nghe tiếng người ồn ào bên ngoài, ở mấy buồng phía dưới. Không biết họ có đưa những ai đi trại khác hay không. Cả đêm mất ngủ, âu lo. Sáng hôm sau, đến khoảng 8 giờ vẫn chưa thấy mở cửa. Mọi khi khoảng 6 giờ sáng là tiếng Trật Tự hò hét bắt xếp hàng tập thể dục. Khoảng 9 giờ, cửa buồng mới được mở, nhưng Trật Tự và tay Trực Trại ra khỏi cổng buồng, khóa ngay lại. không có tập họp dưới sân như mọi khi.

Một hồi sau, từ sân buồng 4, tiếp giáp với “sân sau” buồng 3, cách nhau một bức tường, chúng tôi nghe tiếng ồn ào từ buồng 3. Tức là đêm qua, họ chuyển về trại này một số tù mới. Như vậy, chưa chắc đã chuyển ai thuộc nhóm tù Long Thành đi nơi khác. Các dãy nhà nhốt tù làm theo sườn núi, càng vào sâu, nhà càng ở khu đất cao hơn. Mái nhà của buồng 3, chỉ cao hơn sân buồng 4 chừng 2 mét đến 2.5 mét. Buồng 2 đối với buồng 3, buồng 1 đối với buồng 2, cũng gần như thế. Như vậy, từ sân buồng 4 nghe rất rõ tiếng ồn ào từ trong buồng 3, nhất là sạp nằm trong buồng có 2 tầng, người ngồi trên sạp tầng trên buồng 3 coi như ngang bằng với người ngồi sân buồng 4. Chúng tôi nghe tiếng hò hét, tiếng gõ nồi xong, vật dụng bằng sắt inh ỏi, rồi tiếng hát tập thể. Thời gian xẩy ra các sự kiện này có thể xê xích một ngày so với trí nhớ của tôi. Tôi nghĩ nó xẩy ra ngay buổi sáng đầu tiên nhóm tù mới chuyển đến vì chúng tôi bị nhốt trong sân buồng cả ngày họm đó. Cũng có thể nó xẩy ra hôm sau nữa, vì nhóm tù mới còn mệt sau chuyến di chuyển, hoặc vì sau một ngày thấy sự đối xử ở Thanh Cẩm có phần quá khe khắt. Cùng với tiếng ồn ào từ buồng 3, chúng tôi nghe tiếng chân chạy rầm rập. Ghé mắt nhìn qua khe cổng, chúng tôi thấy hàng đàn, hàng lũ công an áo vàng vác súng dài đứng dưới sân, rồi lên bậc tam cấp, vào cổng buồng ba. Có chuyện gì rồi.

Khoảng 10 giờ sáng, hai anh tù nhà bếp, lúc đó còn là các bạn tù hình sự, khênh nồi nước sôi lên buồng. Mỗi buổi sáng nhà bếp đều cung cấp cho chúng tôi nước sôi để uống, mỗi người chứa vào vật gì đó để dành uống. Vật thông dụng đựng nước sôi của tù Miền Nam là hộp sữa bột Guigoz, gọi là “cái gô”. Cái gô dùng cho đủ mọi việc, chứa nước uống, nồi nấu ăn, đựng nước “tắm” đêm mùa hè, … Chúng tôi săn đón hai bạn tù khênh nước sôi để dò tin tức về buồng 3. Các bạn lắc đầu không nói, đi ngay, khóa cửa buồng. Buổi trưa, lại hai bạn tù hình sự nhà bếp khênh “cơm” lên cho buồng 4, lúc này các bạn bạo dạn hơn, vắn tắt cho biết “họ” cũng giống như các chú (nghĩa là cũng tù Miền Nam) đòi hỏi gì đó.

Một ngày trôi qua, sáng hôm sau chúng tôi trở lại sinh hoạt bình thường. Tập họp dưới sân, không thấy tù Miền Nam nào mới. Cổng buồng 3 vẫn còn khóa bên ngoài. Lân la trò chuyện, chàng Quản Giáo hé cho biết, nhóm tù mới từ Quảng Ninh về.

Khoảng 3 tuần sau hay hơn, giờ tập họp buổi sáng ở sân trại bỗng nhộn nhịp hơn. Nhân số phía các đội tù Miền Nam tăng vọt, gần gấp đôi. Các bạn tù Quảng Ninh bắt đầu đi lao động. Họ được chia thành mấy đội, tính ra nhân số hơn 100 người. Có một chỗ ồn ào đặc biệt, nhìn kỹ, hơn mười mấy bạn tù trẻ măng như học trò. Họ hồn nhiên phá nhau, nhái cán bộ. Nhìn các bạn trẻ, tôi nhớ lại đám các cháu Bù Gia Mập. Hai năm rồi, chắc các cháu cũng gần bằng mấy bạn trẻ này. Mong rằng các cháu sau khi được bọn Việt Cộng “bồi dưỡng” để cho về với gia đình, giờ này chắc yên ổn bên Mẹ, Cha, Anh Chị Em.

Hầu hết gần hai chục các bạn trẻ, và một số các bạn lớn tuổi hơn từ Quảng Ninh về đều thuộc nhóm Phục Quốc. Xin nhắc lại ở đây, gọi các bạn Quảng Ninh về Thanh Cẩm là nhóm Phục Quốc không có nghĩa tất cả các bạn là thành viên hay cảm tình viên của các tổ chức Phục Quốc. Một số bạn có những hoạt động chống lại chính quyền Cộng Sản bằng những hành động riêng rẽ tự phát. Uất ức đối với bọn thống trị thì phản kháng, chống lại. Qua những câu chuyện sau này, tôi biết rằng từ Quảng Ninh đưa về Thanh Cẩm trên, dưới 150 người. Gần 30 bạn trẻ trên dưới 20 tuổi, còn một số các vị trên 30, 40 tuổi. Có vị như “bố Đệ”, lúc đến Thanh Cẩm đã trên 60.

Nói chuyện với mấy bạn trẻ, họ không biết vì sao từ nhà tù Quảng Ninh, họ lại đưa một số về Thanh Cẩm, một số về Trại Lam Sơn cũng thuộc Thanh Hóa, vùng trung du, gần Thành Phố Thanh Hóa hơn. Hầu hết mấy bạn trẻ Phục Quốc được đưa từ các nhà tù ở Sài Gòn như Phan Đăng Lưu, Chí Hòa. Ngày 17 Tháng 4, năm 1977, họ được đưa lên tầu Hương Giang làm chuyến viễn du đến Quảng Ninh. Quảng Ninh là một tỉnh phía đông bắc của Miền Bắc, có bờ biển và chung biên giới với Tàu. Mỏ than ở Quảng Ninh là nguồn sản xuất than đá chính cho Việt Nam. Các bạn Phục Quốc nhập vào các vị “đàn anh” có mặt ở đây, nhưng các bạn nhất định bất hợp tác với bọn Công An Giám Thị Trại. Họ không dám cho các bạn ra ngoài lao động. Gần 3 tháng sau, họ đưa các bạn về Thanh Cẩm.

Tất cả gần 150 người Quảng Ninh dồn vào Buồng 3, bình thường chứa 80 người, dồn lại chứa 120 người đã là chật chội lắm. Lúc đó là Tháng 7, trời hè, hơi nóng từ núi đá vôi nhả ra, hầm hập ngày đêm. Các bạn Phục Quốc tiếp tục cuộc chiến chống bọn công an coi tù, đòi hỏi cuộc sống dễ chịu hơn. Ngay sáng hôm đầu tiên tại trại, nhóm các bạn trẻ tụ họp nhau chào cờ, hát Quốc Ca Việt Nam Cộng Hòa. Từ sân buồng 4, chúng tôi nghe rất rõ. Tiếng hát Quốc Ca khiến tôi gần như nghẹt thở. Lâu lắm rồi mới được nghe khúc hát huyền diệu, thiêng liêng này. Cuộc chống đối của nhóm Phục Quốc kéo dài cả tuần. Họ tuyên bố tuyệt thực. 5, 6 ngày liền không ăn. Một số vị có tuổi bắt đầu lâm tình trạng nguy kịch. Bọn Công An Trại trả đũa, không ăn thì không cho nước uống luôn. Không thể để các vị có tuổi kiệt lực, các bạn đành chịu thua, bằng lòng bỏ tuyệt thực. Khoảng 3 tuần sau, họ đồng ý đi lao động. Bọn Công An Cộng Sản sẵn sàng để các bạn Phục Quốc chết, sẵn sàng để hàng triệu người dân Việt chết, miễn sao củng cố được quyền lực của họ.

Trong thời gian chống đối, bọn Công An Trại bắt đi một số người đứng tuổi. Các bạn trẻ cho biết sau này có thấy một số các vị bị dẫn đi trong 3 tuần chống đối đó, có vị ở đội này, có vị ở đội khác, nhưng còn những vị khác không biết đi đâu. Tôi nghĩ rằng chính các bạn trẻ đó cũng không biết hết mọi người cùng chuyến Quảng Ninh về Thanh Cẩm, cho nên sau này bọn Giám Thị Trại trộn lẫn tù Quảng Ninh với tù Thanh Cẩm, họ không nhận ra hết. Cũng có vị bị dẫn đi là đưa lên Kiên Giam, sau một vài tuần, được về dưới làng. Có 3 vị tôi biết, chừng cỡ tuổi tôi, trong nhóm Phục Quốc đó, là mấy anh Chu Đăng Đại, Mai Ngọc Y, Lê Thiên Bảo. Y và Bảo đều là võ sư. Họ bị bắt vì hoạt động cho Dân Quân Phục Quốc.

Từ khi các bạn tù Quảng Ninh về Thanh Cẩm, trại bắc đầu chuyển số các bạn tù hình sự qua khu K2, cách K1 khoảng 2 cây số hay hơn, họ bỏ trống dẫy nhà tranh bên tay trái, tức các buồng 5, 6 và 7. Buồng 8 là khu Kiên Giam, ở cách biệt hẳn trên khu đất cao của trại. Gần cuối năm 1977, Đội Xây Dựng của tù Miền Nam, tức là Đội 2, và Đội Xây Dựng của phía hình sự, cùng nhau phá các dãy nhà tranh, xây dẫy nhà gạch, mái ngói mới. Khoảng gần giữa năm 1978, mọi việc hoàn thành. Cũng là lúc đón tù Miền Nam từ các trại tù Quân Đội quản lý, các trại tù của công an ở phía cực bắc, chuyển về Thanh Cẩm. Họ chạy tù trước khi cuộc chiến biên giới bắt đầu.

Với nhịp độ xây dựng cấp tốc 3 dẫy nhà bên trái của trại, tức của khu K1, thêm xây lại hoàn toàn khu Nhà Kiên Giam, phần lớn các bạn tù Phục Quốc được điều động vào hai đội chính, Đội Vận Chuyển và Đội Lò Gạch. Đội Lò Gạch lo sản xuất gạch kịp với nhu cầu, Đội Vận Chuyển dùng xe cải tiến chở gạch, đá, cát, vôi về sân trại để Đội Xây Dựng dùng. Từ đó, tôi bắt đầu làm quen với các bạn trẻ của Đội Vận Chuyển. Đánh vữa xong, tôi có thì giờ đón các bạn đổ gạch, cát xuống, 15 phút hay nửa giờ nghỉ ngơi, sau đó kéo xe không đi làm chuyến khác. Vốn là một huynh trưởng Hướng Đạo, hàng chục năm sinh hoạt với các bạn thanh niên, Sinh Viên, tôi dễ dàng kết thân với các bạn Phục Quốc trẻ trung.

Tuổi xanh như nắng mai, Đời thanh niên thắm tươi” Nhạc sĩ Phạm Duy có rất nhiều bài viết về tuổi thanh niên, viết cho tuổi thanh niên. Trọn cuộc đời ông là cuộc đời của một thanh niên. Tôi lại một lần nữa phải nói: “Tiếc rằng” ông không qua cảnh sống một thanh niên trong tù, nhất là nhà tù Cộng Sản. Phạm Duy và bất cứ nhạc sĩ nào ở trong nhà tù Cộng Sản, sẽ miêu tả hình ảnh các bạn trẻ ở Thanh Cẩm như những Phù Đổng Thiên Vương, Trần Quốc Toản, sẽ không là những chiếc bóng dật dờ, những hình nhân cùn nhụt ý chí. Phạm Duy làm nhạc, soạn lời ca như một nhà viết sử, ghi lại chân thật những gì ông thấy, ông nghe, ông cảm trong suốt cuộc sống của ông, trong xã hội con người hiển hiện chung quanh ông. Và như vậy, chàng thanh niên Thanh Cẩm sẽ được ông thêm vài nét chấm phá, để các chàng không chỉ là “nắng mai”, không chỉ là “thắm tươi”, mà sẽ còn là kiêu hùng, là thách thức, là trí tuệ. Vâng các bạn trẻ Thanh Cẩm lúc nào cũng tràn đầy sức sống như nắng lên cho một ngày mới, lúc nào cũng vui cười như cánh hoa thắm tươi. Ngay cả khi các bạn ngồi bệt xuống đất nghỉ ngơi, kéo vạt áo tù thấm “bát mồ hôi” ướt đẫm khuôn mặt, hình ảnh các bạn vẫn sừng sững như dẫy núi bên kia bờ sông Mã, đầy nghị lực, đầy niềm tin, lạc quan, yêu đời.

Tôi còn nhớ mãi chàng thanh niên Hoàng Xuân Trường bụ bẫm, cận thị. Tôi nói bụ bẫm vì chàng thường lạch bạch như một cối xay lúa, bề ngang “bắt mắt” hơn bề cao, hay gọi là “bề thấp” cho đúng với chàng. Vậy thì, hai chữ “bụ bẫm” không có nghĩa chàng đủ ăn, mập mạp. Trong nhà tù Cộng Sản, nếu có lớp học tiếng Việt, tù nhân sẽ không bao giờ được học hai chữ “đủ ăn.”, và sẽ không bao giờ có ý niệm đủ ăn. Chàng Trường đeo đôi kính cận thị to, dầy làm tăng vẻ tròn trịa của khuôn mặt, nhưng trong sinh hoạt hàng ngày chàng “dấu” cặp kính đi, đôi mắt hấp háy, nheo nheo như khóe cười luôn luôn hiện diện. Tôi lại nói sai theo trí tưởng tượng, vì nếu có lúc nào khuôn mặt đó tròn trịa, ắt phải là trước Tháng Tư, 1975. Có thể tôi có cảm tưởng về khuôn mặt chàng như vậy, vì đôi môi chàng luôn nở nụ cười e thẹn. Chàng là con của một bà yêu nước. Tôi tin là bà yêu nước thật, cũng như tôi tin lớp lớp thanh niên Miền Bắc đã mang theo tấm lòng yêu nước khi vượt Trường Sơn, khi gửi nắm xương khô trên con đường mòn Hồ Chí Minh. Đảng, Nhà Nước, toàn bộ chế độ Cộng Sản bịp bợm, đánh lừa họ, kêu gọi và lợi dụng lòng yêu nước của họ. Vậy, bà yêu nước nên bà nằm vùng, để sau 1975, bà là Phó Chủ Tịch Hội Phụ Nữ Sông Bé. Cậu con trai của bà cũng yêu nước, hoặc vì cách yêu nước của cậu khác cách của bà, hoặc cậu được nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa dạy cho biết thế nào là yêu nước, nước Việt Nam là gì. Bây giờ, cậu thấy Nước của cậu đã mất, cậu thể hiện lòng yêu nước bằng cách chống đối kẻ cướp nước. Mẹ cậu, bà Phó bắt cậu phải yêu nước theo kiểu bà, là yêu Đảng, yêu Xã Hội Chủ Nghĩa. Cậu không nghe, bỏ nhà, lang thang. Ghé qua Chùa An Lạc, nơi cậu vẫn lui tới ngày xưa, tạm trú thân. Kết bạn với chú tiểu, hai chàng rủ nhau tạm rời kinh kệ, tìm cách cứu nước. Tuổi trẻ hăng say nhưng thiếu kinh nghiệm, Trường kết nạp người ồ ạt, bị bể. Bà Phó muốn chàng khai báo bạn bè lập công chuộc tội. Chàng từ chối. Bà từ con. Có lẽ từ con cũng là để bảo vệ mình, biết đâu, để bảo vệ nhiều đứa con khác của bà. Đó là điều dễ hiểu giữa thời khắc đen tối nhất của lịch sử nước nhà. Tôi thông cảm với bà.

Tại Thanh Cẩm, một buổi nào đó, gặp lúc tên Quản Giáo của Đội Vận Chuyển lười, cho nghỉ gần tiếng đồng hồ giữa hai chuyến kéo xe, tôi đọc cho Trường nghe bài “Quán Thế Âm”, thơ Phạm Thiên Thư, nhạc Phạm Duy. Tôi mong Trường hiểu rằng, cuối cùng, thế nào rồi các bà Mẹ vẫn luôn đi tìm con. “Nhớ con tìm khắp chốn …” Đọc bài đó, có phần do sự thông cảm với bà Mẹ của em. Có những buổi, mấy ngày liền, tôi nói chuyện với Trường về vài điều giản dị nhưng liên tục, sau thêm vài bạn trẻ hiếu kỳ “vào” nghe, rối dính luôn. Kể cũng vui, dừng xe đổ xuống gạch, cát, mấy cậu chạy ào đến sân vữa, và tôi bắt đầu ngay, nối tiếp câu chuyện lúc nãy, hoặc hôm qua. Tôi mang những gì học lóm còn nhớ được từ các cụ Hồ Hữu Tường, Nguyễn Đức Quỳnh, sắp xếp theo một dàn bài tạm bợ trong trí nhớ (vì không thể viết ra), trình bày với các em. Thí dụ như ý nghĩa mấy chữ theo lời bàn của cụ Quỳnh, Lập Ngôn, Lập Thuyết, Lập Công. Hoặc tôi thuật lại những gì có trong một tác phẩm mỏng, nhan đề “Lời Báo Cáo Của Một Nhà Khoa Học Nghiên Cứu Kinh Phật”, tác giả là Uông Trí Biểu, bản dịch của ai tôi quên mất.

Phải nhắc lại tôi là tên lười biếng và trí nhớ kém, nên không thể “chiếu phim Chưởng” cho các bạn trẻ nghe. Nhớ lõm bõm được đôi điều, kể lại để khuyến khích các bạn tìm biết thêm trong các nhà tù Cộng Sản chứa chất nhiều bộ óc đầy hiểu biết, nhiều kinh nghiệm sống. Lúc đó, tôi tiếc đã không tích lũy nhiều hơn, đã không “tiêu hóa” được những gì tích lũy, để đóng góp với các em.

Trường về trước, tôi mất liên lạc. Sau này, biết tin lúc em đã vào tuổi 60, tìm vui qua ly rượu. Tôi không dám hỏi xem những năm cuối đời của bà Mẹ, hai mẹ con ra sao.

Tuổi xanh như nắng mai. Vâng, tuổi xanh cả một thế hệ các cô cậu em tôi vẫn xanh, vẫn thắm, bất hạnh thay, ở vào một đất nước hào nhoáng vô hồn và mộng mị. Nghĩ đến Trường bên ly rượu, giữa đống vỏ chai không còn giọt nước, chỉ mong chàng quen thêm đôi chút với chữ “không.” Nhiều Trường như vậy là điều đáng tiếc cho nước mình, cho dân mình.

Hoàng Xuân Trường không phải là bạn trẻ duy nhất lập tổ chức, mưu tính đại sự. Bởi vì, nói theo cách nói của Đặng Hữu Chí mà lát nữa tôi sẽ kể chuyện, thì ở vào cái thời buổi những năm 1975, 1976, 1977, tuổi trẻ không làm một cái gì đó thì không được. Chí nói, tự nhiên mình phải tham gia, phải tổ chức, phải làm gì đó chống lại cái bọn cầm quyền, không cần ai rủ rê, thuyết phục, y như mình phải ăn, phải uống vậy.

Hôm nay thuộc năm 2020, những đoạn phim ngắn diễn ra ở phim trường Thanh Cẩm còn về được trong trí tưởng tôi. Phim mờ nhạt, lãng đãng, nhưng khuôn mặt, cử chỉ, ngôn ngữ, những nét đặc biệt từng diễn viên vẫn còn ghi nhận được. Mấy bạn chung nhóm Hoàng Xuân Trường, thêm bạn Ngô Tỵ, cũng cao, khuôn mặt nhỏ, triệu chứng bị bệnh, không rõ bệnh gì, và chàng thuộc lớp bạn tù sớm ra nằm trên đồi “Vàng Tâm hoa trắng”. Ngày xưa “ông Lão Bộc” của nhà văn Nguyễn Tuân chỉ ao ước khi chết được nằm trong cỗ quan tài bằng gỗ vàng tâm. Bây giờ nhiều bạn có cả một đồi vàng tâm bên cạnh. Không rõ sau này gia đình có tìm được nắm xương tàn của bạn Ngô Tỵ hay không. Hẳn là, khi ngất ngưởng bên ly rượu, Trường vẫn còn bàn bạc với Ngô Tỵ về cuộc chiến chống kẻ cướp nước. Không rõ chùa An Lạc có còn ở nơi chốn cũ? Có còn lưu dấu vết Ngô Tỵ, và nhiều bạn nữa “cùng vụ” với Trường nhưng bị phân tán đi nhiều nơi? Tôi bắt gặp hình ảnh Châu Thoại Cầu trong đoạn phim ngắn. Cái dáng điệu cao lênh khênh của chàng diễn viên khiến người ta tưởng chàng là kẻ vụng về, hậu đậu, cứ như chàng sắp sửa làm đổ, vỡ một vật gì đó trên đường chàng đi. Chàng ở Quận 3 nên dễ dàng tham dự vụ in tiền giả của Phục Quốc, có lẽ là Nhà Thờ Vinh Sơn, trên đường Trần Quốc Toản. Tôi nhớ mang máng, cùng vụ với Cầu còn có một bạn trẻ tên Ý, gầy còm, và một bạn tên Tuấn, nhỏ con không kém. Có  một bạn cao như Châu Thoại Cầu, tên Sang, gọi là Sang Du, vốn là lính Việt Nam Cộng Hòa, vào Tháng Tư, 1975, chàng mới 19 tuổi. Bạn Sang Du và hai bạn nữa là Trình, Dũng Cận cùng vụ với nhau, gọi là nhóm Gò Vấp, Phục Quốc.

Nguyễn Mạnh Tuấn, còn gọi là Tuấn Nhí, để phân biệt với một bạn Tuấn nữa, cũng “nhí” không kém, may nhờ vài sợi ria mép, nên được gọi là Tuấn Râu. Bạn Râu tên Lê Thành Tuấn, con của Giáo Sư Lê Thành Trị. Thấy nước nhà nguy biến, nghe theo tiếng gọi “Hội Nghị Diên Hồng”, cãi lời cha, xếp bút nghiên theo nghiệp đao cung, đánh nhau với VC. Bị tù, vẫn gàn như mấy thầy đồ. Còn bạn Tuấn Nhí, cậy mình là nhí, thích đùa chơi với bọn cán bộ trại. Trong dịp Tết năm 1978, Tuấn Nhí tham gia “tuyển lựa” vào Ban Văn Nghệ trại. Giọng hát ngọt ngào, da diết khiến nhiều bạn tù dự khán dơm dớm nước mắt, vì chàng hát một bài của Chương Trình Chiêu Hồi, bài “Ngày Về”. Ánh chiều tà hắt ngang hội trường làm bằng tre nứa, không có vách bao quanh. Không gian bỗng như bâng khuâng, nuối tiếc khi Tuấn hát lên: “Tung cánh chim tìm về tổ ấm, Nơi sống bao ngày giờ đầm ấm, … Nghe tiếng chim chiều về gọi gió, …” Bọn cán bộ có vẻ nghi ngờ khi thấy tiếng suýt soa từ đám khán giả, cật vấn Tuấn: Anh hát bài này là bài gì vậy? Trả lời, bài này của tác giả cách mạng là Hoàng Giác. Bọn cán bộ miễn cưỡng chấp nhận. Họ mấy khi ra đến Thành phố Thanh Hóa, nên chắc chắn cũng không biết gì về Chương Trình Chiêu Hồi của Việt Nam Cộng Hòa. Về Sài Gòn, Tuấn lấy vợ. Hai vợ chồng mở một tiệm nho nhỏ bán đồ điện. Trên tường treo ngạo nghễ cây thánh giá. Ở trong tù, vẫn hát thánh ca nhân dịp Noel. Về đời thường, lại ít lui tới nhà thờ. Hỏi chắc em ngoan đạo nên treo tượng Chúa. Trả lời, bọn chèo, về đây vẫn quen gọi Công An là “chèo”, nói em treo hình Già Hồ. Em bảo không có chỗ, rồi em treo thánh giá. Hỏi chắc em thạo về điện nên bán đồ điện. Đáp, tại vì em chẳng thạo một cái gì, không biết làm gì, đạp xích lô thì khi khách ngồi lên, phía trước đè xuống, còn em bỗng vụt lên giữa lưng trời. Bán đồ điện được cái sạch sẽ, bữa cơm, bữa cháo, khá hơn hồi ở Thanh Cẩm. Tuổi thanh xuân trôi theo dòng sông Mã, chỉ học được cách nặn mấy viên đất sét, biết nung mấy viên đất sét thành gạch. Ở Sài Gòn đất sét không có, lò nung đốt củi cũng không. Bán đồ điện cũng là “mạng hỏa”. Cũng là lửa như lửa địa ngục Thanh Cẩm, lửa địa ngục Sài Gòn. Đoàn Văn Ý mất rồi, Nguyễn Mạnh Tuán mất rồi. Châu Thoại Cầu còn ở San José, Hoa Kỳ.

Còn bạn Trình, và một số bạn nữa gần giống nhau ở vẻ thừa thãi tay chân, ngồi xếp bằng trên sạp cùng anh em ca hát, đôi chân, đôi tay khẳng khiu không biết để vào đâu. Tôi còn nhớ tên: Sang Nhốp, nhốp vì đeo kính cận, bạn Nhốp ở cùng cư xá với Tuấn Râu, không rõ có chung vụ không. Bạn Vinh, không rõ có phải tên bạn còn nối dài với chữ “sún”. Và các bạn Tâm, hình như “Tâm Mộc”, tôi mù tịt không biết vì sao thêm chữ “mộc” vào. Rồi các bạn Dương Chí Thành, Tôn Thất Tuấn, Ngô Bảo Châu, Thới, Tuân. Có thể tôi bỏ sót mất mấy bạn. Tất cả khi vào tù ở vào tuổi 16, 17, cho đến 20, 21. Hai bạn Tuân và Lê Đình Dũng lớn hơn, chừng 25, 26.

Các bạn Trần Trình, Nguyễn Đức Vinh, Sang nhốp, Bùi Viết Dũng, Ngô Quốc Thái, … tôi nói gần giống nhau, lúc nào cũng cười cười,  mang hình ảnh cậu bé thi sĩ Huy Cận đã nhắc đến. “Có chàng ngơ ngác tựa gà trống, e đến trăm năm còn trẻ thơ.” Các bạn mang hình ảnh đó với khuôn mặt lúc nào cũng hơi ngơ ngác, đôi mắt mở to nhìn người này, người kia như dò hỏi, trong khi miệng cười một nửa. Bạn Bùi Viết Dũng còn gọi là Dũng Cận thì như một nhà tu xuất sớm, xuất sớm nên thạo đời hơn các vị Linh Mục. Họ còn giống nhau ở hành động “đột kích” nhanh như cắt. Trông tất cả đều có vẻ khờ khạo, nhưng đừng tin vào những gì mình cảm thấy. Lúc đoàn xe tăng (đoàn tù kéo xe cải tiến) đang bon bon trên con đường đất chạy theo triền đồi, vừa tới khúc quanh, bọn công an Quản Giáo, Bảo Vệ còn lê khẩu súng dài mãi tít đằng xa, thì Trình ngơ ngác đã biến mất vào khu đồi sắn, kéo theo Dũng Cận không còn cận nữa, Sang Nhốp cũng hết nhốp, Vinh sún vẫn sún nguyên, tất cả tấn công chớp nhoáng, rồi cả bọn cùng chạy ào xuống. Mấy cụm sắn lớn hơn chục củ, đã được các chàng vùi vào đống cát trong thùng xe, thân cây sắn bẻ bỏ đi lúc nào không biết. Tất cả xẩy ra trong vòng 3 phút. Dòng sông Mã vẫn lững lờ trôi, đoàn xe vẫn lăn bánh đều đều, lọc cọc, cuộc đời hầu như không có gì thay đổi. Chỉ có lát nữa, tại đống lửa của chàng nấu nước cho Đội, sẽ thơm lừng mùi sắn nướng cho cả bọn cùng nhai, và cuối tuần thùng cháo sắn là bữa tiệc cải thiện. Đó là Trình, là nhiều bạn trẻ khác, họ phải tự mình tìm thêm lương thực để cùng nhau sống sót giữa chốn khốn cùng. Bọn công an áo vàng gọi chuyện “mưu sinh thoát hiểm” bằng mấy chữ “lang lác, lang lác.” Phải lang lác mới sống sót trở về, Cán Bộ ơi. Bây giờ, Mấy bạn Trình, Dũng Cận, Sang Nhốp, Vinh sún đều đang ở Mỹ. Riêng Ngô Quốc Thái ở Đức, Lê Đình Dũng ở Pháp. Ngô Quốc Thái đã có gia đình, cuộc sống tàm tạm, có sang Mỹ chơi hai lần do bạn Đặng Hữu Chí đài thọ vé máy bay. Còn Lê Đình Dũng, trong tù mấy bạn trẻ gọi là “Chị Hai”, trắng, điềm đạm, ăn nói từ tốn, khoan thai đến độ dụt dè như con gái. Tôi không rõ bạn ở Pháp ra sao, ít khi tôi có dịp liên lạc.

Bạn Tuân, bỗng dưng tôi quên mất tên đầy đủ. Bạn trong nhóm Quảng Ninh về Thanh Cẩm, cũng giữ sinh hoạt với mấy bạn trẻ kia, nhưng vẫn giữ khoảng cách, có thể vì bạn hơn đến 5, 6 tuổi, và bạn đi tù vì vượt biên. Gặp nhau ở Thanh Cẩm, Tuân cho biết gặp ông già vợ tôi ở Phan Đăng Lưu. Cụ bị bắt vụ Hồ Con Rùa. Bạn cũng là người cho tôi biết tin một người bạn của tôi, tên Nguyễn Thạc, con cụ Nguyễn Đăng Thục. Bạn gặp ở Cần Thơ lúc chưa bị bắt. Và cũng chính bạn báo tin Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn bị Việt Cộng xử bắn ở sân vận động Cần Thơ. Nói chuyện nhiều lần, tôi khám phá ra bạn có gặp tôi tại nhà vợ tôi mấy lần khi bạn đến chơi với cậu em áp chót của vợ tôi. Tuân hiền lành, kín đáo, chân bị tật. Hiện bạn thành công ở Sài Gòn.

Đặng Hữu Chí – Bây giờ tôi kể chuyện về Đặng Hữu Chí, người tù trẻ nhất ở Thanh Cẩm, 17 tuổi, lúc vào tù 16 tuổi. Chính ra, theo cái gọi là qui định của bọn chính quyền Hà Nội, lúc chuyển tù Miền Nam ra Bắc, họ sẽ không chuyển các tù Phục Quốc dưới 18 tuổi và trên 60 tuổi. Ngày 17 Tháng 4, năm 1977, bọn Công An coi tù ở Trại Lê Van Duyệt cho lệnh tù chính trị tập họp. Một tên Công An bước vào phòng hỏi, ở đây có anh nào dưới 18 tuổi. Đặng Hữu Chí dơ tay. A, anh Chí, anh sinh năm bao nhiêu, tôi sinh năm 1960, năm nay 17 tuổi. Tên Công An lắc đầu, anh Chí bỏ tay xuống, anh sinh năm 1959. Nhưng khai sinh ghi tôi sinh 1960. Từ hôm nay anh sinh năm 1959. Rồi tên Công An hỏi tiếp, có anh nào từ 60 tuổi trở lên. Một ông già râu và tóc đều bạc, dơ tay. Tôi sinh năm 1917, năm nay 60 tuổi. A, anh Đệ, năm nay anh 59 tuổi, bỏ tay xuống.

Gần 400 tù chính trị Miền Nam từ trại Lê Văn Duyệt được đưa ra Bắc. Tất cả đều từ 18 tuổi trở lên và 59 tuổi trở xuống. Chí kẻ rằng, sau này tại Trại Tỵ Nạn, phái đoàn Mỹ hỏi Đặng Hữu Chí tại sao anh khai sinh năm 1960, mà giấy ra trại ghi sinh năm 1959. Hỏi cho vui, mấy anh Mỹ bấy giờ đã khôn hơn, đã hiểu biết thêm về Việt Cộng.

Tháng Tư, 1975, Đặng Hữu Chí đang học trường St Thomas, góc Huỳnh Quang Tiên và Trương Minh Ký. Nhà Chí trong khu cư xá Kiến Thiết, học đó cũng gần. Học đang vui, đang tính sau hè lên Đệ Tam, một năm vẫn được coi như “ngồi chơi xơi nước”, học vừa phải cũng được, học chăm thì càng hay, nếu có lười chút chút, chẳng sao, sau đó lớp Đệ Nhị, mới căng. Chí định vui chơi là chính, nhưng vẫn chuẩn bị chút gì cho năm sau, quyết lấy cho được mảnh bằng Tú Tài 1, lận lưng, rồi Tú Tài 2, sau đó Đại Học. Nhà nghèo, cần mảnh bằng đỡ tay cho Mẹ. Bỗng dưng, họ tới, xáo trộn tất cả. Còn mới quá, nên chưa đuổi hết học trò về nhà. Khổ một cái, bây giờ mỗi ngày vào lớp phải đụng với anh già chình ình trên tường. Anh già này, gia đình Chí đã có kinh nghiệm từ mấy năm trước.

Năm 1971, gia đình Chí đang ở Tỉnh Chương Thiện. Đời sống tương đối khá giả.  Ông thân sinh của Chí, ông Đặng Huy Minh, đang làm Trưởng Ty Thông Tin. Ông có việc đi công tác ngoài Cần Thơ. Trên đường trở về, bọn Việt Cộng đón đường, phục kích. Ông tử thương. Chí đụng anh già Hồ lần đầu như vậy. Có người sẽ cãi, đó là du kích của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Thưa vâng, đúng như vậy. Nhưng toàn thể cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, cũng như cái gọi là Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, đều là “lính” của anh già Hồ. Ai cũng biết thế, cả nước đều biết, cả thế giới đều biết. Chiếm được Miền Nam, bọn đàn em anh già Hồ cất ngay mấy “cái gọi là” bên trên, cho vào bảo Tàng Viện, sau đó, cho vào sọt giác luôn.

Một cú thua đau cho Chí lần đầu năm 1971, 4 năm sau, 1975, Hồ cho Chí cú thứ nhì, lại còn hàng ngày chường cái mặt hãm tài. Bực lắm. Chí nhớ ngày xưa, nghe đâu đó mấy câu vè: “Mặt bé choắt, cổ vươn, mắt trố. Vốn khi xưa ở chốn rừng xanh. Chuồng gà mặc dịp tung hoành, Béo, gầy, đen, trắng, mặc tình cáo sơi”. Nhìn lại, đúng là “mặt cáo”. Phải mang cáo ra tòa, hỏi cái tội phá tan nát chuồng gà, phá tan nát đất nước.

Giấc mộng Đại Học kể như tan tành, nhưng Đặng Hữu Chí thấy không cần tốt nghiệp Luật Khoa, việc sử án cứ theo lương tâm con người, lấy quyền dân, quyền con người làm căn bản, lôi anh già Hồ từ trên tường xuống, đưa ra tòa án. Bọn cướp nước đang đưa hàng chục ngàn Viên Chức, Sĩ Quan Việt Nam Cộng Hòa vào tù, chẳng cần tòa án. Phải dậy cho bọn chúng biết thế nào là nền Tư Pháp công minh của Việt Nam Cộng Hòa, nên có Công Tố Viên kết tội, ông Chánh Án Đặng Hữu Chí vẫn phải mời Luật Sư biện hộ cho bị cáo Hồ. Phe biện hộ đuối lý. Ông Chánh Án tuyên án tử hình bị cáo Hồ Chí Minh. Đốt ngay bức ảnh tại chỗ, trong lớp học.

Chánh án lúc đó 16 tuổi. Công Tố Viên cũng 16. Luật sư già dặn hơn. Vụ án xôi nổi. Hai tuần sau, Công An mời viên công tố, rồi mời Luật Sư. Phải chuồn thôi. Cuối cùng bọn Công An cũng vồ được “ông” Chánh Án. Sau này, nghe nói Luật Sư có được về sớm hơn hai vị kia. Chắc là có công cãi cho Già Hồ, được chiếu cố.

Hỏi Đặng Hữu Chí tại sao lại làm cái việc chắc chắn sẽ bị bọn nó vồ như vậy. Trả lời, nếu anh “ở ngoài” lúc đó, nhũng năm 1975, 1976, 1977, tự nhiên anh thấy phải làm một cái gì. Các lớp chú, bác, đàn anh (VNCH) đã bị bọn nó nhốt tù hết rồi. Không thể nào chấp nhận sự thống trị của bọn nó, ai ai cũng muốn làm một cái gì đó. Những lời hô hào của Tướng Nguyễn Cao Kỳ còn vang trong khu Tân Sa Châu (Từ Sài Gòn đi về Tân Sơn Nhất bằng đường Trương Minh Giảng, rồi Trương Minh Ký, sẽ qua khu Cư Xá Kiến Thiết, rồi tới khu Tân Sa Châu. Nhà Chí gần nơi Tuớng Kỳ những ngày giữa Tháng Tư, kêu gọi về Miền Tây tiếp tục đánh Việt Cộng). Mọi người còn đồn Tướng Ngô Quang Trưởng đã có mặt ở Chiến Khu., Tướng Kỳ ở Miền Tây. Không khí tưng bừng như sắp tổng nổi dậy. Anh có thấy, hầu hết mấy đứa kia (các cậu nhỏ Đội Xe Tăng, Đội Lò Gạnh) đều muốn dấn thân vào con đường cứu đất nước.

Đặng Hữu Chí bị bắt nhốt ở Trại Giam Phan Đang Lưu, số 4 đường Phan Đăng Lưu. Tại dây, Chí nằm trong phòng biệt giam. Gọi là phòng, nhưng giống như một cái hộp, một chiều khoảng 2 mét rưỡi, một chiều khoảng 1 mét rưỡi, cao hơn 2 mét. Toàn bộ 3 bức tường kín mít, cánh cửa sắt chỉ mở ra khi bị điệu đi làm việc. Có một khe nhỏ trên cánh cửa sắt để người ta đưa đồ ăn vào. Qua khe đó Chí có thể nhìn được góc lớn của phòng tập thể ở phía đối diện với khu biệt giam, nhưng từ bên đó, người ta chỉ thấy được lờ mờ đôi mắt của người tù bên này. Phòng tập thể có thể nhốt tối đa đến 70, 80 người. Hằng ngày, qua khe hở, Chí thấy mọi người đi qua đi lại trong phòng bên kia, nghe được lõm bõm tiếng nói chuyện. Chí và những bạn tù phòng biệt giam 2 bên cũng có thể liên lạc với nhau, loan truyền cho nhau tin tức, mặc dù không thấy mặt nhau, hoặc chỉ thấy vào ban đêm, một bạn biệt giam bị đưa đi làm việc. Thấy không rõ vì ánh đèn hành lang tù mù. Có lúc, Chí “gặp” được “ông Công Tố” vụ án già Hồ, nhưng rồi chàng đó bị đưa đi, mất liên lạc luôn.

Ở biệt giam chừng 3 tháng, “ông Chánh Án” được đưa ra phòng tập thể. Phòng chứa khoảng 50 người, mỗi người được chừng 80 cm chiều ngang để nằm, ngồi, sinh hoạt. Hỏi Chí, có ai nhỏ tuổi hơn Chí không? Đáp, em vẫn là nhỏ nhất. Có thể ở phòng khác, có mấy em nhỏ bị nhốt vì lẽ gì đó, bán thuốc lá dạo, táy máy trong mấy tiệm bán đồ, … Hỏi, vậy trong phòng bạn toàn những người chống đối, ý tôi nói, là Phục Quốc? Đáp, Theo em, trong 50 người, 50 hay ít hơn, nhiều hơn một hai người, em không chắc lắm, có chừng 40 hay ít hơn là Phục Quốc, 3 hay 4 văn nghệ sĩ hay báo chí, 4 vị thuộc tư sản, đặc biệt có hai vị là cán bộ Hà Nội thoái hóa. Em không rõ thái hóa về tội gì. Tức là, 3 loại tù trong phòng em: Phục Quốc, Văn Nghệ Sĩ, Tư Sản. Cái vui của em là gặp nhà văn Duyên Anh.

Từ xưa, giống nhiều bạn học sinh khác, Chí say mê truyện của Duyên Anh. Được gặp người chàng hâm mộ, có vẻ như bị tù lại là một “cái may?” Điều khiến Chí ngạc nhiên là tuy chưa từng gặp, nói chuyện, mà ông Duyên Anh lại biết về Chí rất nhiều. Ông ta nói về Chí cứ như một người đã quen lâu rồi. Ra phòng tập thể, Chí cũng biết thêm nhiều bạn trẻ khác, hơn mình chừng 2, 3 tuổi, cũng bị vồ vì cái tội nói chung là Phục Quốc. Nhà văn Duyên Anh đã viết về Chí, về mấy bạn trẻ mà nhà văn gọi là “28 con sư tử lãng mạn và cô đơn”.

Hỏi, vậy, Chí gặp được thần tượng Duyên Anh trong tù. Đáp, nếu gọi là Thần Tượng thực sự, đến giờ phút này bên ly cà phê trên đất nước Hoa Kỳ vẫn là “Thần Tượng” với em, chính là “3 thiếu nữ” cũng bị nhốt trong một cachot nào đó. Ngay từ khi còn trong một biệt giam, em đã nghe biết về 3 cô gái này. Chỉ nghe biết, chưa từng được gặp mặt, ngay cả tên, em cũng lờ mờ bởi vì truyền tụng từ phòng biệt giam này qua phòng biệt giam khác, nhiều khi nghe không rõ. Em nhớ tên hai cô đều là Nga, khác nhau về họ (last name), và cô nữa tên Thủy. Em nghe lõm bõm có cô em chị Quỳnh Như nào đó (Tôi nhớ ba cô con của ông Tôn Thất Dương Kỵ tên Quỳnh Như, Quỳnh Chân, Quỳnh Uyển, không chắc là ở trường hợp này). Em nghe nói về chí khí can trường của các cô, rồi nghe truyền tụng những hành động, lời nói của các cô, những tranh cãi giữa các cô và bọn chấp pháp. Từ đó, với em, họ là thần tượng, và trở thành huyền thoại của lớp trẻ Sài Gòn, huyền thoại của Phục Quốc.

Hỏi, hồi nãy Chí nói còn nhiều bạn trẻ khác trong phòng tập thể, có ai về sau ở Thanh Cẩm không? Đáp, Hiện nay anh thấy ở Thanh Cẩm mấy chục đứa trong hai đội Xe Tăng (Vận Chuyển) và Lò Gạch, phần lớn từ Phan Đăng Lưu và Lê Văn Duyệt, như Hoàng Xuân Trường, Ngô Tỵ, Bảo Châu, Châu Thoại Cầu, …

Đầu năm 1977, bọn Công An chuyển Đặng Hữu Chí qua trại Lê Văn Duyệt. Tháng 4, 1977, Chí cùng 400 tù chính trị Miền Nam lên tầu Sông Hương ra Quảng Ninh. Tháng 7, Chí về Thanh Cẩm.

Năm 1983, Đặng Hữu Chí được thả về. Bẩy năm trời của tuổi hoa niên, ăn và học bay đi. Vốn liếng còn lại là đôi bàn tay nắm hai càng chiếc xe cải tiến mấy ngàn ngày để lại lớp da dầy như da trâu. Hay là do đã ăn da trâu nấu lên như keo dán được phát vào mỗi dịp Tết? Đôi bàn tay chai lỳ, và bộ óc chai lỳ hơn nữa, Chai lỳ vì mỗi ngày trong tù là một ngày tích tụ thêm hiểu biết về một chế độ lừa bịp. dối trá, tàn bạo. Phải tìm cách thoát khỏi. Trong khi chờ đợi, Chí đi xin việc làm. Đặng Hữu Chí đi tù với bản án Phục Quốc, may mắn còn có chỗ nhận cho làm, sau gần năm trời lang thang tìm việc. Chí được vào làm với nhóm sản xuất thuốc Maalox nổi tiếng một thời. Chàng thanh niên được chia ca thức đêm canh máy sấy thuốc. Vào rồi Chí mới biết ở đây toàn là những người “chế độ cũ”. 4 Dược Sĩ, mười mấy Sĩ Quan.

Năm 1987, Đặng Hữu Chí vượt biên thành công. Năm 1988, qua tới Mỹ.

Lê TinhAnh – Bạn tù Lê Tinh Anh không thuộc nhóm Phục Quốc. Bạn còn trẻ nhưng già hơn các bạn trẻ nhóm Phục Quốc khoảng 5, 7 tuổi. Bạn là cựu nhân viên trong Nha Kỹ Thuật, thuộc nhóm “Nhảy Toán” ra mấy tỉnh Miền Trung, rõ ràng bạn “rành đời” hơn mấy bạn trẻ kia.

Khi không khí giam cầm ở Thanh Cẩm bắt đầu nới lỏng hơn, từ khoảng cuối 1981,  đầu 1982. Lê Tinh Anh được cử làm Văn Hóa của Trại, giống như “Thường Trực Thi Đua”, tức là một tù nhân lo tổ chức các lễ lạc, vui chơi cho tù nhân vào các dịp Tết, ngày lễ lớn, và lo “cải thiện” đời sống tù nhân. Anh Bảy Chà là một người giữ chức Trật Tự được anh em tù nhân quí mến, thì Lê Tinh Anh là một người giữ chức Văn Hóa, cũng được quí mến.

Lê Tinh Anh bị bắt trong đợt rút chạy khỏi Pleiku vào Tháng 3, 1975 của Quân Đoàn 2. Bạn ta khai là lính sư đoàn 22, đang điều trị bệnh sốt rét, nên sau 30 Tháng Tư 1975, chàng được thả về, ở Sài Gòn. Tình cờ một ngày nào đó chàng gặp lại người lính, có thể là Trung Sĩ,  từng phục vụ dưới quyền ông Bố của chàng. Ông Thân Sinh của Lê Tinh Anh vốn là Trưởng Ty Công An một tỉnh Miền Trung, mất năm 1970. Bạn Trung Sĩ này đang làm cái việc “đoái công chuộc tội” với bọn Việt Cộng, nên tố cáo Lê Tinh Anh là “Sĩ Quan Ngụy trốn Học Tập Cải Tạo”. Tháng 8, 1975, chàng bị vồ. Từ đó, chuyển trại này, trại kia, cuối cùng ra tới Thanh Cẩm khoảng Tháng 8, Tháng 9, năm 1979. Khi chàng ta kể chuyện đời tù, rất khoái chí vì bọn khốn Việt Cộng không biết chàng từng “nhảy toán”.

Tại Thanh Cẩm, do sức vóc chàng trông có vẻ khỏe mạnh, bọn Công An trại giao chàng gánh nước cho khu kiên giam. Chàng tạng người mập mạp, thấp, dáng đi vững chãi. Do việc gánh nước, Lê Tinh Anh có cơ hội lo cho Cha Hùng. Cha Hùng thuộc nhóm trên 30 Linh Mục Thiên Chúa Giáo bị nhốt khu kiên giam. Các vị lần lượt về đây qua nhiều đợt, có khi một vị chuyển đến trại trên một xe jeep. Số vị này vẫn sang. Linh Mục (Nguyễn Văn) Hùng, tôi không chắc về họ của Cha, bị một vết cắt gì đó ở bàn chân, không nặng lắm. Nhưng vào những năm 1979, 1980, cả nước còn đang khốn khó, thì cảnh sống tại các nhà tù còn tồi tệ hơn nhiều, đặc biệt về khía cạnh y tế. Vết thương không nặng, sau khi được đưa ra Huyện Cẩm Thủy băng bó, chân Cha bị nhiễm trùng nặng. Lằng nhằng điều trị, phải cưa bàn chân. Kể chuyện “giải phẫu” ở huyện Cẩm Thủy: Có thể chuyện này chỉ ứng dụng cho tù, đặc biệt “tù Miền Nam”, còn với dân thường thì tôi không biết. Cha Hùng kể, họ cho Cha vào nằm trong cái mùng, kiểu mùng vải thô, không phải mùng Miền Nam vẫn dùng. Đó là cách tránh ruồi muỗi, tức là “đã sát trùng”. Không tê, không mê. Có thể họ dùng tê local, Cha Hùng không biết, sau này tôi mổ mắt ở Sài Gòn, cũng local như vậy, đau ơi là đau. Rồi cứ thế mà cưa, nghe rõ tiếng sột soạt của lưỡi cưa. Eo ôi, chỉ nghe chuyện đã rùng mình. Thêm điều này, “phòng giải phẫu” hình như mái tranh, vách đất, nên tối, họ cho đốt đèn dầu trong mùng, ánh sáng văn minh đầy đủ. “Giải phẫu” xong, nhiễm trùng, rồi lại cưa nữa. Đến lúc này toàn trại, tức là các tù Miền Nam gom góp trụ sinh, vừa cho Cha Hùng uống, vừa rắc vào vết thương, nhờ vậy, đẩy được chuyện nhiễm trùng đi. Chính lúc đó, bạn Lê Tinh Anh gánh nước, nên hàng ngày gánh thêm nước cho Cha Hùng, rồi chàng lo tắm rửa cho Cha, giặt quần áo, mềm, chiếu. Sau đến lượt Cha Lan nằm bệnh xá, Lê Tinh Anh không còn gánh nước, nhưng cũng lo cho Cha Lan đầy đủ. Cha Lan là Hiệu Trưởng trường Cộng Hòa ở Bảo lộc, có lúc nhóc con Lê Tinh Anh từng đá banh giấy, bắn bi trong trường của Cha.

Năm 1982, bạn tù giữ chức Văn Hóa được cho về, Lê Tinh Anh, được lên thay. Văn Hóa cũ là Ông Dư Văn Hạ, hiện nay (2020), có lẽ đã 90 xuân xanh, ông là “Niên Trưởng trong gia đình Thanh Cẩm, được anh em gọi đùa là “ông Chủ Tịch”, muốn xuống mà không ai chịu thay thế, một ông đặc biệt Bắc Kỳ, có nhiều chuyện để kể, nhưng xin dịp khác. Làm Văn Hóa, Lê Tinh Anh thiên về “văn hóa ẩm thực” (theo kiểu nói của báo chí trong nước). Chàng dò hỏi trong khu gia đình cán bộ có ai nuôi heo, muốn bán giá cao, chàng tới điều đình. Ngã giá, về trại, chàng cho anh em ghi tên mua, đóng tiền, sao cho đủ tiền con heo “hơi”. Làm thịt xong, chia cho anh em theo đặt hàng. Dĩ nhiên, chàng phải bớt thịt ra chi “mấy đầu” này: Trực Trại cũng có miếng thịt, phần tiết canh, rối cán bộ coi an ninh, coi văn hóa, người làm thịt heo, …  Đời sống tù nhờ vậy dễ chịu hơn.

Tòa Thánh ở Khu Kiên Giam.

Lê Tinh Anh kể chuyện Tòa Thánh ở Khu Kiên Giam. Hơn 30 Linh Mục, quà cáp giáo dân gửi đến chất đầy “kho” khu Kiên Giam. Để có một cái kho như vậy tại nơi khó khăn nhất đời tù, phải qua cả một quá trình “xây dựng”. Những chàng công an liên hệ chuyện nhận quà, chuyện mang vào trại, chuyện kiểm soát khu kiên giam, 100 chuyện khác, đều được qua những khóa huấn luyện đặc biệt về hưởng dụng các đồ vật tối tân, các món ăn chưa từng biết, chỉ có ở cấp Trung Ương Đảng, nhiều khi mấy anh T/Ư này chưa chắc đã được nếm qua. Dần dần, tiền mặt, đồ dùng, đồ ăn, giáo dân cứ thế gửi cho Cha, chất thành mấy kho. Việc chống lại sự bành trướng của họ hàng nhà Chuột cũng cần đề ra phương án, lên kế hoạch, tiêu diệt địch cho kỳ hết. Cho nên, cộng đồng các Cha, tuy không minh thị “bỏ phiếu”, nhưng ủy thác hết vào tay một Cha Hương, phụ tá là Cha Nghị. Hai cha cho lệnh xuất kho, thì được xuất. Hai Cha nói hôm nay ăn món này, ngày mai ăn món kia, thì hơn 30 vị chăn chiên được ăn như vậy.

Như vậy, Cha Hương quản trị một gia tài “bằng” với ngân sách của Quốc Gia Rome, và Cha cũng quản trị theo cách đó, tức là Cha mang cái bóng của đức Giáo Hoàng. Bọn thần dân “dưới làng” truyền tụng về Tòa Thánh ở Khu Kiên Giam. Quí vị đã biết, Tòa Thánh không chỉ có uy quyền với bổn đạo, tín hữu Thiên Chúa Giáo. Hồi xưa Giáo Hoàng còn có uy lực bao chùm cả các Đức Quân Vương ở Âu Châu. Bây giờ Giáo Hoàng giữ địa vị trọng yếu trong nhiều mối giao tế thế giới. Ở Thanh Cẩm cũng vậy. Chúng ta cứ tưởng tượng một chàng Sĩ Quan Công An coi về An Ninh của Trại Tù Thanh Cẩm đứng khúm núm trước mặt Cha Hương chờ nghe” chỉ thị”. Tôi không nhìn thấy, không chứng kiến, nhưng bạn Lê Tinh Anh kể lại chuyện chính bạn chứng kiến, bởi vì bạn cũng “dính”vào mấy cái vụ chỉ thị này. Chàng Sĩ Quan An Ninh tên L. được Lê Tinh Anh nhắn Cha Hương muốn gặp. Chàng lên khu Kiên Giam, đứng lớ ngớ chưa biết chuyện gì. Cái “bóng” của “Ngài Giáo Hoàng” rót cho chàng an ninh tách chè móc câu Thái Nguyên uống, cho bình tâm lại. Rồi cái bóng hỏi, anh L này, thế nhà anh có con bò nào không. Thời buổi đó con bò là tài sản lớn cho một gia đình ở miền núi này, nhà nào khá giả lắm mới có. Đáp, dạ không. Cái bóng phán, thôi bây giờ anh ăn bát mì ăn liền này đi, xong về làng xem  có ai bán con bò hay con bê nào không, vào đây cho tôi biết. Hỏi chúng nó xem giá cả ra sao.

L về làng lùng kiếm. Hôm sau vào báo cáo, có mấy con bê, họ muốn bán bớt một hai con, nhưng giá một con đến $200. (hai trăm đồng). Cái bóng thản nhiên móc túi, đây là $400. Anh về mua lấy hai con bê, lo nuôi cho nó đàng hoàng, ít lâu thành hai con bò thôi ấy mà. Lạ một điều, lệ nhà tù không cho tù giữ tiền mặt, nhưng tù nhân muốn mua bán gì, thản nhiên đưa công an tiền mặt nhờ mua giùm. Chàng L ngớ người ra, cầm tiền về mua bê.

Hai tuần sau chàng L vào báo cáo Tòa Thánh, “bọn nó” biết chàng mua bê, xì xào không biết làm sao L có tiền mua. Cha Hương đứng phắt dậy, lúc này tôi phải trở lại Cha Hương, Cha chỉ mặt chàng Sĩ Quan An  Ninh L mắng, sao anh ngu thế. Mua xong, mang dấu đi, nhờ đứa nào thân tín nuôi giùm. Ít lâu sau bịa chuyện ông Bố, bà Mẹ ở xa, chia gia tài cho. Anh dắt bê cho đi ăn sờ sờ ra đó, bọn nó phải thắc mắc chứ. Có lẽ lâu lắm Cha mới có cơ hội nổi giận như vậy.

Sở dĩ Lê Tinh Anh được chứng kiến nhiều chuyện vì chính chàng gợi ý mua bò để các cha “thâu đệ tử” cho tiện bề sai khiến. Cha Nghị ,phụ tá Cha Hương, là Tuyên Úy Nha Kỹ Thuật, nơi Lê Tinh Anh làm việc,. Cha ở Nhà Thờ Đồng Tiến, rất cưng chiều Lê Tinh Anh. Khi Lê Tinh Anh công tác ở Pleiku, Cha Nghị giới thiệu Cha Hương, Tuyên Úy Sư Đoàn 6 Không Quân đóng ở Pleiku, qua làm lễ cho đơn vị Lê Tinh Anh. Vì thế, mấy Cha khu Kiên Giam tin cậy chàng.

Vì tin cậy, nên khi Lê Tinh Anh được thả cho về, Trại tìm người thay thế, các Cha nghe theo đề nghị của lê Tinh Anh. Lúc này tù hình sự trở lại Khu K1 cũng nhiều, nhưng Văn Hóa vẫn giao cho Tù Miền Nam. Chàng Sĩ Quan Công An coi về Văn Hóa, tên Giang, hỏi ý kiến Lê Tinh Anh, chàng giới thiệu bạn tù Phan Công Tôn, Thiếu Tá Thủy Quân Lục Chiến (hy vọng tôi nhớ đúng binh chủng). Giang chịu, nhưng chàng Sĩ Quan An Ninh tên L. không chịu. L muốn cử Nguyễn Cao Quyền làm Văn Hóa. Lê Tinh Anh muốn một người nhanh nhẹn, có tâm lo cho anh em, còn để một người chỉ biết lo cho thân mình, thì anh em sẽ thiệt thòi rất nhiều. Chàng mang trình với mấy Cha. Cha Hương cho gọi chàng Sĩ Quan An Ninh L. vào, nói muốn cử Phan Công Tôn thay Lê Tinh Anh. Dùng dằng lên xuống mấy lần, cuối cùng Cha Hương nói, nếu anh để người khác làm Văn Hóa, thì giữa tôi và anh kể như cắt đứt. Tôi không tin người nào khác anh Phan Công Tôn. Cha Hương thắng. Nghe Lê Tinh Anh kể chuyện, tôi đồ rằng người kia cũng đã “lót tay” cho chàng L khá nhiều nên L không chịu nhận Tôn. Thêm một điều, ngay trước đó, bạn tù Thiếu Tá kia đã làm một cái gì đó, bị An Ninh trại gọi lên làm việc. Nên chàng An Ninh L biết rõ về bạn Thiếu Tá này, không muốn cho làm Văn Hóa. Lê Tinh Anh chọn không lầm người.

Lê Tinh Anh có người anh tên Lê Tinh Quang, hồi nhỏ rất gần gũi nha, nên lúc đi tù cũng ‘rủ” anh Quang đi theo. Lại còn rủ nhau ra tận Thanh Cẩm. Bây giờ Quang đang ở Úc, lâu lâu nhớ bạn vẫn qua Mỹ thăm anh em. Cùng vụ Lê Tinh Anh còn có Tôn Thất Tuấn, cao, gầy, oặt oẹo. Nghe nói Tuấn bị oan, không hoạt động gì nhưng có mặt không đúng chỗ, không đúng lúc, nên bị vồ. Mới đây, khoảng năm 2019, Tuấn qua đời vì bạo bệnh ở Sài Gòn.

Đầu Gấu

Khoảng cuối năm 1982, Đội 2 Xây Dựng chưa có việc gì để xây dựng, cho đi tăng cường các đội khác. Tọi đã quen với thì giờ thảnh thơi của đánh vữa, nay bị bó buộc suốt 3 tiếng đồng hồ mỗi buổi, dù rằng đa số tù vẫn “chống cuốc chờ thời”, nhưng vẫn là gò bó, tôi chán, kiếm chuyện nằm nhà. Lúc đó, tôi làm được chuyện này: Thường ngày, 15 phút trước giờ tập họp đi làm là lúc khám bệnh. Tôi nhịn thở khoảng 1 hay 2 phút, tim đập loạn xạ, Chạy xuống phòng khám bệnh, y tá nghe thấy tim đập dữ quá, cho nghỉ. Ba, bốn ngày liền tôi làm như vậy, ở nhà suốt. Tôi xin y tá cho “nhập viện” để lỡ đêm hôm tim tôi ngừng đập còn cứu được. Lúc đó Y Tá là anh Hiền. Chàng đồng ý. Nhập viện tức là chuyển nhân số báo cáo từ đội về nhân số bệnh xá, và tôi ở luôn bệnh xá, không về đội. Từ đầu 1982, “Tù Miền Nam” đã qua mấy đợt thả về, sau đó có đợt chuyển khoảng hơn 200 người về Miền Nam, nhân số “Miền Nam” giảm đi, bọn công an lại chuyển một số tù hình sự từ khu B, tức khu K2, về lại K1, ở mấy dẫy nhà bên trái. Trong số đó có một tay nghe nói là”đầu gấu”, tên Chiến Chàm, được nằm bệnh xá. Bệnh xá lúc này ngoài Tù Miền Nam còn một số là tù hình sự.

“Đầu Gấu” là tiếng gọi của Miền Bắc. Tù ở Miền Nam gọi là “Đại Bàng”. Đó là những tay “anh chị” gan lì trong nhà tù, có gan đâm chém, giết người ngay trong nhà tù khiến tù nhân khác sợ, Họ thuộc giai cấp “ăn trên, ngồi trước”, đàn áp tù nhân cô thế, bắt những kẻ yếu phục dịnh, hầu hạ. Họ ngang nhiên ăn cướp, ăn chặn, tước đoạt phần ăn, quà thăm nuôi của tù nhân thường. Chiến Chàm là một đầu gấu, nhưng là đầu gấu ở trại Cổng Trời. Về trại Thanh Cẩm mới hơn một tháng Chiến Chàm được cho vào bệnh xá. Ngay tại bệnh xá, Chiến Chàm cũng tỏ mình là đầu gấu, bắt mấy bạn tù hình sự người thiểu số cao nguyên Bắc Việt hầu hạ. Một hôm, tôi đang ngồi nói chuyện tại chỗ nằm của Y Tá, bỗng thấy Chiến Chàm ở sạp đối diện nhảy vọt lên đạp chân vào một cậu tù hình sự, Buồn cười là anh tù hình sự người thiểu số to gần gấp đôi Chiến Chàm, cứ nằm chịu trận, miệng van xin bằng thứ tiếng Việt lơ lớ. Chuyện đánh dập, chửi rủa kéo dài mấy phút. Cả bệnh xá yên lặng, Y Tá lặng lẽ ngồi nhìn. Tôi ra hiệu, Y Tá thì thầm, chuyện bọn nó, kệ bọn nó. Thấy chàng tù nằm dưới đất kêu la quá, tôi dơ tay ra hiệu Chiến Chàm, này Chiến, tha cho nó đi. Chiến Chàm hơi tỏ vẻ ngạc nhiên nhìn tôi, ngừng chân. Tôi hỏi luôn, chuyện gì vậy. Chàng đầu gấu nói, cháu bị bệnh bao tử, ăn sắn đau lắm. Xin được bò gạo nếp, bảo nó nấu cháo, nó làm đổ mất một ít. Đánh cho nó lần sau cẩn thận.

Chiến Chàm, thân hình dài ngòng, chân tay khẳn khiu vì thiếu ăn, nước da trắng xanh vì nhiều năm, tháng bị cùm trong nhà kỷ luật ở Cổng Trời. May được chuyển trại, về đây được ở dưới làng, nhưng là tay mới, chưa dám tranh dành với mấy tay đầu gấu sẵn có ở Thanh Cẩm. Sau cuộc “đối thoại”, tôi về chỗ lấy mấy viên thuốc bao tử, hình như là Maalox, mang cho Chiến Chàm. Tôi không bị đau dạ dày, nhưng vẫn dự trữ. Chiến Chàm kể chuyện đời, chuyện tù, bây giờ tôi không còn nhớ chi nhiều. Mới 12, 13 tuổi chàng ta đã bị bắt, chắc là ăn cắp, ăn trộm, còn nhỏ, chỉ hơn một tháng được tha. Năm 16 tuổi bị dính vụ gì đó. Bị án 5 hay 6 năm. Trong tù, lại đánh nhau tiếp, án kéo dài, kéo dài cả những ngày kỷ luật, kiên giam. Về đến Thanh Cẩm, chàng đã 23, 24 tuổi đầu. Một bữa, Chiến Chàm hỏi tôi, chú có biết ông làm thơ Nguyễn Chí Thiện không. Tôi lắc đầu, không. Tên ông này quả thực tôi chưa nghe bao giờ. Chiến Chàm kể tiếp. Ông ấy cũng ở nhà kỷ luật ở Cổng Trời. Cháu nghe nói ông ấy được giải thơ gì thế giới. Ông ấy ném thơ vào tòa đại sứ Anh. Toàn thơ chửi bác và đảng. Đúng ra, lần đầu tôi nghe chưa rõ mấy chữ “Nguyễn Chí Thiện”. Hôm sau, bắt Chiến Chàm nói chậm lại, tôi mới nghe rõ và nhớ. Người Miền Bắc, nhất là ở Thanh Hóa là tỉnh đầu của Miền Trung, tiếp giáp Miền Bắc, có cách nói nhanh, khó nghe. Bọn tôi thường đùa, phải nói nhanh còn chạy kịp tránh bom B52. Nhắc lại, cuộc đời có nhiều cái lạ, loanh quanh luẩn quẩn lại gặp nhau.  1982, 1983, tôi nghe biết Nguyễn Chí Thiện từ một tay đầu trộm đuôi cướp trong nhà tù Miền Bắc. Hơn mười, hay hai chục năm sau, tôi gặp Nguyễn Chí Thiện tại Westminster, California, Hoa Kỳ. Gặp nhiều lần mà tôi quên mất chuyện Chiến Chàm, không hỏi. Bây giờ, ông ta đã đi rồi, tôi vẫn tiếc không xin được cái mũ nồi ông thường đội. Tôi thích đội mũ phớt và mũ nồi, tùy mùa.

Khoảng hơn 20 người nằm bệnh xá nên chia giang sơn với Đội Nhà Bếp, ra vào cửa phòng, cửa buồng tương đối thoải mái, giờ giấc cũng nới lỏng hơn vì Nhà Bếp phải dọn dẹp xong nồi niêu mới về phòng nghỉ. Các tù nhân giữ chức vụ Trật Tự, Văn Hóa cũng ở chung buồng, ở mãi tít đầu trong cùng, ít quan tâm đến chỗ bệnh xá, nơi có 3 hay 4 tù hình sự. Hầu như các bạn tù Miền Nam coi như không “nhìn thấy” có tù hình sự. Thấy tôi nói chuyện với Chiến Chàm, cũng hơi thắc mắc. Tôi trả lời qua quít cho xong, không lẽ nói huỵch toẹt quan niệm sống của tôi ra, cái thứ quan niệm sống gàn gàn dở dở ương ương ai nghe cho nổi, bây giờ tôi cũng chẳng dám giãi bày ra đây, lại khiến quí vị bực mình. Có vị nói, như một câu hỏi, lạ nhỉ, tại sao một thằng gầy gò, bệnh hoạn như không còn sức lực nào lại khiến một thằng to con gấp đôi nó, khỏe mạnh gấp nhiều lần nó, phải hầu hạ, phục dịch nó. Tôi trả lời, bởi vì cái thằng khỏe mạnh kia, to con kia có gan lì, dám đợi giữa đêm, lấy một cái đũa chọc xuyên vào tai thằng khác không, hoặc lấy búa đập vào đầu thằng khác không. Cái thằng nhỏ con, yếu đuối dám thí mạng cùi, lãnh thêm án đánh người trọng thương, giết người. Còn thằng to con chỉ mong đến ngày được thả, nín thở qua cầu cho xong. Một thằng nổi lên làm “Đầu Gấu” sẽ có chục thằng ăn theo hầu hạ, tạo thành băng đảng, mấy ai dám đụng vào.

Tôi hỏi Chiến Chàm, nghe nói bên đó có mấy đứa như Bình Thanh, Bình Bưởi, mày có sợ không? Nói chuyện với hình sự Miền Bắc, tôi ráng dùng chữ dung tục, gọi Chiến là mày. Chàng đáp, cháu nghe nói anh Bình Thanh, nhưng không gặp bao giờ. Bình Bưởi, ở buồng khác, cháu chưa có vấn đề gì, chưa biết sao. Hôm trước, cháu cho thằng này qua xin ít gạo nếp, Bình Bưởi đích thân mang qua, cháu nghĩ bọn cháu có hiểu nhau. Tôi khám phá trong xã hội nhà tù hình sự, lâu lâu có chuyển tù từ trại này qua trại khác, hoán chuyển để cho bọn Công An coi tù dễ dàng cai trị mấy anh tù ngang ngược. Do đó, tiếng đồn tên tuổi các tay đầu gấu lan xa. Bình Bưởi chắc có nghe danh Chiến Chàm ở Cổng Trời, vì vậy có biệt đãi hơn tù “vét đĩa”. Bình Thanh biến đâu, tôi không rõ. Có lẽ chuyển ra khu K2.

Khi đi lao động, mấy cậu hình sự hay ghé qua chỗ bếp ở sân vữa, xin nhờ tí lửa rít một điếu thuốc lào, có khi “xin láo” một bi, tôi cũng hay cho. Hỏi chuyện, bọn chúng đa số thích Bình Bưởi hơn Bình Thanh. Một hôm, tôi đang ngồi tán dóc với anh Y Tá, một anh chàng tù hình sự qua Bệnh Xá xin thuốc gì đó. Chàng ta gặp tôi, cúi đầu chào, ăn nói nhỏ nhẹ, lễ phép, khác lối lao nhao, láu táu bình thường của mấy bạn hình sự trẻ tuổi. Cậu hình sự thiểu số bị Chiến Chàm đánh hôm nào, chào chàng ta rồi quay qua nói với tôi, đây là anh Bình Bưởi. Đúng ra tôi không nghe rõ lắm giọng nói dân miền núi, nhưng có biết tên Bình Bưởi, nên đoán ra.Tôi hỏi cho có chuyện, cháu không đi lao động hôm nay. Vâng, cháu nghỉ hôm nay. Tôi hỏi luôn, hôm trước cháu cho thằng Chiến Chàm gạo nếp? Vâng. Nó về đây cô thế, cho nó ít gạo nếp nấu cháo ăn đỡ bị đau. Lúc này Chiến Chàm đã bị đưa lên khu kỷ luật mới xây.

Mấy ngày sau, tính ra tôi đã ở Bệnh Xá được một tháng, đến lúc về lại Đội 2, thực sự mình cũng chẳng bệnh hoạn gì. Ở Bệnh Xá, tối nào tôi cũng xoa mặt chược với mấy tay bên Đội Nhà Bếp. Chàng Hiền Y Tá sốt ruột, sợ có ai báo cáo cho người không bệnh nằm bệnh xá. Tôi có cho tay này hai gói mì an liền. Sợ là phải.

Ít lâu sau Chiến Chàm qua đời. Mỗi khi từ Buồng 4 leo lên chỗ bãi đất rộng bị chiếm một phần xây nhà kỷ luật mới, tôi nhớ lại tiếng rên la thảm thiết vì bao tử hành của Chiến Chàm. Tôi vẫn nghĩ cái chết là điều đáng mừng cho cậu Đầu Gấu này. Xong một kiếp người, bây giờ chắc chàng nhẹ nhàng ở nơi chốn nào đó. Rồi nhìn qua bên kia bờ sông Mã, vẫn núi non sừng sững bao quanh, tôi chợt nghĩ, như vậy, phong thủy nơi chốn này phải có điểm nào đó khiến nó thành nơi xây nhà tù, nơi đọa đầy con người, nơi chôn bao kiếp tù nhọc nhằn. Một nơi đầy ám khí.

Không nhớ rõ nguyên do nào mà Bình Bưởi qua tìm tôi ở Nhà 4 một hai lần. Có thể chuyện tôi ngăn Chiến Chàm đánh cậu tù người thiểu số, hoặc chuyện tôi cho Chiến Chàm thuốc đau bao tử, Bình Bưởi nghe được, qua xin tôi thuốc gì đó. Sau này, Bình Bưởi kể tôi nghe, có tay Quản Giáo bên hình sự bị bệnh trĩ. Nhờ mấy tay Quản Giáo bên Tù Miền Nam xin, không ai có. Bây giờ số tù Miền Nam không còn nhiều, thuốc men khan hiếm hơn. Bình Bưởi qua tìm tôi hỏi đại. Lạ thay, đúng chỗ. Tôi có xin nhà gửi Preparation H., do tôi ăn sắn lâu ngày, hoặc ăn Bắp Đá, hạt cứng như sỏi, nên bị trĩ. Tôi có một ống dùng dở, một ống nguyên. Nhưng ở tù, tôi không thể hoang phí bừa bãi, nên xé mảnh bao lylon, bơm một ít thuốc từ bao dở ra, cho Bình Bưởi. Có lẽ lần sau chàng qua tôi để cảm ơn, cho tôi gói chè Thái Nguyên. Không muốn dây dưa, nên tôi không nhận. Sau này, lại có chuyện dây dưa, tôi đã kể đâu đó, anh chàng Trực Trại xin đổi quần jean rởm của tôi, sai Bình Bưởi mang đưa tôi cái quần công nhân màu xanh.

Giữa Bình Bưởi và tôi còn mấy chuyện gì đó qua lại, toàn chuyện trời ơi tự nhiên đến. Nhiều khi nghĩ lẩn thẩn, chắc tử vi của tôi mấy năm đó có sao gì chiếu, cứ giao thiệp với đầu gấu miết, những mối giao tế không thể hãnh diện. Tết 1984, sáng Một Một Tết, khoảng 8 giờ sáng, gần nửa số người trong buồng còn đang nằm nán trong chăn, kể cả tôi, thì Bình Bưởi chèo lên sạp, chỗ tôi nằm. Cậu ta nói, cháu qua mừng tuổi chú, rồi treo một dây pháo dài từ dây căng màn xuống qua khỏi mép sạp trên. Tôi cản lại, đừng đốt, cán bộ nó vào bây giờ. Cậu ta cười, ngày Tết, chú đừng sợ, cháu nói cháu đốt đấy, mấy ông phải chịu thôi. Hôm qua ông (tôi quên tên Trực Trại lúc đó, cái anh Trực Trại bảo tôi vét đĩa) thấy mấy thằng mang pháo vào trại cho cháu, là biết rồi. Tiếng pháo nổ ròn tan, xác pháo đỏ bay đầy phòng. Rõ ràng có người khó chịu. Tôi chẳng vui thú gì cái điều đặc biệt này, nên nhận lời qua bên Bình Bưởi uống nước chè, ăn mứt, mừng xuân. Chỉ mong nó biến nhanh. Hình sự, dù là đầu gấu chăng nũa, vẫn bị “phe ta” kỳ thị. Sau này nhớ lại, tôi thấy buồn cười, ở trong tù được đốt pháo mừng tuổi, ra ngoài đời, bị cấm đốt pháo. Trước khi qua Bình Bưởi, tôi phải kiếm miếng bánh ngọt ăn dằn bụng. Nước chè cái kiểu cắm que tăm không đổ mà bụng trống, chỉ có nước nôn đến mật vàng, mật xanh. Buổi sáng mừng Xuân của đầu gấu có đủ cả hương vị ngày Tết. Bánh chưng, giò thủ, gà luộc, dưa hành, rượu gì đó, hình như rượu mơ hay rượu mít, và cái điếu cầy “hoành tráng” có “lá đề” sặc sỡ, nhiều màu. Tôi phải đưa tay cản để không bị gắp đấy bát. Bình Bưởi và mấy tay đàn em thân tín nốc rượu liên miên, biết tôi không uống được nên không ép. Cái chuyện uống rượu sáng sớm tôi tưởng chỉ có trong tù, bạ lúc nào ăn nhậu cũng được. Đến Hà Nội mấy lần sau này, tôi thấy thiên hạ ăn lòng lợn, tiết canh lúc 7 giờ sáng, kèm theo chai rượu ngất ngưởng. Cái kiểu “văn hóa ẩm thực” hơi lạ. Bình Bưởi khoe, toàn là thứ Hà Nội mới mang vào đấy chú. Con gà mấy thằng em mới luộc sáng sớm. Xem ra, cử chỉ, ngôn ngữ của tay này có vẻ khoan thai, không quát tháo ồn ào với đàn em. Cậu đàn em lỡ làm đổ bát nước mắn, Bình Bưởi chỉ nói, chốc nữa mày giặt sạch chiếu cho anh đấy. Rồi Đầu Gấu hỏi với xuống sạp dưới, chúng mày có bị nước mắm không đấy? Rõ giọng đàn anh. Ở sạp dưới lao nhao nói lớn, không sao cả, anh ạ. Cậu Bưởi rung đùi nói chõ xuống, bắt thằng này nó giặt hết chăn màn, ngày Tết làm đổ nước mắm. Lúc không “có khách”, chẳng hiểu “đấng bề trên” có nhẹ nhàng thế không. Mấy đứa trong buồng rụt rè đến chúc Tết đàn anh, được cho bi thuốc lào, sướng ra mặt. Chả bù lúc đàn anh trấn lột, có món quà Tết nào ngon quí, đàn anh cho mới được giữ. Thế giới tù hình sự có lẽ cũng giống bên ngoài. Mấy anh Đảng Viên Đầu Gấu Bộ Chính Trị cũng thế thôi. Cũng trấn lột nhân dân một cách ngang nhiên, cứ như sinh ra đời vốn sẵn có cái quyền đó. Ngày xưa, Vua là “thiên tử rởm”, may mắn ra đời lọt vào làm con vua, còn ngài Tổng Bí Thư là “thiên tử thật”, uy quyền thật sự. Vua còn phải e dè vì “Dân vi quí, xã tắc thứ chi, Quân vi khinh”, còn ngài Tổng Bí Thư, ngài là trên hết, “dân” là cái con gì nhỉ?

Hơn tháng sau, biết có tên tôi trong đợt tha kỳ này, Bình Bưởi qua mừng. Cũng là lần đầu tiên tôi thấy một tên hình sự qua mừng một chàng tù chính trị được về. Tôi chỉ chiếc áo khoác còn mới đang mặc, nói, chú về Hà Nội ít ngày, cần áo này. Đến ngày về Sài Gòn, chú sẽ tìm người nhà cháu, để họ mang vào khi thăm nuôi. Tự thâm tâm, tôi không muốn mang một chút gì từ tầng đáy này của xã hội về nhà. Cho hết, chỉ mặc cái quần và mấy cái áo lạnh, sẽ cởi dần khi về tới Miền Nam nắng ấm. Thức ăn, thuốc men tôi đã bàn giao cho bạn tù ở lại. Tôi lấy địa chỉ Bình Bưởi. Theo tôi về Hà Nội có cậu Phục Quốc tên Minh, thường gọi Minh Suyễn, quê ở Miền Tây. Thấy tôi hỏi thăm đường đến nhà Bình Bưởi, cậu Suyễn ngạc nhiên, anh làm thật à. Ờ, mình “Tù Chính Trị Miền Nam”, phải giữ lời hứa. Hai anh em lên tàu điện chạy về Chợ Hôm (thực ra tôi không nhớ đi về đâu, nói Chợ Hôm cho tiện việc viết lách). Xe điện chạy leng keng, từ từ, tôi đứng ngắm phố phường Hà Nội, bỗng nghe đằng sau có tiếng, con chào “ông”. Quay lại, hai tên tù hình sự Thanh Cẩm, không biết thả từ bao giờ, đang nhăn răng cười. Mấy đứa hiền lành hay ghé sân vữa xin bi thuốc lào. Tôi hỏi đùa, trở lại nghề cũ hở. Đáp, bây giờ không biết làm gì hết ông ơi. Cơ quan nào cũng lắc đầu. Tạm thời cứ thế này đã. “Thế này” là móc túi. Tôi đùa tiếp, tha cho tao với anh Minh Suyễn này nghe. Bọn nó bẽn lẽn. Con không dám, ông ạ. Rồi hai đứa biến mất. Tôi nhớ hình như có cho mỗi đứa 10 đồng hay 20 đồng. Tôi tìm được nhà Bình Bưởi, gặp cô em, cô nói hai tháng nữa con mới vào thăm anh ấy. Trong nhà, thấy bày biện đồ đạc ngăn nắp, sạch sẽ. Cô bé chắc có đi học, không nhớ rõ có phải cô nói bây giờ phụ Mẹ coi sạp buôn bán ngoài chợ. Nhà gần chợ. Thành ra tôi thích viết là “đi Chợ Hôm”, thực ra không nhớ chợ khu nào.

Sau này, một cậu hình sự tên Thông, thường gọi Thông Mù vì cận thị, gặp tôi ở Sài Gòn, cho biết, Bình Bưởi (không rõ được tha hay vượt ngục), ăn cướp đường Hà Nội Lạng Sơn. Được một thời gian thì bị công an bố trí bắn chết trong một vụ cướp. Cũng xong một kiếp người. Tôi vẫn hình dung được nét mặt, hình dáng hai tay đầu gấu vắn số trên.

Hồi năm 2017, 2018, tôi nghe nói Minh Suyễn đang ở Canada. Không hiểu còn suyễn không. Một anh chàng sẵn sàng sắn tay áo, rủ bọn cán bộ đánh nhau tay đôi. Đang ngồi ôm đầu gối lên cơn thở khò khè, tên Quản Giáo vào, chưa biết suyễn là gì bao giờ, chớt nhả cốc lên đầu Minh Suyễn. Cậu ta đứng phắt dậy (chắc hết suyễn luôn), ĐM., mày muốn đánh nhau tay đôi không? Bây giờ, chắc vợ con đề huề, chẳng còn tên áo vàng nào ở bên cạnh để mà đánh nhau nữa. Ghi chú ở đây, ĐM. Của Minh Suyễn là đm. theo kiểu Miền Nam, nghe “thanh” hơn kiểu Miền Bắc.

Về vụ Bùi Đình Thi

Đầu năm 2001 trên báo chí Việt Ngữ nổ ra vụ một Cựu Tù Chính Trị Trại Thanh Cẩm, anh Bùi Đình Thi bị, một Linh Mục cũng ở trại này, LM Nguyễn Hữu Lễ, tố cáo tội giết hai người tù chính trị ở trong trại. Từ 1993, ông Linh Mục này đã viết báo kể chuyện trại Thanh Cẩm, đã nói anh Bùi Đình Thi phạm tội giết người.

Sau đó, Anh Bùi Đình Thi không bị tòa án San Pedro kết tội sát nhân, nhưng bị đưa đi an trí tại Quần Đảo Marshall.

Quí vị cũng có thể google về vụ án Bùi Đình Thi để đọc thêm, Nếu cho phép, tôi xin có ý kiến, đừng đọc với thành kiến. Suy nghĩ kỹ những gì đọc được, quí vị sẽ thấy ánh sáng sau những lý luận của đầu óc tỉnh táo, với lương tâm chính trực của con người. Ngoài ra, tôi xin mách thêm, ông Linh Mục Lễ vào năm 2003 đã cho ra sách kể chuyện đời ông, có giai đoạn bị tù ở Thanh Cẩm. Trên các phương tiện truyền thông Việt Ngữ, có nhiều bài viết về vụ án này, hai phóng viên John Gittelsohn và Anh Do đăng trên báo Orange County Register ngày 10.6.2001, bài “Tâm Tình Một Người Vợ Lính, Vợ Tù” của vợ Bùi Ðình Thi là bà Ðinh Ngọc Liên, bài “Lương Tâm Trước Một Vấn Ðề” của Mai Văn An, loạt bài phỏng vấn Bùi Ðình Thi của nhật báo Người Việt, và một loạt bài của Vũ Ánh đăng trên Nhật Báo Viễn Ðông. Bài “Linh hồn mục nát” và “Làm rõ sự thật trong vụ án sát nhân ở Thanh Cẩm” của Kim Âu Hà văn Sơn. Bài “Sự thật tôi biết tại trại tù Thanh Cẩm” của Võ Bình. Bài “Tha thứ và sự thật” của Thanh Tùng. Những bài của Mai Văn An, của Võ Bình, hai người tù Thanh Cẩm, cùng ở kiên giam với Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, là những bài đáng tin cậy. Những bài của ông Hà Văn Âu, Thanh Tùng có những lý luận vững chắc. Còn nhiều nữa, ông (bà) google sẵn sàng cung cấp, kể cả đường đi tìm hồ sơ pháp lý của vụ án.

Ở đây tôi không kể về vụ án, diễn kiến sự kiện, lời buộc tội và lời bênh vực anh Bùi Đình Thi. Tôi chỉ kể về những gì tôi nhìn thấy từ anh Thi, tôi nghe từ anh Thi, trong thời gian ở trại. Nhưng trước hết tôi xin kể chuyện đến nhà anh Bùi Đình Thi vào đầu năm 2001. Sau đó, chuyện Luật Sư bên bị cáo có đến tìm tôi và anh bạn Phạm Phú Minh khoảng thời gian vụ án đem sử ở tòa.

Khoảng Tháng Năm, 2001, cô Đỗ Bảo Anh, phóng viên của tờ báo Orange County Register, nhờ tôi bắt liên lạc với anh Bùi Đình Thi để cô phỏng vấn. Tôi đến gặp gia đình anh Thi tại nhà. Hiện nay họ không còn ở California, và tôi cũng không nhớ lúc đó nhà họ ở đâu. Tôi gặp cả anh Bùi Đình Thi và vợ anh, chị Đinh Ngọc Liên, và một cháu nào đó. Anh Thi cho biết đang làm công việc giao báo nhà và bỏ báo thùng cho báo Register. Sáng phải dậy thật sớm, chiều về sớm nên hôm nay mới gặp được tôi. Khá vất vả nhưng đủ sống. Trong câu chuyện, anh chị Thi dắt tôi đến trước bàn thờ trên bày ảnh tượng Chúa, nói rằng, mấy năm trước đây, Cha Nguyễn Hữu Lễ có đến nhà anh chị ăn cơm, và ra trước bàn thờ nói lời tha thứ cho anh Bùi Đình Thi về những gì anh đối với Cha ở Thanh Cẩm. Anh Chị cùng nhắc lại, Cha Lễ thề trước bàn thờ, trước tượng Chúa rằng đã tha thứ, và không bao giờ nhắc lại chuyện cũ nữa.

Chị Bùi Bùi Đình Thi nói như khóc, không hiểu sao bây giờ Cha lại nói mấy chuyện này ra, lại còn khép tội anh Thi là giết người. Nhà em có giết ai đâu. Tôi cố an ủi chị, nhưng nói cho rõ, chuyện ở trên khu kiên giam tôi không nhìn thấy, không nghe thấy vì tôi không ở đó, tôi ở dưới buồng. Theo tôi, anh Thi có thể là người cứng rắn, nhưng với cá nhân tôi, anh Thi chưa từng bao giờ làm điều gì gọi là không phải, không hay, trái lại, có lần giúp đỡ tôi nữa.

Tôi hỏi anh Thi ở “sở làm” có gì thay đổi không, anh bảo không, công việc tôi vẫn vậy, cũng chẳng ai để ý. Có lẽ không nhiều người Việt Nam làm ban giao báo, người Mễ nhiều. Chúng tôi cười vui vẻ với nhau. Tôi chợt nhớ hỏi anh chị có cho tôi dắt cô Bảo Anh làm ở báo Register đến hỏi chuyện không. Họ đồng ý.

Cuối Tháng 5, 2001, tôi đưa Đỗ Bảo Anh đến nhà anh Bùi Đình Thi. Chị Thi nói anh Thi bất ngờ kẹt chuyện gì đó, nhưng chị sẵn sàng nói chuyện, vì hầu như mọi chuyện chị đều nắm vững. Tôi về trước, để Bảo Anh được tự nhiên khi nói chuyện, tôi cũng nhắc Bảo Anh, tên chị Thi là Đinh Ngọc Liên.

Khoảng tháng 5 hay 6 năm 2003, anh Phạm Phú Minh báo tôi tin phía Luật Sư của anh Bùi Đình Thi muốn gặp hai chúng tôi. Lâu rồi, tôi không nhớ lắm, hình như là một luật sư người Nam Mỹ. Ông ta muốn tìm nhân chứng bênh vực anh Thi. Có lẽ ông ta là Luật Sư Cãi Miễn Phí (Public Defender). Nói chuyện qua loa, ông hẹn hai đứa chúng tôi ngày ra tòa. Hôm đó, chúng tôi theo ông ra tòa, nhưng ông nói hai đứa ngồi ngoài, hình như phía ông cũng có mấy người nữa, nhưng họ đến trước, đã vào trong. Cuối cùng, không thấy ông ra đưa chúng tôi vào, chúng tôi ra về. Tôi đoán, có lẽ những nhân chứng bên nguyên đã thuyết phục được Bồi Thẩm Đoàn, nên Luật Sư bên bị không tranh cãi nữa, hoặc không gọi thêm nhân chứng nữa. Tôi định bụng ra tòa, tôi sẽ khai không thấy anh Bùi Đình Thi đánh chết ai, có nghe sầm sì, nhưng ở trong tù, nhiều chuyện được kể ra như thật, nhưng ngay người kể cũng không hề nhìn thấy, nghe thấy. Ở đây tôi muốn nói thêm điều này, tôi không tin tất cả những người làm nhân chứng kết tội anh Thi “thực sự nhìn thấy, hay nghe được” từ anh Thi những hành động rõ ràng, lời nói rõ ràng, khiến một hay hai người đồng tù bị chết. Tôi sẽ khai một vụ cụ thể xẩy ra cho chính tôi, anh Bùi Đình Thi khám xét thấy tôi mang một nón sắn vào trại, là điều cấm kỵ, mà anh không nói gì, để tôi mang vào, không báo cáo. Tôi đã kể đâu đó vụ này. Mấy cậu bé Phục Quốc, “lang lác” được đống sắn, mang xuống sông lúc tắm rửa, để vào cái nón, lấy quần áo ướt phủ lên trên, đưa tôi cầm lên. Mấy cậu nhỏ không để ý, gọi tên tôi lớn rồi ngoắc xuống bờ sông. Chàng Trật Tự Thi có lẽ nghe, biết, thấy lúc nãy tôi không có gì trên tay, bây giờ lại một đống quần áo, ắt phải đoán ra. Xếp hàng vào trại, chàng đi xét. Đến lượt tôi, chàng khẽ nhấc lên một phía quần áo, lòi ra sắn. Chàng nhìn tôi cười cười, cái kiểu cười như muốn nói, ủa ông mà cũng thế à. Xưa nay chàng chưa từng khám tôi, vì thế mấy cậu nhỏ yên chí, lâu lâu nhờ tôi mang “hàng lậu” qua cổng trại. Kỳ này mấy cậu làm lộ quá, chàng Trật Tự cũng muốn “thử khả năng nghề nghiệp”, xem có đúng không. Tôi cũng dự định khai anh Búi Đình Thi có cứng rắn, nhưng vừa phải, và khi nào có mấy tên Công An để ý nhìn đến. Bình thường, anh cũng vui đùa với mọi người. Đối với những ai tỏ ý khinh miệt anh, chọc tức anh, dĩ nhiên phản ứng anh phải là gay gắt. Anh Bùi Đình Thi, về nhân dáng, tôi chủ quan nhìn thấy có vẻ cục cằn, nhiều khi thô lỗ. Tôi có chứng kiến tận mắt cảnh anh đánh Ông Già Đệ một cái đang lúc xếp hàng ở cổng đợi nhập trại. Không rõ vì sao, tôi cũng không tìm hiểu. Ngoài ra, không nhìn tận mắt anh đánh ai. Quát tháo, xô đẩy mấy cậu bé đứng vào hàng, tôi thấy, nhưng không phải là anh đánh đập người khác. Tôi có nghe kể chuyện anh làm mấy chuyện giúp bạn đồng tù. Chỉ nghe kể, không chứng kiến, nên không viết ra đây. Nhưng phải kể chuyện đọc được từ mấy bài báo tôi liệt kê bên trên, rằng anh Bùi Đình Thi giúp anh Trác Ngọc Anh có hộp sữa đặc, để anh Anh chuyển cho Đại Tá Trịnh Tiếu sau khi Đại Tá bị đánh nhừ tử vì trốn trại. Có người nói vì anh Thi sợ anh Anh nên làm như vậy, Có thể. Nhưng vì gì thì cũng là hành động tốt. Tóm lại, anh Thi là một người giữ chức Trật Tự có ngôn ngữ khe khắt, hung dữ hơn mấy anh khác, nhưng nghe nói anh phụ tá của anh tên Phát, lại dữ dằn hơn và biểu lộ bằng hành động. Nghe nói thôi. Nhưng vẫn tự hỏi, nếu ông Linh Mục Lễ gặp anh Phát ở Mỹ, thì sao?

Tôi xin ghi thêm một ý này: Nếu so sánh hành động của một anh Trật Tự khó khăn, hung bạo, với việc làm của những anh làm ăng ten báo cáo bạn tù khác, tôi cho rằng anh ăng ten nguy hiểm hơn nhiều. Anh ăng ten là kẻ dấu mặt chúng ta ít biết được, anh ăng ten gây hại “sinh mạng chính trị” của người đồng tù, có thể khiến người đồng tù kéo dài thời gian bị tù, phải gánh chịu thêm khó khăn trong cảnh sống (bị cho vào khu kiên giam, kỷ luật, bị cùm, bị …, biết đâu từ đó có thể chết người.) Anh ăng ten có thể vu khống vì thù ghét cá nhân khiến bạn tù lâm nguy, … Anh ăng ten có thể gây nhiều chuyện lắm trong nhà tù, mà xã hội nhà tù thường không biết là ai để đề phòng. Xin bình tâm suy xét, phán đoán, dù sự phán đoán là quá sớm theo lời Chúa dậy.

Bây giờ, tôi nói ý kiến chủ quan của tôi về vụ án Anh Bùi Đình Thi. Xin nhắc lại, mấy ý này là của tôi, rất chủ quan.

Về ông Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ

Ông Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ có đến California nhiều lần. Mấy anh thân cận ông vẫn gọi tôi đến chơi nhân dịp đón tiếp ông. Tôi đều đến, những bạn tù xưa thường hay đến với nhau khi có dịp. Nhưng tôi không thấy có thể kính trọng, săn đón ông như mấy bạn tù kia. Đã nói, tôi là một tên gàn gàn dở dở ương ương, nên nhìn người cũng theo cách đó, khó giống nhiều người. Ờ trong tù, lúc nằm bệnh xá, tôi lại gần gụi với Cha Lan, tôi quên tên đầy đủ của Ngài, có thể là Phạm Ngọc Lan. Tôi thấy Ngài là môt vị chăn chiên khiêm nhu, uyên bác mà nói chuyện như bác nông dân Bắc Kỳ, rất gần gụi bạn tù khác. Cha Lan hơn tôi chắc khoảng 12, 13 tuổi, vẫn cứ cậu cậu tớ tớ với tôi. Chưa thấy Cha xưng “cha” với ai. Cư xử bình thường thì “tôi” với “anh”, “các anh”. Với mấy vị cùng lứa, Cha rất kính trọng, gọi “Cụ”, “Ông”. Còn ông Linh Mục Lễ, ông ta có vẻ ngồi trên ngai Tổng Giám Mục. Thái độ lúc nào cũng bề trên, dạy dỗ. Có khi tôi nghĩ, có thể đôi khi soi gương, ông tự thấy có vầng hào quang quanh khuôn mặt mình. Nghĩ nhiều phần là bậy, nhưng tôi vẫn phải ghi ra.

Cái chuyện ông đã thề trước bàn thờ nhà anh Bùi Đình Thi, nếu có thật, thì ông không còn xứng đáng là một “giáo dân bình thường”, đừng nói đến tước vị Linh Mục. Bởi tôi mới nghe có một phía, nên không dám nói lời khinh suất với ông.

Cái chuyện ông viết ra, với sự tuyên thệ, để người ta có thể truy tố anh Bùi Đình Thi, là một hành vi bất xứng với chiếc áo Linh Mục ông mặc. Bởi vì, một giáo dân bình thường đã được học đức “tha thứ”. Một Linh Mục mặc áo chùng thâm, cái đức tha thứ còn lớn gấp bội. Bảo rằng ông tố cáo để mọi người, để hậu thế biết rõ sự thật ở Trại Thanh Cẩm. Đã chắc gì những điều ông tố cáo là sự thật. Ngay cả tín hữu của ông cũng nói rằng ông tố cáo sai. Ông thừa biết, mỗi bên của rặng núi Pyrénées đều có chân lý của mỗi bên, và chưa chắc giống nhau. Bảo rằng tố cáo để kẻ làm xấu bị trừng phạt. Chúa đã nói với ông đừng phán xét vội, đợi ngày đến trước mặt Chúa hãy nói chuyện. Sao ông vội vã thế.

Tôi đã thú nhận rằng rất chủ quan, nhưng chưa đủ chủ quan để gọi ông là kẻ háo danh, cầu lợi, dù phải gây cho kẻ khác khốn cùng. Nhưng lòng tôi nghĩ thế. Ông khiến tôi nhớ về một truyện dịch, ngắn, đọc hồi nhỏ của Alphonse Daudet, không nhớ ai là dịch giả, là truyện “Thánh Lễ Nửa Đêm”. Nguyên tác có tên “Conte de Noel”. Truyện kể cha Thomas Arnoton làm thánh lễ nửa đêm. Đầu óc cha bị các món ăn hấp dẫn xâm chiếm, nên rút ngắn thánh lễ. Đọc bản dịch thấy các món ăn được mô tả hấp dẫn thật. Cha bị Chúa phạt, cho làm 300 “Thánh Lễ Nửa Đêm”, Cho nên từ nhiều năm rồi, cứ đến đêm Noel, dân địa phương thấy trong ngôi nhà thờ hoang phế vẫn có thánh lễ diễn ra. Chỉ vì ham ăn mà bị phạt như vậy. Không biết một kẻ chăn chiên vì ham danh vọng, lợi lộc, quyền lực để hại toàn bộ đời một con người, làm tan nát một gia đình, thì sẽ bị phạt như thế nào. Tôi vốn định đề nghị với Chúa, do tội vu cáo, là tội nói dối, và hại người là tội làm ác, cho kẻ chăn chiên đó 300 năm làm Trật Tự trong nhà tù Cộng Sản. Nhưng nghĩ lại, trừng phạt một người theo kiểu đó lại làm hại cả ngàn người “dưới trướng” người đó thì không nên. Cả ngàn người sẽ khốn khổ vô cùng, khốn khổ gấp trăm lần khi anh Bùi Đình Thi làm Trật Tự. Lạy Chúa nhân từ, tôi tin Ngài có cách của Ngài.

Tôi không muốn viết gì thêm về ông Linh Mục Lễ, mặc dù biết bao nhiêu điều tôi muốn viết ra. E rằng mình chỉ thấy chân người khác lấm bùn, còn không thấy chân mình. Vả chăng, tôi không được xỏ chân vào đôi giầy của ông Linh Mục Lễ, làm sao tôi biết nên cư xử thế nào cho phải. Tôi cũng muốn nhắc ông Linh Mục Lễ như vậy, hãy tìm đôi giầy của Bùi Đình Thi xỏ thử chân vào, có khi lại vừa với chân ông hơn chân anh Thi đấy. Cái lối suy nghĩ gàn gàn dở dở ương ương, xin độ lượng với tôi.

Tôi nghĩ về anh Bùi Đình Thi

Với tôi, một người tù sống tại trại giam Thanh Cẩm cùng thời gian anh Bùi Đình Thi ở đó, tôi không có điều gì để than phiền về anh Thi. Trái lại, khi anh Thi làm Trật Tự, tôi còn mang ơn anh khi ít nhất 2 lần anh bỏ qua (một cách lịch sự) việc tôi vi phạm điều cấm đoán của trại tù.

Với tôi, anh Bùi Đình Thi là một “người tù Miền Nam” hoàn toàn bình thường như bất cứ ai trong những người tù Miền Nam bị nhốt tại trại Thanh Cẩm. Tôi tin rằng anh vẫn giữ đầy đủ nhân cách một người tù bình thường. Anh có thể nổi nóng trong vài trường hợp nào đó. Một sự nổi nóng rất bình thường xét về khía cạnh tâm lý con người, và con người trong tù. Từ sự nổi nóng đưa đến những hành động quá đáng là điều dễ hiểu. Nhưng lấy chuyện anh “đánh ông già Đệ” để đưa kết luận anh “giết ông Tiếp”, rồi “giết ông Văn” là kém ý thức, là không công bằng, với một vài người trong số kết tội anh, là ác độc.

Tôi không tin tất cả những người làm nhân chứng kết tội anh Thi “thực sự nhìn thấy, hay nghe được” từ anh Thi những hành động rõ ràng, lời nói rõ ràng, khiến một hay hai người đồng tù bị chết. Xin bình tâm nhìn lại, “tự mình nhìn rõ, thực sự nhìn rõ, tự mình nghe thấy, thực sự nghe thấy, từ anh Thi  những hành động, lời nói …”. Trong hoàn cảnh ở khu kiên giam, khu kỷ luật trại Thanh Cẩm, chuyện nhìn được bên ngoài, nghe được bên ngoài, không phải là điều dễ dàng. Nhìn được bên ngoài thì tin được, nghe được bên ngoài, chưa đáng tin 100%. Xin nhớ lại đi, trong đời sống thường nhật, đã nhiều lần chúng ta “tưởng là” nhìn thấy, “tưởng là” nghe được … những sự “tưởng là” đó không gây kết quả đáng kể. Còn ở đây, sự “tưởng là” đối với hoàn cảnh anh Bùi Đình Thi đưa đến hững hậu quả rất nghiêm trọng. Tôi kêu gọi những ai từng nghĩ, nói anh Bùi Đình Thi phạm tội sát nhân, dành ít phút cầu nguyện Thiên Chúa Ba Ngôi, cầu nguyện Trời Phật, rồi nhớ lại xem có chính mắt thấy, chính tai nghe những hành động, những lời nói của anh Bùi Đình Thi khiến hai vị đồng tù phải qua đời, hay không. Xin lưu ý, từ lời nói đưa đến hành động, không phải là chặng đường giản dị, dễ dàng, và tất yếu. Nếu vị nào, sau khi nghĩ lại, thấy chỉ có 1% nghi ngờ, hãy can đảm nói lên. Nói lên giờ này không đưa được anh Thi trở về cõi thế, nhưng giúp thêm sức mạnh cho chị Đinh Ngọc Liên và các cháu, nhưng quan trọng hơn cả, trả “sự thật” trở lại với cõi đời này. Sự can đảm nói lên này lớn lao như bất cứ hành động phi thường nào trong chúng ta.

Bây giờ, để bổ túc những gì tôi muốn ghi lại về Nhà Tù Thanh Cẩm, mời quí vị đọc một bài ngắn tôi kể chuyện “tù Thanh Cẩm” được viết cho “Đặc San Thanh Cẩm” năm 2012. Ngoài ra, nếu quí vị quả thực rảnh rỗi, không sợ phí phạm thì giờ, mời quí vị xem mấy đoạn văn vần tôi ghi về thời kỳ ở Thanh Cẩm, cũng như một thứ bổ túc vậy. Tôi có để mấy đoạn đó trong blog này.

Nhân đây, xin nói sơ qua về nhóm cựu tù Thanh Cẩm, gồm những người tù chính trị Miền Nam nhốt tại trại Thanh Cẩm. Có lúc con số tù chính trị Miền Nam tại trại này lên đến gần ngàn người, nhưng từ Quận Cam, California, Hoa Kỳ, chúng tôi tìm cách liên lạc chỉ được chừng hơn 300 người, hơn 250 người ở ngoài nước, gần 50 người còn sống trong nước. Chúng tôi đã tổ chức Đại Hội Thế Giới kỳ 1 cho cựu tù Thanh Cẩm, vào năm 2008, có anh ở Việt nam qua dự. Năm 2012, lại tụ họp anh em một lần nữa. Điểm đặc biệt của nhóm tù này là không hề lập thành hội. Chúng tôi tự xưng là “Gia Đình Cựu Tù Thanh Cẩm” trong đó bao gồm cả thân nhân gia đình các cựu tù nhân còn sống hay đã qua đời. Không lập hội nên không xin giấy phép, không có nội qui, không có điều lệ. Cứ “khơi khơi” gặp nhau. Các vị ở Miền Nam California mỗi năm gặp nhau chính thức một lần vào dịp “tân xuân”. Gặp nhau ăn uống một buổi, chuyện trò, rồi “bầu bán” (tức là ép nhau) anh này làm việc này, anh kia làm việc kia. Rồi khơi khơi tự ý góp tiền, không tiêu chuẩn, không niên liễm, có nhiêu góp nhiêu. Có anh góp $20, có anh góp $500. Gặp dịp tổ chức Đại Hội, mấy anh khá giả góp $1,000., có anh “bao chót”. Không ai có biên nhận. Phải ép mãi mới có người nhận giữ tiền để chi tiêu “quan, hôn, tang, tế”. Có lần, anh giữ tiền thất cơ lỡ vận, tán gia bại sản, anh em đành xí xóa cho nhau. Rồi lại tìm người ép uổng làm Thủ Quĩ. Vậy mà lúc nào trong quĩ cũng có năm, bảy ngàn đồng. Khi bạn tù từ nơi xa đến chơi, hú nhau gặp mặt, chẳng ai nói phải góp tiền, anh nào có tiền cứ trả hết, chẳng ai than phiền. Đúng là “một gia đình”. Do vụ anh Bùi Đình Thi, trong gia đình có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng chưa hề mang ra tranh cãi. Tôn trọng ý kiến riêng rẽ của nhau là chính.

Tôi kể đời tù trại Thanh Cẩm theo kinh nghiệm và hiểu biết cá nhân của tôi. Muốn đọc những gì có tính văn kiện chính thức, có tính biên khảo, hoặc giả muốn xem liệt kê “tội ác cộng sản” xin tìm nơi khác. Ông (hay bà) google “biết” hết. Bây giờ hãy đọc “Những Mảnh Vụn” đã in trong Đặc San Thanh Cẩm năm 2012.

Góp Nhặt Những Mảnh Vụn

Ghi của Người Đi Ủng

10 giờ sáng ngày 16 Tháng 11, 2012, chúng tôi lái xe từ Quận Cam, Nam California, trực chỉ Seattle, cực bắc bờ tây nước Mỹ. Chiếc xe Corolla của Lê Tinh Anh mới nhờ người bạn tậu cho chạy bon bon trên đường thiên lý. Chàng tuổi trẻ không hổ danh “Nha Kỹ Thuật”, lái xe an toàn và chính xác như ngày xưa “nhảy toán.” Kỳ “nhảy” này chàng mang nhiệm vụ chuyển thư mời dự Đại Hội Thanh Cẩm Kỳ II đến tận tay quí anh Thanh Cẩm vùng Seattle, Washington State (WA). Tôi được chàng cho đi ké, vừa có người đỡ tay lái ít dặm đường, vừa có người tán dóc cho đỡ buồn ngủ. Và sau 20 giờ lái liên tục, trừ đôi lần ngừng đổ xăng, “ăn tối”, đúng 6 giờ sáng ngày 17 tháng 11, 2012, chúng tôi đậu xe ngay trước nhà Đặng Hữu Chí, mang theo “mối thảm hoạ” quấy rầy gia chủ, người tù chính trị trẻ nhất trại Thanh Cẩm. Phải chú thích ngay về hai chữ ‘ăn tối” ghi trên, có nghĩa là mua hai ly mì ăn liền tại trạm săng, xin nước sôi đổ vào, đứng ăn ngay cạnh “con ngựa sắt” đang im lìm ngủ gật trong gió lạnh núi rừng.

Vừa gặp mặt, tôi cho Chí biết ngay rằng suốt đêm lái xe, hai anh em luôn nhắc đến nỗi ước mơ một tô phở nóng hổi tại Seattle. Cái gì chứ thứ này là “cây nhà lá vườn” của Chí. Chàng đang làm chủ và cố vấn trông nom cho hệ thống trên 14 tiệm phở mang tên “Than Brothers”, bao trùm hầu như toàn bộ Seattle. Trong dịp Đại Hội này, quí vị nên gặp Chí hỏi về chuyện nấu phở của anh, rất nhiều điều tình cờ và kinh nghiệm thú vị. Hình như chàng học nấu phở từ “sư phụ Tiến.”

Ngoài anh Đặng Hữu Chí là người thành công trong công ăn việc làm, quí anh Thanh Cẩm ở tiểu bang Washington đều có đời sống tương đối ổn định, con cái thành đạt. Nhưng điểm đặc biệt của quí anh ở đây là tinh thần tương thân tương ái giữa các người cựu tù cộng sản rất sâu và bền. Quí anh thường ở quây quần trong khu vực Seattle nên mỗi khi có chuyện vui buồn, ới gọi nhau khá dễ dàng. Thí dụ một anh cao tuổi, sống đơn chiếc vì con cái bận đi làm xa, muốn kê lại cái tủ, cái bàn nặng nề, đóng mấy cái kệ để đồ cho gọn ghẽ, chỉ cần ới một tiếng là có mấy anh buổi tối đi làm về ghé qua. Mọi nhu cầu của vị cao niên chỉ vài buổi tối, hoặc một ngày cuối tuần là được thoả mãn. Đúng là tinh thần anh em thật sự. Có thể nhân số các anh tương đối ít, cho đến nay chúng ta ghi nhận được khoảng 13, 14 người, nên liên lạc thường xuyên, thâm tình rất nặng. Nhưng một phần cũng là nhờ một vài anh không nề hà công việc tổ chức sinh hoạt vất vả, mất thì giờ, tự nguyện đứng ra gánh vác như anh Chí, cậu em út của vùng, anh Cần, sẵn sàng thu vén nhà cửa đón khách, anh Soạn, chăm chỉ điện thoại thúc dục khắp nơi … Một yếu tố khác giữ cho tình thân bền chặt là các anh không lấy chuyện quan điểm cá nhân làm điều quan trọng. Ý kiến về các việc nổi sóng trong cộng đồng liên quan đến mấy vị cựu tù Thanh Cẩm, các anh gác lại, không bàn tán, không thảo luận, dù mỗi anh mỗi ý thì xin giữ lấy. Cùng lắm, trao đổi riêng tư. Nhờ vậy không gây ra chuyện tranh cãi giữa nhau. Hầu như cứ một, hai tháng các anh lại gặp nhau một lần, kể cả anh Nguyễn văn Cao nhiều tuổi nhất, đã ngoài 80, đi đứng bắt đầu khó khăn nhưng không vì thế mà vắng mặt. Nếu buổi tối anh Cao không lái xe được, đã có các anh trẻ hơn chia nhau đưa đón, dù anh Cao không ở ngay Seatle chăng nữa. Mỗi khi có khách phương xa, lại là dịp các anh họp mặt đón khách tưng bừng, đãi đằng hậu hỹ, lại còn chia nhau “nuôi” khách, đưa khách đi chơi nhà nọ nhà kia, chỗ này chỗ khác. Chỉ cần một cú phôn hôm trước, hôm sau đã có đầy đủ nhân số. Có khi mới đón đám khách này tuần trước, lại có đám khách khác tuần sau, cũng chẳng anh nào ngại ngần không đến gặp nhau. Thản hoặc anh nào vắng mặt là do việc riêng gì cấp bách lắm, quan trọng lắm. Chúng tôi ghi dài dòng về Thanh Cẩm Seattle với nỗi ước mong chúng ta, những người cựu tù Thanh Cẩm, đều giữ được tinh thần thân thiết như quí anh ở Seatle và vùng phụ cận.

Tôi là kẻ được đi ké anh Lê Tinh Anh, không nhiệm vụ, không công trạng gì, nên cố ghi lại đôi điều góp nhặt bên lề các buổi gặp gỡ anh em Thanh Cẩm, nhân khi anh em bù khú, nhắc lại chuyện xưa, ôn qua chuyện mới. Phần ghi chép này chỉ chú ý các chuyện vui vui trong đời tù cải tạo, gợi lại hình ảnh một vài nhân vật anh em hằng nhớ đến, tất cả như những mảnh vụn tháng ngày đã qua. 

Một số nhân vật:

Cụ Nguyễn Văn Dõng đi tù Cộng Sản với chức vụ Phó Thống Đốc Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam (Ngân Hàng Trung Ương VNCH). Cụ Dõng nằm trong số 195 người tù Chính trị Miền Nam từ trại Long Thành chuyển ra Thanh Cẩm. Trưa ngày 6 Tháng 12, 1976, đoàn xe đò chở 196 người tù Miền Nam đổ xuống khu vực trại Thanh Cẩm, thuộc huyện Cẩm Thuỷ, Thanh Hoá. Tại sao có sự sai biệt 1 người, 195 người từ trại Long Thành, đến Thanh Cẩm thành 196 người? Kẻ ghi chép những mảnh vụn này tình cờ chứng kiến chuyện bàn giao giữa cán bộ công an trại Long Thành và cán bộ công an trại Thanh Cẩm:

Đêm ngày 5, rạng ngày 6 Tháng 12, chuyến tàu Sông Hương chở một số tù Miền Nam đến cảng Hải Phòng, trong đó có số tù từ trại Long Thành. Tất cả được lùa lên bến cảng như một đoàn quân ma trong ánh đèn leo lét. Một số phụ nữ sắc phục công an tươi cười, niềm nở đến thăm hỏi đoàn tù đang ngơ ngác, âu lo, lóng ngóng theo tiếng thét xếp hàng của những công an canh tù. Những nữ công an (công an gái, theo cách gọi Miền Bắc lúc đó) nói các anh yên tâm, sẽ được đưa về những nơi đầy đủ tiện nghi học tập ít tháng rồi sẽ được về với gia đình. Họ vẫn sợ những cuộc nổi loạn dọc đường cho nên thu xếp tất cả, từ những phụ nữ niềm nở đón tiếp, đến các cảnh ném đá của trẻ em dọc đường, … để cho tù phải e dè nếu có âm mưu nổi loạn. Đều là dối trá, lừa gạt. Những phụ nữ kia chắc có người tưởng thật, những trẻ em kia chắc nhiều em căm thù thật theo nếp tuyên truyền lếu láo.

Hai tay công an đứng ngay bên chỗ tôi ngồi xổm đang xoi đèn bấm lên một tờ giấy nhầu nát. Họ châu đầu vào nhau cãi vã. Qua ánh đèn, nhìn từ dưới lên tôi thấy những nét chữ nguệch ngoạc. Danh sách thuyên chuyển tù nhân chỉ cần “giản dị” như vậy, y như hồi còn ở trong rừng. Giọng nói the thé của miền Thanh Hoá cự rằng: Sao bảo Long Thành đưa ra 196 thằng mà đếm đi đếm lại chỉ có 195? Giọng Miền Nam trả lời cộc lốc: Thì chắc là có thằng nào sót lại. 195 thì nhận 195 cho rồi. “Đồng chí” công an Thanh Cẩm nhất định không chịu, thiếu một người về trại, sau này lấy đâu bù cho Bộ. Tôi thấy “đồng chí” Miền Nam chạy đi đâu đó một hồi rồi dắt đến một anh tù cao lêu khêu giao cho “đồng chí” Miền Bắc.  Anh Nhãn, không nhớ rõ họ gì, Nguyễn văn Nhãn hay Phan văn Nhãn, thuộc đám tù từ Miền Tây, bỗng dưng được tách ra cho nhập đám Long Thành để đi về Thanh Cẩm. Không rõ tay công an Long Thành điều đình sao với cánh Miền Tây và đám trại khác sẽ nhận lãnh, để móc được anh Nhãn ra.

Cụ Nguyễn Văn Dõng, người có chữ ký trên những đồng bạc chúng ta dùng thời VNCH, thuộc nhóm tù từ Long Thành, là nhóm tù Miền Nam đầu tiên đến trại Thanh Cẩm. Cuối năm 1977, một số tù từ Quảng Ninh được đưa về đây, sau đó đầu năm 1978, mấy đợt tù quân đội từ các trại phía bắc, gần biên giới, cũng về đây, tránh cuộc tấn công của Tàu. Đợt cuối cùng thêm tù vào Thanh Cẩm là đợt một số Linh Mục Thiên Chúa Giáo. Ngoài cụ Dõng, nhóm Long Thành còn nhiều nhân vật chức vụ khá cao thời VNCH, và tuổi cũng khá cao, như cụ Lê Tài Triển, Tổng Thư Ký Bộ Ngoại Giao, Cụ Tạ Văn Ấm, Thẩm phán, Bác sĩ Trương Khuê Quan, Giám Đốc Quốc Gia Nghĩa Tử, Chánh án Vũ Đức Vinh, Thượng Nghị Sĩ Nguyễn Văn Đôn, Chủ tịch Uỷ ban Quốc phòng Thượng viện, Chánh án Toà án Mặt Trận Nguyễn Cao Quyền…

Cụ Dõng mất trong năm 1977 tại Thanh Cẩm. Có lẽ cụ là người qua đời đầu tiên trong số tù chính trị trại này. Cụ và cụ Tạ Văn Ấm quen thân nhau, nhưng người con của cụ ở Pháp không chịu về thăm Việt Nam, nên đã không thể can thiệp cho cụ, trong khi cụ Ấm được về sớm. Một bạn tù ở Thanh Cẩm cho biết cụ được ông Nguyễn Hữu Thọ bảo lãnh. Nhưng vai trò ông Thọ đã lu mờ nên cụ vẫn bị đưa đi Bắc. Theo anh Tr.V.Chung., khi cụ gần mất, anh Chung có đề nghị lấy hai củ sâm của cụ pha nước cho cụ uống, nhưng cụ từ chối và nói: Không kịp. Cụ giao anh Chung giữ 2 củ sâm đó. Khi bà cụ thân sinh Đ.V.A, từ Sài Gòn ra thăm anh A., anh Chung nhận thấy bà cụ sức yếu vì tuổi hơn 70, đi chặng đường quá dài, quá vất vả, nên đã đưa ĐV.A một củ sâm để đưa cho cụ dùng. Cơ duyên để dùng một củ sâm cũng không phải là điều giản dị và tính toán trước được.

Trong hồi ký “Câu Chuyện Của Đời Tôi” của ông Nguyễn Hữu Hanh, bản đăng trên Talawas năm 2006, hiệu đính bản xuất bản năm 2004 tại California, tác giả có nhắc đến cụ Nguyễn Văn Dõng, nội dung như sau: Tháng 3, 1968, ông Nguyễn Hữu Hanh xin từ chức Thống Đốc Ngân Hàng Trung Ương VNCH để về làm việc với World Bank. Cả hai ông Thiệu, Tổng Thống và ông Kỳ, Phó Tổng Thống từ chối đơn xin từ chức này. Dằng dai đến Tháng 8 cùng năm, ông Hanh đề nghị: “Tôi cố tìm cách đề nghị người phó của tôi là Nguyễn Văn Dõng. Nhưng tên của Dõng không được chấp nhận…” Mãi rồi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng “chỉ bổ nhiệm Dõng làm Quyền Thống Đốc. Vài tháng sau Thiệu cử một người cháu là Lê Quang Uyển làm Thống Đốc Ngân Hành Trung Ương… và Dõng vẫn chỉ là Phó.

Các bạn tù từ Quảng Ninh về Thanh Cẩm còn nhớ về cái chết của cụ Dõng. Các bạn kể rằng khi đó họ mới về trại ít tuần, một buổi chiều sau giờ lao động, tự nhiên thấy đám quạ kéo về bay quần quần trên khu Nhà 4, nơi cụ Dõng nằm bệnh trong “cái gọi là bệnh xá”.  Hôm sau, mấy người tù hình sự khiêng quan tài cụ đi về đồi nghĩa trang. Anh em các đội lao động dọc đường chỉ biết đứng im tiễn biệt cụ. Cho đến Tháng 11, 2011, một số anh em cựu tù sống ở Seatle, nhân khi họp mặt, vẫn còn nhắc đến buổi trưa buồn bã đó. Không biết gia đình cụ Nguyễn Văn Dõng có tìm được và bốc mộ cụ về Nam chưa. Điều khôi hài là sau khi cụ mất được 3 năm, trong một đợt thả tù chính trị, cụ có tên tha về trong danh sách kỳ đó. Tên cụ được đọc oang oang giữa sân trại. “Thế nà thế lào?”

Cụ Lê Tài Triển chỉ ở Thanh Cẩm một thời gian ngắn rồi chuyển đi trại khác. Suốt hai năm đầu ở Thanh Cẩm, tù Miền Nam không được liên lạc gia đình, không có quà cáp. Cụ Triển cho anh Chung biết suốt cả năm cụ không đánh răng. Sau anh Chung tìm cách lo cho cụ ít muối để cụ dùng, vì trong tù cấm lưu trữ muối.

Cụ Tạ Văn Ấm: Ngạch Thẩm Phán. Cụ có con là kiến trúc sư vẽ hoạ đồ và trông nom việc xây cất trụ sở mới của Đại Sứ Quán Chính phủ Hà Nội tại Paris sau 1975. Ông kiến trúc sư này nhân dịp gặp Thủ Tướng Chính phủ Hà Nội trong lễ khánh thành toà nhà Đại Sứ mới đã nhắc đến ông bố đang bị đi cải tạo. Ông Phạm Văn Đồng hứa cứu xét. Cụ Tạ Văn Ấm sau đó được ông con thăm nuôi tại trại Thanh Cẩm, có lẽ là người được thăm nuôi đầu tiên trong số tù chính trị của trại này khi tù chưa được nhận quà gửi qua bưu điện. Sau bữa ăn tại nhà thăm nuôi giữa hai bố con, ông kiến trúc sư định thu dọn mọi thức ăn thừa đổ đi nhưng cụ Ấm cản lại. Cụ chỉ cho bỏ thùng rác chỗ xương gà không còn dính tý thịt nào, còn mọi thứ gom lại cho cụ mang vào trại. Bọn công an luôn luôn giám sát cuộc thăm nuôi, cụ Ấm không thể nói gì với con. Nhưng qua việc thu góp đồ ăn thừa, cụ Ấm muốn mô tả cho người con hiểu được đời sống trong nhà tù cộng sản ra sao. Cụ Ấm là người được về rất sớm tại trại Thanh Cẩm.

Bác Sĩ Trương Khuê Quan khổ người vốn đầy đặn hơn các cụ Dõng, cụ Triển, nhưng sau ít tháng ở Thanh Cẩm đã sọp hẳn đi. Bác sĩ là người thường xung phong khi có lời kêu gọi xuống bếp lột vỏ sắn (khoai mì) vì mỗi lần đi như vậy, đều được “bồi dưỡng” vài củ. Ở Thanh Cẩm cây sắn được trồng theo các triền đồi của rừng lim. Đó là loại sắn kỹ nghệ. Củ sắn nào nhiễm phải nhựa lim đắng chát, sau bữa ăn nhiều khi người ta cảm thấy như say nuớc trà, muốn ói mửa. Nếu lúc đó tưởng rằng bị cảm mà uống viên thuốc cảm vào, có thể mất mạng. Anh em trong tù, nghĩ cụ Quan là bác sĩ, nên tìm hỏi cụ rằng nhựa sắn kỹ nghệ ở đây có độc không, ăn nhiều có tốt không. Câu trả lời của cụ rất giản dị: Ai không ăn cứ đưa tôi ăn hết cho. Chưa biết sắn kỹ nghệ tai hại thế nào, nhưng đói ăn chắc chắn giết con người dần mòn. Nhóm tù người thiểu số giáp biên giới Trung Hoa, bị chính quyền Hà Nội nghi là tiếp tay cho Tàu trong trận tấn công 1978, đưa về nhốt ở Thanh Cẩm, mỗi ngày đều chết vài người. Chết vì đói, vì ăn bậy. Đói quá gặp thứ gì ăn thứ đó.

Bên lề

Trong buổi tối mấy anh em rủ nhau đến nhà anh Phạm Xuân Soạn nhậu nhẹt, có món vịt lộn do chính anh Soạn đứng bếp, tôi gặp lại anh bạn cũ ở bộ Dân Vận, tên Viên. Anh Viên không ở Thanh Cẩm, chỉ ở chung với Chung và tôi ở trại Long Thành. Cũng chuyện vui buồn sau 75,  Viên nhắc lại chuyện cụ Phạm Trọng Nhân ở Bộ Ngoại Giao cùng chung nhà 2 với Viên và tôi. Trại Long Thành tổ chức thi đua văn nghệ để tù giết thì giờ, đỡ gây chuyện phiền phức. Cụ Nhân bị anh em nhà 2 (mỗi nhà nhốt trên 100 người) ép phải nhận phần văn nghệ, đã sáng tác vở kịch “Chiến Sĩ Triều Trần”. Một anh trông nhẹ nhàng, hiền lành là Lê Văn Cẩn, khoá 10 QGHC, bị buộc đóng vai công chúa, anh Đỗ Hữu Liêm đóng vai Trần Bình Trọng. Đến phần văn nghệ nhà 2, từ trên sân khấu, Đỗ Hữu Liêm chỉ gươm xuống đám Công an cao cấp trong Ban Giám Thị ngồi mấy hàng ghế đầu và quát to lên rằng: “Ta thà làm quỉ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”. Thế là hai ngàn người tù vỗ tay ầm ầm, và bọn cán bộ hiểu ngay ngụ ý của câu nói cũng như cử chỉ vừa rồi. Về sau kiểm điểm lu bù, và có lệnh cấm không được diễn kịch lịch sử, chỉ được nói đến chống Mỹ cứu nước. Cụ Nhân ngạch sứ thần ngoại giao, vốn người Hành Thiện, Nam Định, tuy có liên hệ gia đình khá thân với Trường Chinh nhưng không cho con gái nhờ vả, nên chắc cũng lãnh khoảng 10 năm tù.

Thuốc lào

Từ một người không hút thuốc, sau khi ra Bắc vài tháng, hầu như ai cũng hút thuốc lào. Bên hình sự, họ sẵn sang đổi cả suất ăn lấy một điếu (trong nhà tù gọi là “một bi”) thuốc lào. Một anh đội trưởng kể lại: Khi đưa đội đi làm, ngoài anh cán bộ quản giáo, thường có thêm một, hai anh cán bộ quản chế, còn gọi là cán bộ bảo vệ đi theo canh chừng tù. Mấy anh ấy hay xin thuốc lào. Anh đội trưởng phải chia thuốc lào thành 3 loại khác nhau: Thuốc ngon gọi là loại số một, cho mấy anh bảo vệ tử tế, thả lỏng cho tù thoải mái, anh nào hắc búa, cho loại lật gọng, hút xong chưa kịp buông điếu, đã ngã ngửa ra, tay run lật bật, loại thứ 3, thuốc lào rởm, dành cho mấy anh vô thưởng vô phạt. Có người kể rằng, anh V.D. Cử, nấu nước cho đội khi đi lao động, rất hay bị xin thuốc lào. Hôm đó, theo đội có một anh quản chế dễ thương, nghĩa là khi thấy tù muốn “lấy cắp” khoai, sắn gì cũng mặc. Cử cho anh ta một bi thuốc lào loại số một ngon nhất, đắt nhất xứ Bắc Kỳ. Hút điếu thuốc xong là cảm thấy rất phê mà rất đằm, khói vào đến đâu đã đến đó, không ho, không sặc, không quay cuồng đầu, không tay chân lẩy bẩy. Kéo xong điếu thuốc, anh quản chế khen lấy khen để. Vừa lúc một anh quản chế khác bước vào, nghe khen, phán lớn: Anh Cử, cho tôi một bi nào. Cử sốt sắng cho tuy trong bụng chửi thầm. Dĩ nhiên, anh chàng quản chế hắc ám đã được Cử cho một bi loại “lật gọng”, chưa kịp buông điếu đã ngã chổng kềnh, mồm súi bọt mép. Đáng đời!

Bác sĩ

Mấy anh bạn tù tự giác được đi lung tung rừng này, nương kia. Các anh thường ghé vào nhà dân làm quen. Gặp người bị cảm sốt, hoặc tiêu chảy, bệnh này bệnh nọ uống đủ thứ thuốc này thuốc nọ, lá này lá nọ trong rừng, bệnh không thuyên giảm. Nói là “uống đủ thứ thuốc”, thật ra chỉ là nói theo thói quen, còn dân miền Bắc bệnh nào cũng thế, chỉ có “Xuyên tâm liên”, mỗi lần uống cả vốc tay hàng trăm viên thuốc, cho nên người miền núi chỉ trông vào lá thuốc hái trên rừng. Các anh tù Miền Nam chỉ cần cho một viên trụ sinh, một viên Tylenol, bách bệnh thuyên giảm. Dân làng cứ thế gọi các anh ấy là bác sĩ. Một anh bạn tù kể chuyện, anh thiếu uý Bộ, trong trại gọi là “Ban”, nghĩa là thuộc ban Giám Thị, cao hơn các anh cán bộ quản giáo, quản chế, ghé “nhà lô” đội xyz chơi, tiện thể chờ một anh tù hình sự do ‘Ban” cử đi công tác riêng. Hỏi công tác gì, Ban trả lời là cho nó đi hái mấy thứ lá rừng về nấu uống vì Ban bị đau bao tử. Anh bạn của chúng ta hẹn Ban ngày mai ra đây, anh ấy sẽ cho vài viên thuốc uống thử xem. Hôm sau, Ban ra gặp thật, lại giữa lúc bao tử đang đau. Anh bạn chúng ta bèn cho Ban 2 viên Malox. Anh bạn kể chuyện: Các anh biết không, anh chàng Ban đó mới chỉ uống thử một viên, ít phút sau nó nhìn mình như được gặp “đồng chí Lê Nin” ấy. Chưa bao giờ đụng đến âu dược, chỉ một viên thuốc vào thôi là bụng êm ngay lập tức. Ban tỷ tê hỏi, thuốc này ở đâu hay vậy. Đáp rằng của miền Nam trước đây bào chế đấy. Ban ra chiều tư lự. Đánh nhau ở mặt trận văn hoá là vậy.

Anh bạn tù khác tên Chiến, hình như vốn là Trung Sĩ Cảnh Sát ở Mỹ Tho thì phải, chẳng hiểu duyên cớ gì cũng bị tống ra Bắc. Hoặc chính anh là nhân vật tôi đã kể đâu đó, được tay công an trại Long Thành lấy từ nhóm tù Miền Tây, để bù cho đủ 196 người theo yêu cầu của công an Thanh Cẩm. Trước đây tôi yên chí anh tên là Nhãn, có thể vì tôi nghe không rõ giọng Miền Tây. Anh được cử coi “nhà lô” đội rau xanh do Trần văn Chung làm đội trưởng. Anh hay xin thuốc cảm và tiêu chảy của anh em. Anh Chung kể lại, một hôm Chiến hỏi xin thuốc trị tiêu chảy. Anh Chung có lọ thuốc tiêu chảy hiệu con rồng, mới dùng có một ít. Anh Chiến xin hết chỗ còn lại.  Hỏi để làm gì, Chiến mới khai ra trong làng, hôm qua không hiểu dân làng ăn phải cái gì, hầu hết đều bị tiêu chảy, hái hàng tạ lá rừng về nấu thành thuốc, uống cũng không hết. Sau này Chiến cười cười nói: Anh Chung biết không, mỗi người được em cho một muỗng, uống xong, họ nhỉn mình như thánh sống. Uống đến đâu, nóng đến đó. Họ chỉ cần vậy thôi, cơ thể chưa bao giờ biết các loại thuốc này, nên hiệu quả tức thì. Từ những chuyện như vậy, dân địa phương càng ngày càng yêu mến tù “Nguỵ’. Các cô sơn nữ đang tắm suối, chẳng may gặp anh Chiến tình cờ đi qua, thì cũng vẫn thoải mái, chẳng chạy trốn, cũng chẳng kêu la. “Thân nhau đến thế cơ đấy!”

No Quá Cũng Chết

Anh Lê Tinh Anh kể chuyện bên mấy buồng hình sự ở trại Thanh Cẩm. Thường bên đó tù ít khi có thăm nuôi. Thản hoặc người nhà có vào thăm thì cũng chỉ vài ba ký thực phẩm, vài “bò” gạo (đơn vị đong gạo bằng lon sữa bò). Có hai anh tù hình sự được người nhà vào thăm, mang cho nồi xôi gà. Hai anh cố ăn bằng hết ngay lúc thăm vì nếu mang vào trại, sẽ phải nộp tất cả cho “đầu gấu” (ở miền Nam gọi là “đại bàng”, một tù hình sự đàn anh trong buồng giam). Quà cáp đã nộp rồi, đầu gấu cho lấy về cái gì thì được hưởng cái đó. Cố ăn nhiều quá, đêm đó các anh bội thực. Có kêu cứu thì y tế trại cũng chẳng quan tâm. Các anh chết vì ăn no. Có lẽ cũng là cái chết mà nhiều người miền Bắc ao ước.

Tư Tưởng tốt: 100 đồng

Nghe anh Chung kể lại về ngày anh được thả cho về. Cùng đợt thả này có Ng.C M. Sau khi mọi người được lãnh “Giấy Ra Trại”, bỗng anh M. chạy đến anh Chung: Anh Chung này, anh phải giúp em chứ giấy ra trại thế này thì về địa phương nó đì cho chết. Xem kỹ giấy ra trại của M. Chung đồng ý là với phần ghi nhận về tư tưởng của M., Chung không nhớ nguyên văn, nhưng rõ ràng là xấu. Giúp bạn, Chung tìm tay Trung Uý Công An lo về hồ sơ. Hai bên thoả thuận sẽ có bồi dưỡng khoản tiền, trao đổi giấy tờ tại ga xe lửa Thanh Hoá, trước khi bọn tù lên tàu về Miền Nam. Chung kể lại: Các ông biết không, bọn nó tính toán hết rồi. Anh chàng M. mới có thăm nuôi ít ngày thì được thả, chắc chắn tiền bạc người nhà dúi cho còn nhiều. Tên Trung Uý lo hồ sơ là người đánh máy giấy ra trại. Giấy của M. lúc hắn giao cho tôi ở ga xe lửa cũng chính là tờ giấy hắn phát  trước đó mà tôi mang trả xin sửa. Hoá ra, khi đánh máy, hắn đánh máy một câu có ý rất xấu cho M. Nhưng trong câu này, ở một chỗ nào đó tôi không nhớ chính xác, có một khoảng cách có thể thêm một, hai chữ. Tôi không nhớ hắn thêm chữ gì, nhưng nội dung trở thành tốt cho M. và hắn được trả cho 100 đồng. Chung lắc đầu, về khoản gian manh chúng mình còn thua bọn V.C nhiều lắm.

Được Jimmy Carter và Hoa Quốc Phong bảo lãnh

Ở đội xây dựng có anh T. thường gọi là T.“Bông”. Anh Bông này đi khá nhiều đội vì có nhiều ý kiến “khá chí lý” nên dễ bị đì. Hình như anh đi qua đến 10 đội. Ý kiến nổi bật nhất của anh là: “Tao hả? Tao thì chỉ có Jimmy Carter và Hoa Quốc Phong bảo lãnh là về thôi.” Mỗi lần chuyển đội như vậy, các đội trưởng đều được lệnh theo dõi anh. Bây giờ, nhân buổi họp mặt vui vẻ,  anh kể: “Vậy mà chỉ có hai thằng đội trưởng nói nhỏ với tôi về lệnh đó là thằng Nghĩa và thằng Lê Bá Khanh. Thằng Khanh gọi tôi ra hỏi nhỏ: Ê “Bông”, mày làm gì mà cả trại được lệnh phải theo dõi mày vậy? Rồi nó chỉ cho tôi 3 thằng làm ăng ten trong đội để tôi đề phòng”. Anh cười kể tiếp câu trả lời: “Thì tao không phải gia đình cách mạng, không có công trạng gì, thì chỉ có hai thằng chủ tịch với tổng thống đó cho tao về thôi, không biết chừng cho tao đi Mỹ nữa đó”. Chắc anh Khanh này chỉ có nước lắc đầu. Trả lời câu anh em hỏi 3 cần ăng ten đó là ai, “Bông” từ chối tiết lộ, nhưng nói: “Ê, có một thằng là Thiếu tá lận, mà bây giờ hình như là Hội Trưởng hội gì đó.” Anh “Bông” tiên đoán gần đúng, sau này chương trình HO ra đời dưới thời Tổng Thống Reagan, không biết lúc đó Hoa Quốc Phong còn làm Chủ tịch bên Tàu không.

Thầy Giậy Võ

Trong nhóm tù Miền Nam từ trại Quảng Ninh về Thanh Cẩm có một số các bạn trẻ tuổi. Có bạn khi vào tù mới 16, khi đến Thanh Cẩm khoảng gần 18. Một số bạn bị tù vì “theo Phục Quốc.” Vì còn trẻ nên các bạn hành xử trong tù cũng khác lớp cha anh.

Đặng Hữu Chí có lẽ là người tù chính trị trẻ nhất Thanh Cẩm. Sau năm 1975 Chí mới 16 tuổi nhưng đã là “Chánh Án”. Chí tổ chức trong lớp học phiên xử Hồ Chí Minh với đầy đủ các thành phần kết tội, biện hộ và chàng là Chánh án. Bị cáo Hồ không tiện ra trình toà nhưng có luật sư đại diện. Cuối cùng “Ông Chánh Án” tuyên bố xử tử hình bị cáo. Thế là chàng vào Phan Đăng Lưu, Lê Văn Duyệt, rồi Quảng Ninh, cuối cùng là Thanh Cẩm. Khi ở Phan Đăng Lưu có tục lệ hay điểm danh tù. Mỗi người đứng lên khi nghe kêu tên và phải nói tội danh của mình. Đến lượt Chí, chàng phải hô thật to “tội xử bắn Hồ Chí Minh”. Cả phòng cười rần rần. Một ngày nào đó có buổi tập họp chuyển trại ở Lê Văn Duyệt. Bọn cán bộ bảo rằng anh nào chưa đủ 18 tuổi, tức là sinh từ 1960 trở đi, và anh nào tuổi từ 60 trở lên, sẽ được ở lại. Cả phòng chỉ có 3 người dơ tay. Chí vừa đứng lên, cán bộ quát, “Anh Chí, anh sinh năm 1959, ngồi xuống.” Nghĩa là họ thân ái tặng ngay một tuổi cho Chí. Lúc chàng nhìn qua, thấy ông Đệ đứng lên, bọn cán cũng nói ngay, anh Đệ, anh mới 59 tuổi thôi. Rồi ông Tuyên cũng chưa đủ 60 tuổi. Cả hai ông già cùng được “giảm tuổi quân dịch”. Tất cả đều lên tàu ra Bắc. Hay thật!

Tại Thanh Cẩm, nhân mấy phút ngồi nghỉ chờ việc đến, Chí ba hoa với mấy cậu bạn cùng lứa: “Bọn mày biết không,  Mai Ngọc Y, Lê Thiên Bảo là do tao dạy võ đó!” Hai anh Y và Bảo đều đai đen nhu đạo, huấn luyện võ thuật ở Phủ Tổng Thống, cũng đang ở Thanh Cẩm. Bọn cán bộ vẫn sì sào truyền miệng về nghề võ của hai anh. Một tên cán bộ thoáng nghe Chí nói, bèn chốp ngay lấy. Hai ngày sau, Chí được ra khỏi đội lao động, đi tự giác. Việc của chàng là cà nhỏng theo tên cán bộ kia đi khắp nơi, vào làng, ra chợ,… Mấy tháng trời tên công an ung dung đi lại không sợ đám thanh niên địa phương vì đã có “sư tổ” đi kèm. Rồi có lúc chàng Công An nghĩ ra, trước năm 1975 Chí tuổi bao nhiêu mà đã là thầy của Y với Bảo? Chàng cho Chánh án trở về đội lao động cầy cho bã người ra.

Có ngon cởi áo công an

Mỗi bạn trẻ đều có vô số chuyện vui nghịch ngợm cho đời tù bớt  nhàm chán. Đôi khi, chuyện nghịch ngợm trở thành chuyện liều vì điên tiết với bọn công an coi tù. Đi theo đội lao động thường có mấy tay công an trẻ măng. Mỗi tay một khẩu súng canh tù. Một lần, bực mình chuyện gì đó, “Dũng Cận” và Việt trong nhóm Phục Quốc đứng ra giữa khu lao động, gọi mấy tay công an quản chế: “Cán bộ có ngon cởi quần áo công an ra, đánh tay đôi nào.” Mấy tay công an im lặng lảng đi. Nhưng từ đó, mấy tay này ngoài súng, luôn mang theo một cây sào dài, khi ngồi đâu thì gác lên đùi. Cả bọn tù khổ sai vác đá không ai được phép đến gần họ trong vòng đường kính là cây sào đó. Họ chỉ sợ một anh chàng tù nổi điên, ném cục tá to tướng vào đầu thì về với bác Hồ ngay. Vác đá nặng, đi đường dốc, mà tù chỉ được ăn uống thiếu thốn, run lẩy bẩy, dễ trượt chân té vào cán bộ lắm. Anh chàng Quân, chắc hơn Chí vài tuổi, một buổi sáng trên đường đi làm, mang theo trái bắp bằng nửa cánh tay tù khẳng khưu.  Quân vừa đi vừa gặm từng hạt cho lâu, tay cán bộ đi theo ngứa mắt, cú đầu Quân một cái. Quân nhảy ra khỏi hàng đứng khuỳnh tay: “ĐM., mày chơi không?” Tay quản chế lảng ngay đi về cuối hàng. Tù tự coi như cùi rồi, đâu còn sợ lở nữa.

Nghề Đội Trưởng

Một cuốn sách gối đầu giường của những người sinh hoạt phong trào Hướng Đạo là cuốn “Nghề Đội Trưởng” của Trưởng Cung Giũ Nguyên biên soạn. Nhưng ở đây là “nghề đội trưởng ở trong tù cộng sản” mà sách đó chắc chắn không nói đến.  Anh Đặng Hữu Chí nói về nghề đội trưởng của anh Trần Văn Cần, đội trưởng đội xách cát. Chí cho rằng địa vị anh Cần lúc đó rất khó khăn. Cầm đầu một đám trẻ cứng đầu, bọn trẻ sẵn sàng cãi lệnh cán bộ, không chịu làm, Cần phải làm sao bây giờ. Mà nếu không hoàn thành chỉ tiêu, bọn công an đì cho cả đội toé bo bo ra. Cho nên Cần phải khôn khéo, vừa lo cho anh em, vừa làm cho bọn cán bộ vừa ý. Thực ra cách dễ nhất là bắt anh em làm hộc sì dầu (nói vậy, làm gì có sì dầu mà hộc), nếu không “báo cáo cán bộ” là xong. Không thiếu các đội trưởng trong tù làm kiểu này. Cần để anh em tuỳ theo sức lực từng người mà làm việc, nhưng “chấm công” vẫn đầy đủ như chỉ tiêu. Sức lực của Chí chỉ đủ làm được một nửa chỉ tiêu. Nếu làm đủ chắc Chí không còn sức mà nấu phở bây giờ. Trong khi lái xe đưa bọn tôi đi thăm cảnh Seattle, Chí tâm sự rằng: Nếu một đội trưởng giỏi, biết cách sống, không làm mất lòng cán bộ quản giáo nhưng anh em trong đội được sống dễ thở, vui vẻ.  Nếu đội trưởng chỉ biết thân mình, chỉ lo làm vừa lòng bọn cán bộ, anh em trong đội sẽ cực lắm, không khí đội buồn thảm, cả đội bị đì ná thở. Đội sướng hay cực không phải vì công việc của đội, mà còn tuỳ tài đội trưởng.

Trong buổi họp mặt ngày 19 tháng 11, 2011, các anh Thanh Cẩm – Seattle nhắc lại nhau nghe đủ thứ truyện vui buồn đời tù cộng sản. Chuyện tù này kéo dài cả sau khi ra khỏi trại Thanh Cẩm về nhà tù lớn hơn là nước Việt Nam. Thí dụ chuyện anh Ng. M. S. Anh “Bông” kể rằng anh S này vốn là sĩ quan không quân, sau khi ra trại về vùng xa xôi, hẻo lánh ở Lâm Đồng. Anh S. tâm niệm rằng những gì cộng sản nói đều là giả dối, báo chí cộng sản loan đều là thất thiệt, lỡ nghe theo mà làm dễ mang hoạ lắm. Khi có tin nộp đơn đi Mỹ theo diện H.O., anh không tin, và còn sợ nếu nộp đơn thì bọn phường xã sẽ lại khép tội anh theo đế quốc Mỹ. Có một anh Không Quân, bạn của S., nghe tin, chạy lên Lâm Đồng, tìm tòi mãi mới ra vợ chồng anh S. đang sống lúi sùi trong nỗi sợ hãi thường xuyên. Anh Không Quân thuyết phục anh S. ra nộp đơn, đưa cả tiền bạc để “người bạn cách ly tin tức” này có đủ chi phí đơn từ. Lúc đó, đã nhiều người đi Mỹ rồi, theo diện H.O., mà anh S. vẫn không tin. Cuối cùng, nghe lời bạn, anh S. cũng liều một chuyến. Bây giờ anh Ng. M. S. và gia đình đang ở Hoa Kỳ.

Anh Lê Tinh Anh kể chuyện anh D. V. H. ở Thanh Cẩm, bàn giao chức vụ Văn Hóa cho Lê Tinh Anh, ra tù về ở Cầu Dây. Anh H. cũng nghe tin vụ H.O., nhưng không dám nộp đơn, vì ngại địa phương biết quá khứ của mình. Vốn là khi về ở Cầu Dây, với giọng nói còn thuần chất đặc biệt một địa phương ở Bắc Kỳ, anh H. có vẻ như một cán bộ đã về hưu. Chính quyền thôn xã cố mời anh H. tham gia sinh hoạt địa phương, sinh hoạt đảng, nghĩ anh chắc phải là cán bộ cao cấp đã nghỉ việc. Anh H. chạy về Thủ Đức ở. Bọn Thủ Đức còn mời anh ra sinh hoạt trong Ban Bí Thư Huyện. Anh cứ phải một mực từ chối, nói rằng tuổi cao rồi, không còn sức gánh vác việc nước, việc đảng.

Những mảnh vụn trong đời tù nhiều lắm vì đời tù kéo dài cả chục năm. Xin hẹn dịp khác sẽ kể hầu quí vị thêm những mảnh đã góp nhặt trong suốt 4 ngày ở Seattle cùng những bạn tù đáng quí. Cùng Lê Tinh Anh, tôi xin cảm ơn quí anh Thanh Cẩm vùng WA về thân tình đã dành cho nhau.

Buổi trưa ở Thanh Cẩm

Để cho đúng, tiểu tựa này phải đặt là “Buổi trưa “lẩn thẩn” ở Thanh Cẩm.” Bởi vì nhiều vị có thể bực mình về chuyện kể trong các buổi trưa này, và thực sự mấy chuyện kể dưới đây rất “lẩn thẩn”. Chuyện một tên gàn!

Buổi trưa là một khoảng thời gian trong một ngày. Buổi trưa, hay buổi chiều, buổi tối, buổi sáng trong nhà tù, vẫn là ở tù. Nhưng với tôi, “buổi trưa” có một cái gì đấy đặc biệt lắm lắm trong cuộc sống ở nhà tù Thanh Cẩm. Đúng ra, nói “buổi trưa” không hẳn toàn bộ những điều đặc biệt lắm lắm này thuộc về “buổi trưa”. Có một số rất ít nó xẩy ra vào buổi sáng, và buổi chiều, khi 9 tiếng kẻng báo đóng cửa phòng giam. Nhưng tôi ghép tất cả vào “buổi trưa”, vì cảm giác xẩy ra ở buổi trưa nhiều lắm. Hơi có vẻ khó hiểu, lôi thôi, quí vị chịu khó hiểu vậy. Để tôi kể cho nghe. Nhưng phải nói ngay, cái chữ “buổi trưa” này chỉ là các buổi trưa ngày nghỉ không phải đi lao động. Ngày đi lao động tôi thường dỗ mình chìm vào giấc ngủ ngắn ngủi trước khi 3 tiếng kẻng báo giờ tập họp đi lao động buổi chiều, nên không có “buổi trưa”.

Đó là những buổi trưa tôi ngồi trên khu đất rất cao trong trại giam K1, ngắm trời, nhìn đất, theo sông, tưởng núi. Để tôi nói lại khu đất này. Từ buồng 4, buồng tôi thường ở, là buồng giam cao nhất trong trại, ở mé phải của trại, đứng ở cổng trại nhìn vào, tôi bước ra khỏi cổng buồng. Rẽ về bên phải, tôi leo ít bậc tam cấp, lên một khu đất rộng gần bằng chiều ngang của trại, vào sâu chừng 50 mét thì đụng bức tường đầu tiên của trại giam. Sau bức tường đầu tiên này còn bức tường cao lắm, ngăn trại giam với bên ngoài. Sau này, khu đất cao bị khu Nhà Kỷ Luật của trại giam lấn. Bức tường bao quanh khu kỷ luật mới nằm chình ình giữa thanh thiên bạch nhật, chỉ để lại bề sâu khu đất khoảng 25 mét, hạn chế cái mênh mông khoáng đãng của vùng không gian tự do cho riêng tôi.

Tôi nhớ có đọc một truyện ngắn viết nhan đề“Trạng Quỳnh Đi Xứ”, không nhớ rõ in ở đâu, có thể báo “Sáng Tạo” vào cuối tập niên 50, đầu những năm 60, có thể tác giả là một trong mấy vị Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Sĩ tế, hay ai đó.  Tôi nhớ vì câu này trong truyện: “Tàng thức mang mang, thùy năng câu thúc.” Cho nên tôi nói “vùng không gian tự do cho riêng tôi” vì ở đó, tôi được “gần như” tự do suy nghĩ. Tôi nói “gần như” bởi tôi không tin có sự “tuyệt đối” trong tự do. Tự nó, cái ý niệm “tự do” đã bị giới hạn trong “ý niệm” của con người. Tự nó, hai chữ “tự do” đã giới hạn tự do trong ngôn ngữ loài người. Và cụ thể hơn cả, tự do của người khác đã giới hạn tự do của tôi, cái khung cảnh tôi đang sống đây, ngay cả “trời. đất, sông, núi” cũng đã giới hạn sự suy nghĩ của tôi.  Tàng thức mang mang, có bị câu thúc đấy chứ.

Tại khu đất “trên cao mênh mông”, có một cái bể xây bằng gạch, không có nắp đậy. Thành bể là hai hàng gạch song song xây với vữa là vôi trộn cát, không trét xi măng trong, ngoài. Đó là cái bể chứa vôi, không sợ rò, rỉ. Các bạn tù gánh vôi đổ vào đây, từ đó, bạn tù khác dùng đánh vữa xây khu nhà đen, và nhà mái bằng, trước khi bọn Long Thành chúng tôi đến trại. Lâu ngày. Còn lớp vôi đóng dưới đáy, thành bể vẫn còn nguyên, trở thành ghế ngồi cho tôi khi lên khu đất cao này. Từ “ghế ngồi”, tôi ngoái lại sau lưng nhìn lên núi đá vôi phía sau trại giam. Đôi khi, ngoái người lâu sẽ mỏi, tôi ngồi ngay thành bể phía trong, ngắm nhìn bức tường trại giam, nhìn hàng kẽm gai chia hai ngả chạy trên đầu tường, rồi nhìn vượt lên trên nữa, là sườn núi đá vôi đang khai thác nham nhở, trông dáng vẻ chịu đựng. Ngồi đàng hoàng như vậy, tôi có thể nghe “tiếng núi”. Lúc tôi có thể ngồi trên thành bể ngắm khuôn mặt xam xám của đỉnh núi đá vôi là khi tôi đã ở trại giam Thanh Cẩm hơn 3 năm, khi đó, chim chóc hầu như đã chạy khỏi sườn núi, không phải tất cả chim chóc thì ít nhất cũng là vài loài chim đặc biệt đã bỏ đi. Chúng nhường không gian lạnh lẽo này cho lũ tù chúng tôi đập đá, nên đêm đêm, không còn nghe tiếng thúc dục dai dẳng “bắt cô trói cột”, cũng không nghe tiếng gõ đều đều của loài chim gõ kiến. Nghe “tiếng núi” là nghe lời thì thầm của ngọn núi đá vôi, thường là những âm thanh khe khẽ, buồn buồn, sẽ sàng như tiếng Bà Mẹ thì thầm với đứa con nhỏ, rằng để yên cho Bố (nhắm rượu, đọc sách, nghỉ ngơi, nghĩa là ông Bố làm chuyện gì cũng là chuyện quan trọng và cao cả, đừng ai quấy rầy. Trời đất ạ! Đảng là Bố của nhân dân đấy, các bạn tin không.) Nghe vậy, chán lắm, tôi thường ngồi thành bể phía trước, nhìn ra phía cổng trại, qua bên kia bờ sông Mã. Đã bảo “lẩn thẩn” mà, và còn lẩn thẩn dài dài, vị nào không chịu nổi, “vứt mẹ nó’ mấy “buổi trưa” này đi.

Từ thành bể phía trước, tôi nhìn qua bên kia sông. Lại nhớ lời bài hát “bên kia sông là ánh mặt trời” của Nguyễn Đức Quang, rồi nhớ tiếp “mặt trời chân lý chói trong tim” của Tố Hữu. Tôi vẫn tin rằng tim ông Tố Hữu là tim heo, tức là tim con lợn. Tim heo ăn nhạt nhẽo, vô duyên. Chắc là tim ông giống tim con heo trong “Trại Súc Vật” của George Orwell. Quí vị nào nghi ngờ, xin hỏi các bác sĩ tài giỏi nhất nước lo chuyện sức khỏe cho Bộ Chính Trị, chắc ăn hơn, hỏi mấy vị bác sĩ bên Nga, bên Tàu. Và như vậy, cái “chân lý” của ông Tố Hữu, và “cả bọn” ông, là thứ chân lý của bầy heo. Từ thành bể xây hai hàng gạch, tôi nghĩ đến bầy heo Bộ Chính Trị. Có vị bảo như thế là tôi được tự do suy nghĩ, tức là “thùy năng câu thúc.” Vâng, đúng là vậy. Nhưng có vị bảo, nếu tôi không bị cái hình ảnh “mặt trời chân lý chói trong tim” của những trái tim heo, tôi đã tức khắc làm được thơ nhớ vợ khi mới đặt đít ngồi lên hai hàng gạch, ngắm cảnh sông nước hữu tình. Vâng, cũng đúng như vậy. Vậy thì, tôi bị cái ông Tố Hữu câu thúc rồi. Phật bảo phải “buông, xả”. A, khó nhỉ! Cái ông Tố Hữu và bè lũ của ông ở khắp nơi, buông “khắp nơi” là rơi vào được chốn vô định. Chưa buông được nên chưa vào được chốn vô định, nhưng tôi vẫn lẩn thẩn nghĩ rằng, ngay cả ở chốn “vô định’ đó, vẫn có một cái gì đó “định”, là âm thanh nguyền rủa cái chân lý của ông Tố Hữu và bè lũ. Tôi tin vậy.

Không “vô định” được, nhưng tôi “gần như” tự do, nên tôi để cái thứ “chân lý” đó qua một bên, bởi vì, có một bạn tù nào đó đang đến bên tôi. Những buổi trưa ngày nghỉ các bạn tù thường nấu nướng thứ gì đó để gia tăng dinh dưỡng cho cơ thể, cũng là một thú vui, một cách giết thì giờ, mà “thì giờ” trong tù nhiều quá, “giết” mãi cũng vẫn còn dài dằng dặc. Từng nhóm bạn hợp nhau nấu ăn chung, rồi “trà lá”, tiếng trong tù chỉ chuyện quây quần hút thuốc lào, uống nước chè, bàn chuyện nhà, chuyện thiên hạ, chuyện trên trời, chuyện dưới đất. Cũng là cơ hội các “cần ăng ten” thu thập dữ liệu báo cáo. Riêng tôi, đôi khi tham dự cùng các bạn nhỏ “thùng” cháo sắn cải thiện, còn bình thường, tự mình “cải thiện” một chút gì giản dị, rồi ra ngồi ngắm đất trời cùng dòng sông Mã. Gọi là “thùng cháo sắn” vì phải gần đầy thùng cháo nấu bằng khoai mì với ít rau rừng gì đó mới đủ cho gần chục bạn trẻ vui chơi đại tiệc ngày nghỉ. Mỗi thùng gánh nước khoảng 20 lít, gần đầy thùng, tức khoảng 17, 18 lít cháo. Các bạn lấy “lượng” làm chính, “chất” hay “phẩm” chỉ là phụ. Nếu bữa nào có được gói mì ăn liền cho vào, đó là yến tiệc của vua. Thậm chí, một nửa gói mì cũng đã là oai nhất thiên hạ. Đại yến xong, bạn thì được phân công thu dọn chiến trường, bạn lấy đàn ra ca hát, bạn thì lang thang. Và, có bạn bước ra ngoài cổng, thấy tôi “với trời bơ vơ”, chạy lên “bơ vơ cùng nhau”. Vậy thì, nếu có ai đến cùng ngồi bên tôi trên thành bể chứa vôi thường là một cậu nhỏ nào đó, hoặc đôi khi anh bạn Dân Vận, như anh Phạm Phú Minh chẳng hạn. Bạn Dân Vận ở Thanh Cẩm có mấy anh, Hùng Cò tức Cậu Sáu Long An, Nguyễn Thanh Phàn, Trần Văn Chung, Ngô Bá Hoằng và Phạm Phú Minh. Anh Minh còn là bạn trong các sinh hoạt thanh niên, sinh viên ở Chương Trình Hè 65. Các bạn nhỏ đến bên tôi vào những “buổi trưa Thanh Cẩm” thường là Tuấn Nhí hay Xuân Trường, có thể tên thật của bạn là Hoàng Sơn Trường, tôi gọi Hoàng Xuân Trường, lâu dần thành thói quen.

Chúng tôi “cùng bơ vơ” giữa đất trời lồng lộng. Buổi trưa mùa đông “nắng vàng rực rỡ” như một bài hát của Phạm Duy, hoặc buổi trưa mùa hè khi nhiều mây che khuất mặt trời, đều là những lúc cảnh vật chung quanh “gấm vóc” vô cùng. Phải nói là tất cả các buổi trưa Thanh Cẩm, mùa nào cũng vậy, trời nắng, trời mưa, trời đông giá lạnh hay trời hè oi bức cũng vậy, đều cho tôi cái cảm nhận “giang sơn cẩm tú,” rằng đất nước mình đẹp quá, giầu quá, và hơn tất cả, “con người” quá. Tôi cảm nhận thực sự chứ không phải tưởng tượng. Một thí dụ để thấy cái chất “con người” đó, tức là cái chất “văn hóa’ đó, bàng bạc đâu đây nơi núi rừng Thanh Cẩm. Chúng ta có nghe trong nhạc Phạm Duy “… chiều khô nước mắt rưng sầu, tan thân thiếu phụ nát đầu hài nhi, …” Lúc còn là một tên thanh niên thành thị tôi vẫn băn khoăn về hai chữ “chiều khô”. Chắc chắn chữ “khô” ở đây không chỉ là “không ướt”. Chiều khô không chỉ là chiều không có mưa. Cho đến một buổi chiều, trên thành bể vữa anh Phạm Phú Minh và tôi cùng ngồi ngắm nhìn sông nước núi rừng Thanh Cẩm, chúng tôi cùng bật ra cảm nhận, buổi chiều hôm nay đúng là “chiều khô”. Quí vị ạ, quí vị phải ngồi, đứng nơi miền đất cao ấy của trại tù Thanh Cẩm, miền đất cao vượt ra khỏi trại giam con người, miền đất cho chúng tôi có được “tàng thức mang mang” mà mấy bức tường cao không câu thúc nổi, vào một buổi chiều mùa đông, quí vị  sẽ thấy đúng cái “chất khô” của Phạm Duy. Trời lành lạnh, càng lạnh khi ngọn núi đá vôi đã che mất ánh nắng đổ xuống trại Thanh Cẩm, nhưng không ngăn nổi nắng vàng vẫy vùng bên kia bờ sông Mã. Núi bên đó, rừng bên đó, và giải đất chạy dài theo bờ sông bên đó, vẫn chan hòa ánh nắng, một thứ ánh nắng nhẹ như tơ trời, có lẽ cũng đang phất phơ theo cơn gió thoảng từ mặt sông thổi lên. Cái “khô” từ nắng, từ gió, từ núi rừng, từ mấy mái lều hoang trên giải đất yên ắng bên kia sông, cái “khô” ngay cả từ mặt nước mênh mang kia, bủa lấy chúng tôi. Toàn bộ không gian đó đượm “chất khô” một cách bình thản, nhẹ nhàng, thâm sâu. Và phải chăng, cái “thời gian” đó cũng thấm đẫm “chất khô” của buổi chiều đông. Nên phải nói ở đây, Phạm Duy không chỉ là một nhạc sĩ “sống” quá nhiều, mà sự mẫn cảm của Phạm Duy còn đồng điệu được với đất, trời, non, nước, và với con người. Giờ khắc đó, buổi chiều hôm đó, lúc khoảng 4, 5 giờ chiều, lạ lắm, lòng tôi cảm được một chút buồn vương nào đó, một thứ quạnh vắng nào đó, một chút mênh mang nào đó, trong cái không gian bàng bạc phủ lên núi rừng sông nước. phủ lên nắng và gió bao la. Tôi cảm nhận được “chiều khô nước mắt rưng sầu”. Ngay cả khi nắng tắt dần đi, mấy cụm mây dầy xám dấu đi ánh mặt trời, thì cái không gian kia, cái ánh sáng chạng vạng kia, vẫn mang chút gì rất “khô” cho buổi chiều trên vùng sông Mã, Thanh Cẩm. Tôi tưởng rằng cái “chiều khô” này chỉ xẩy ra ở Miền Trung của quê hương chúng ta. Có lẽ không. Có thể một ai đó cảm được “chiều khô” trên “cánh đồng còn trơ cuống rạ” nơi nào đó của vùng đồng bằng bên bờ sông Đuống. Thưa quí vị, đã nói là “lẩn thẩn”, thí đúng nó là lẩn thẩn.

Có lần ngồi với cậu Tuấn Nhí trên thành bể vữa, tôi nói thực ra những tháng ngày này hầu như ai cũng thấy sự khổ đau đè chĩu lên xác thân và tâm trí, riêng tôi, vẫn thấy chan hòa niềm vui, vẫn thấy mình “sống”, có khi còn “sống” nhiều hơn trước đây. Tôi nói với cậu bé Phục Quốc, thí dụ những mẻ vữa mùa hè khiến tôi đổ nhiều mồ hôi. Những giọt mồ hôi trước đây vẫn chẩy trên khuôn mặt tôi, đôi khi đọng vào lưỡi tôi chút vị mằn mặn, vào những buổi trưa đi bộ, đạp xe đi học, đi giậy học, trên đường phố Sài Gòn. Lúc đó, tôi hoàn toàn thờ ơ gạt đi những giọt mồ hôi, gạt đi như không hề nhận biết cái thứ chất lỏng đó đang từ người tôi tiết ra. Ở Thanh Cẩm, trên bãi vữa gồm cát và vôi, những giọt mồ hơi rơi xuống thêm vào cái chất sền sệt kia để gắn liền những hàng gạch xây nên nhà tù, thì tôi cảm thấy thực sự từ trong con người tôi tiết ra, thực sự sức lực tôi đang được vận dụng, tôi thực sự “đang sống”, đang “nhất định sống” chờ đến ngày thoát khỏi nơi đây. Những giọt mồ hôi ở đây thực sự là đời sống của tôi, không phải những giọt mồ hôi thờ ơ trước kia. Tôi “sống” nhiều hơn thời tôi lang bang trên đường phố Sài Gòn. Tôi “sống ý thức” hơn. Và tôi nhận biết hơn những giọt mồ hôi. Và tôi ý thức rằng tôi đang mất muối, mất đường, tôi cần làm ít hớp nước trà nóng pha chút muối, chút đường. Và tôi tận tình thưởng thức cái vị chát đó, vị mặn đó, vị ngọt đó. Tôi đang hưởng thụ, tôi đang hạnh phúc, tôi đang sống.

 Tôi nói với Tuấn Nhí, hoặc một bạn trẻ nào đó rằng, thực sự chuyện chúng minh được ra ngoài trời làm việc là điều tốt. Người ta vẫn gọi lao động trong các nhà tù Cộng Sản là khổ sai. Điều đó đúng khi bọn cai tù đòi hỏi tù nhân phải làm quá sức lực. Tôi biết các bạn tự giác đi rừng lúc đầu rất cực khổ vì phải chặt rất nhiều cây tre, cây luồng, rồi còn phải vác lên dốc, xuống dốc, qua suối, xuyên rừng mang về trại nạp cho đủ. Nhưng rồi, hoặc do tình hình cởi mở hơn, thoải mái hơn, do “chỉ tiêu” ít ai đạt được, công việc cũng bớt đi. Đi rừng thành cái ưu đãi vì tù nhân dễ dàng “cải thiện” hơn, giao dịch dân làng thuận tiện hơn, … Nhưng nói chung, những tháng ngày ở Thanh Cẩm, trừ vài lần tôi quả thực thấy quá khổ, như lần vớt luồng của mấy tháng đầu tiên, còn bình thường, tôi thấy không có gì quá cực nhọc. Đừng phản kháng, đừng gây rối, đừng để ăng ten báo cáo tư tưởng chính trị, ít khi chúng tôi bị nhốt trên Nhà Kỷ Luật, Nhà Kiên Giam. Còn bình thường, bọn Quản Giáo, bọn Bảo Vệ có hò hét bắt làm việc liên tục, bắt khiêng vác nhiều cho đạt chỉ tiêu, nếu chúng ta chỉ làm chừng 50% “cái chỉ tiêu” đó, có khi ít hơn, thì cũng chỉ bị mang ra bôi bác hạch họe cho bọn công an nói sướng mồm, rồi cũng huề. Cùng lắm bị cho tên vào biên bản, bị cho tên vào báo cáo Ban Giám Thị, vài hình thức răn đe, rồi cũng huề. Nhất định phải sống để về, thì không gây cớ cho bọn nó hành hạ thể xác mình, mình sẽ tồn tại để về. Vậy thì, với tôi, cho tôi ra khỏi phòng đi làm việc tốt hơn nhốt tôi triền miên trong một căn phòng chật hẹp. Dĩ nhiên, bọn Cộng Sản có nhiều lý do để bắt tù làm việc, chứ không vì chúng nhân đạo. Nhân đạo không có trong tự điển bọn Cộng Sản, bởi chữ “nhân”, dù nhân là con người hay nhân là từ bi, nhiều phần không hợp với chữ “Cộng Sản”. Hai chữ “Cộng Sản” có thể đi đôi với chữ “nhân” ở trường hợp này, là chữ “bất nhân”. Ở đây, có thể hiểu “bất nhân” là “không thuộc về con người”. Tôi vẫn dùng nhóm chữ “bọn cộng sản”, cố tránh dùng “người cộng sản”. Có người tin khỉ, vượn có thể là thủy tổ loài người, nhưng khỉ, vượn không phải là “con người.”

Cũng tử “vùng đất cao” trong trại, từ cái thành bể vôi sót lại của thời kỳ chuẩn bị đón “lũ tù Miền Nam”, một buổi trưa tôi nghĩ về “tối hôm qua”. Ba kỳ rồi tôi không có quà gia đình gửi vào, nghĩa là gần 6 tháng liên tiếp. Không phải gia đình tôi không gửi, nhưng “bọn chúng” vẩn giả bộ là Bưu Điện làm mất quà để lấy đi một vài gói quà trong các đợt trại lấy quà từ Bưu Điện huyện Cẩm Thủy. Trong số 50, 60 người nhận được quà, độ hai hay ba người “mất quà” trở thành “có thể chấp nhận được.” Khi người này mất, lần sau người khác mất, cũng được thôi. Riêng mấy lần liên tiếp, tôi lọt vào số “người mất quà.” Nhưng bây giờ tôi không nói chuyện bị mất đó. Tôi nói chuyện hệ lụy của nó, là, “Tôi Đói!” Cũng có người sẽ thắc mắc, thế “bọn chúng” là ai mà lấy quà của tôi? Tôi cũng không nói chuyện này. Chỉ nói chuyện “Tôi Đói!” Tôi nói chuyện tôi đói, nói chuyện “tối hôm qua,” bởi vì đêm hôm qua, và vài đêm liên tiếp trước đó, cứ khoảng 1, 2 giờ sáng, tôi lồm cồm bò dậy. Trời lạnh, cơn đói không cho tôi ngủ. Khẩu phần của nhà tù Cộng Sản ở Miền Bắc không khi nào đủ cho một tù nhân. Về lượng không đủ, về chất càng gần “số không.” Ngay lúc đang ăn con người đã cảm thấy “đói”, giống như một thi sĩ  đã viết: Đang ôm nhau mà đã nhớ nhau ngày sắp tới. Vừa mới ăn xong, vẫn cảm thấy “đói”. Và ban đêm trời lạnh, cơn đói lùng xục cơ thể, lùng xục tâm trí. Cả cái bộ óc hầu như chỉ còn lại mấy sợi tế bào thuộc về cảm giác đói và no. Ngay cả tế bào cảm sự no cũng cùn nhụt rồi, chỉ còn mấy sợi “thần kinh đói’ mà thôi. Tôi lồm cồm bò dậy, ngồi đung đưa hai chân nơi mép sạp trên. Tôi đung đưa hai chân vì mấy sợi thần kinh đói đang gào thét, đang đòi hỏi, đang thuyết phục toàn bộ sự suy nghĩ của tôi. Tôi suy nghĩ, đắn đo chọn lựa, chưa đưa ra quyết định, nên đôi chân đung đưa chờ đợi. Bọn khốn bảo rằng tôi đang “tư duy.” Tư duy cái tiên sư nhà nó! Đói!

Tôi nghĩ rằng nếu bây giờ tôi leo xuống đất, đến một cái mùng nào đó, lay anh bạn tù đang ngủ, nói rằng cho tôi bát cơm nguội trong cái nồi để dưới “gầm giường”, tức là dưới gầm sạp dưới, chắc chắn anh bạn bảo tôi cứ tự nhiên, còn đưa tôi “cái gô” đựng món đồ kho, măng kho chẳng hạn, để tôi ăn. Và bạn ta lăn quay ra ngủ tiếp. Từ cái chỗ đong đưa đôi chân, tôi nhìn xuống thấy hằng hà sa số các nồi xoong, gô, hộp,  đủ thức đồ đựng hàng ngàn món ăn, dưới gầm cái sạp gỗ chạy dài hàng mấy cây số. Tôi biết chắc rằng, hầu hết chủ nhân các xoong nồi kia sẵn sàng chia sẻ với tôi những gì họ có. Ban ngày, mấy bạn rủ tôi ăn chung, tôi vẫn từ chối.  Bây giờ, có thể có vài bạn bực mình vì tôi làm mất giấc ngủ, trời lạnh, ngủ lại hơi khó, nhưng sẽ không có ai từ chối tôi. Chao ơi, ngay giờ phút đó, nếu tôi được ăn chút gì từ mấy cái nồi dưới “gầm giường” cho cơn đói tạm biến đi, không biết có thể gọi là tôi đã ở Thiên Đường hay Niết Bàn hay không. Cái cơn đói nó ghê gớm lắm, nó có hàm răng gậm nhấm, nhay nhay mãi mấy sợi thần kinh của tôi, có lúc tưởng nó có thể làm tôi điên tiết hét lên. Vài sợi thần kinh tự trọng, thần kinh “giữ vững” còn sót lại trong bộ óc tôi yếu ớt phản kháng. Không thể làm thế được, không thể làm cái việc tôi vừa mới “tư duy” là cứ chèo xuống đất, mở đại một cái nồi, kinh nghiệm cho biết nồi nào chứa cơm, lấy bát cơm ăn không cũng được. Sẽ không ai biết chuyện tôi “ăn trộm”. Hoặc giả, mình xin nhận là đã lấy, không xin trước vì sợ làm chủ nhân mất ngủ. Dằng co, suy nghĩ giữa đêm khuya. Tiếng ngáy đều đều của các bạn tù trong buồng. Có khoảng 70, 80 bạn tù tầng trên, tầng dưới. Trời lạnh, càng lạnh khi đói. Tôi cố nghĩ đến chuyện khác, về công việc chẳng hạn, cũng không xua nổi ý nghĩ về mấy nồi đồ ăn dưới gầm. Tôi nghĩ về gia đình, về vợ con, về Đẻ tôi. Được một lúc thôi, mấy món đồ ăn dưới kia lừng lững hiện ra, chiếm đoạt toàn bộ tâm hồn, trí óc, thể xác tôi. Quí vị ạ, “cái đói” là “cái đói”. Không thể là cái gì khác, không thể lấy cái gì thay thế nó. Cũng có bạn nói, tôi từng bị đói, chịu đựng, rồi sẽ qua đi. Không, ở đây khác lắm. Cái đói ở chốn tận cùng của xã hội, cái đói ngay trên lằn chỉ mỏng manh chia đôi sự sống và cái chết, khác lắm. Cái đói ở giữa lằn ranh của Thiện và Ác. Các bạn coi phim cao bồi chưa, cái cảnh một chàng cao bồi bị sợi dây thòng lọng choàng vào cổ đang đứng trên mình ngựa. Chỉ cần con ngựa phóng đi là chàng rơi xuống, mất điểm tựa, là cổ bị thắt. Cái đói nơi nhà tù Cộng Sản là cái thòng lọng đó.

Cuối cùng, tôi thu hết “sức lực”, quyết định chui lại vào mùng, vào mền, và cố dỗ giấc ngủ. May quá, tôi thắng được nó, “cơn đói”. Đó là “may’. Không phải là tài, giỏi. Vậy thì, mấy đêm đó cũng là những gì tôi “lẩn thẩn” vào những buổi trưa Thanh Cẩm. Bọn Cộng Sản có mấy thứ vũ khí để kiềm chế nhân dân, kiềm chế xã hội, là công an trị, là thông tin bịp bợm, là tạo nghi ngờ giữa những con người, và kiểm soát bao tử con người. “Cái đói” là vũ khí khủng khiếp của bọn Cộng Sản. Gọi là lẩn thẩn, thực ra tôi “nghĩ đúng” về bọn Cộng Sản. Nhân đây tôi muốn nói với các bạn trẻ đang say sưa lý tưởng Xã Hội Chủ Nghĩa rằng, khi nào các bạn bị bọn nó bỏ đói, lúc đó các bạn sẽ biết lý tưởng đó ra làm sao. Nhân dân khổ lắm, các bạn ạ, khi sống với bọn cầm quyền Xã Hội Chủ Nghĩa, với bọn Cộng Sản.

Cũng như những phần khác trong “Tự Sự Đời Tôi”, thường tôi không “kể hết” tất cả ở từng gia đoạn cuộc đời. Một số chưa kể vì không muốn gây tác hại cho người khác, một số chưa kể vì còn băn khoăn có nên kể ra không, có đáng kể ra không, một số chưa kể vì tôi xấu hổ, chưa đủ can đảm kể hết cái xấu, cái bậy của mình, ngay cả nhiều điều tôi không nghĩ là xấu, là bậy, nhưng dưới con mắt bình thường của xã hội xưa nay, bị coi là xấu, là bậy. Chuyện “chưa kể” không ảnh hưởng gì tới tính “thật” của câu chuyện. Chưa kể không phải là nói dối, lừa bịp, bịa đặt. Có thể tôi nhầm, nhưng không sạo.

Lại thêm một thắc mắc: “Sạo Ke,” (hay Xạo Ke), chữ Ke ở đây nghĩa

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: