Nhà Tù Thanh Cẩm

Xin nhắc lại, rất nhiều câu nói trong suốt tự sự này không để chữ in nghiêng hay trong ngoặc kép, vì tôi chỉ thuật lại ý của câu nói, không nhớ được nguyên văn câu nói.

Chuyến Đi Biển Thứ 3

Chúng tôi, bọn tù từ trại Long Thành, được dồn xuống khoang hầm của tàu Sông Hương. Tôi vẫn tin con tàu đó mang tên Sông Hương, nên cứ gọi tên đó cho chuyến hải trình này. Và tôi còn tin thêm một điều nữa, tàu này trước khi đón tù từ Nam ra Bắc, đã chở than đá từ Bắc vào Nam, vì chúng tôi chen chúc nhau ngồi, nằm trên một tấm thảm toàn là vụn than trải khắp khoang tàu, còn bụi than bám đầy thành tàu.

Đến lúc này, đời tôi đã qua 3 cuộc hải trình.

Chuyến đi biển đầu tiên vào năm 1954, từ Bắc vào Nam. Chuyến thứ hai trên chiếc Hải Vận Hạm HQ 5, từ Sài Gòn ra Trường Sa năm 1974. Chuyến thứ ba này từ Sài Gòn ngược lên Hải Phòng, cuối năm 1976.

Chuyến lênh đênh đênh trên biển đầu tiên tôi còn bé, chưa cảm thấy gì ngoài sự kinh ngạc con tàu quá đồ sộ. Chuyến thứ hai, tôi cảm được tiếng nhạc và lời ca của Phạm Duy: “Ra khơi, thấy lòng phơi phới, …” Chuyến thứ 3 này, tôi giải tỏa được một phần thắc mắc từ lâu, người ta chở súc vật trên tàu như thế nào.

Khi nhóm Long Thành xuống đến tầng hầm chở than của tàu Sông Hương, các bạn tù từ trại nào đó đã nằm la liệt trong khoang tàu. Không rõ là con tàu này lớn thế nào, nhưng chở số tù, tôi nghĩ, vào khoảng từ 1000 đến 1200 người, có thể hơn nữa, vì khi lên ở bến Hải Phòng, tôi nhớ đông lắm, gấp hàng 7, 8 lần con số từ Long Thành (195 người.) Như thế có nhiều nhóm tù trong chuyến ra Bắc này. Có lẽ các bạn khác từ Miền Tây, Miền Đông, hoặc từ các trại giam như “Khám Chí Hòa”, các trại tù do quân đội cộng sản giam giữ.

Rất đông nên có người ngồi dựa thành tàu, không có chỗ nằm. Tôi may mắn được mấy bạn thu xếp cho một chỗ nằm vì suốt cuộc hành trình, tôi say sóng, lúc tỉnh, lúc mê. Bạn Trần Văn Chung lại phải săn sóc tôi, lo lãnh đồ ăn, thức uống để ép tôi ăn uống, và tìm đâu được thuốc say sóng cho tôi uống. Tôi có nghe tiềng thì thầm về ai đó tự tử. Trí óc lơ mơ, không chắc tôi nghe đúng. Sau này, sự việc dồn dập, cũng quên không hỏi lại về chuyện đó. Tôi cứ nằm bệt như vậy, không thải ra ngoài thứ gì cả nên cũng đỡ phải trở dậy. Lúc tỉnh táo, nghe được tiếng mọi người kháo chuyện, lúc này đang ở đâu, có lẽ ngang với Nha Trang, rồi Đà Nẵng, rồi ra tới “địa phận Miền Bắc”, trên vĩ tuyến 17, tức là đã ra khỏi đất nước “mình”, quê hương “mình”. A! Chữ “mình” này quan trọng lắm, thân thiết lắm, quí vị chưa qua cảnh “tù Miền Bắc”, chưa cảm nổi cái chữ giản dị này đâu. Chúng tôi đã không còn sống giữa “dân mình”, không còn được dân mình bảo bọc. che chở.

Cũng có lúc tôi tỉnh dậy vì những tiếng la oai oái. Đại khái, kéo lên từ từ thôi, đổ hết xuống đầu tôi rồi đây nè, cho xin nước để rửa đi. Đó là, cứ lâu lâu, có vài bạn tù lực lưỡng được cho lên mấy tầng trên, dòng dây xuống để kéo mấy “thùng vệ sinh” lên, rồi mang đổ xuống biển. Đôi khi, gặp mấy thùng đầy gần tràn những thứ của nợ, thế là, dù người kéo có khéo đến mấy thì cũng có những rơi rớt sóng sánh,  chất thải được trả lại cho lũ sinh vật bên dưới. Nhóm Long Thành tránh được tai vạ đó vì khi xuống đến tầng hầm thì các bạn nhóm cũ đã chiếm lãnh phần khoang tàu có mái che được mở ra, có thêm khí trời, đôi khi vài cơn gió thoảng. Một chút không khí, một chút gió nhẹ, quí lắm ở nơi chốn gần như bít bùng. Nhưng chính cái chỗ mái hầm mở ra cũng là nơi thòng xuống ngày hai bữa đồ ăn, nước uống. Phần ăn, phần uống, có lệnh cõi trời bên trên ban xuống là bao nhiêu, nhưng thế nào ở cõi địa ngục a tì cũng xuy xuyển chút ít. Chẳng đáng gì, say sóng quá, mấy ai thèm lưu ý chuyện vụn vặt. Khổ một nỗi, cái lỗ cổng thông với cõi trời bên trên kia cũng là nơi đưa đi chất thải. Về sau rút kinh nghiệm, khi mấy thùng của nợ được một nửa, chậm lắm là 2 phần 3, là đã có tiếng kêu xin kéo thùng. Lại những tiếng ĐM đặc trưng của Miền Bắc, của Thủ Đô, của “đất ngàn năm văn vật”, trước khi một, hai anh tù cao lớn, to con được “thăng thiên” Các anh kể lại cảm giác tuyệt vời khi đứng ở cõi trên, Bao nhiêu là không khí, bao nhiêu là gió, và biển thì mênh mông. Nghe các anh kể, dù giữa cơn say sóng lơ mơ, cồn cào, khốn khổ, tôi bỗng nhớ lại rằng trời đất vốn rất mênh mông. Cũng từ đó tôi thêm sức chịu đựng cái nghiệt ngã của say sóng với ý nghĩ để tự an ủi rằng, lịch sử thì dài dằng dặc, xá gì mấy ngày vật vã trong cái thùng nhếch nhác bụi than này. Rồi sẽ qua đi mọi chuyện đời nặng, nhẹ.

Sau này, vào năm 1979, khi các vị linh mục Công Giáo về trại Thanh Cẩm, tôi biết rằng có thể cùng chuyến tàu chúng tôi đi Bắc, có Giám Mục Nguyễn Văn Thuận.

Cũng từ các anh kéo thùng, lớp linh hồn đọa đầy dưới này mới có chuyện bàn tán rằng tầu đang chạy qua vùng nào của giải đất hình chữ S. Lạ lắm, biết là mình sẽ bị đưa ra Bắc, đang bị đưa ra Bắc, nhưng tâm tưởng cố cưỡng lại, nuôi mối hy vọng hão huyền rằng không ra hẳn ngoài Bắc, còn được ở với dân chúng Miền Nam. Đã học rằng đất nước mình là một giải đất hình chữ S, chạy từ Bắc vào Nam, mà sao bây giờ vẫn cố cưỡng lại định mệnh phải lưu đầy nơi miền bắc của đất nước mình. Bị nhốt trong nhà tù ở Miền Bắc tức là vẫn được ở tại quê hương Việt Nam, nhưng tôi tưởng như miền bắc này là vùng đất ở mãi Tây Bá Lợi Á, hoặc ở tận Châu Phi. Những ngày ở Long Thành, loa phóng thanh ồn ào chuyện “Thống Nhất.” Thống nhất ở đâu nhỉ? Thống nhất cái gì nhỉ? Lòng tầu lại đụng vào cơn sóng, lại nhộn nhạo trong bụng, trời đất chênh vênh, trí tưởng tôi chìm dần, chìm dần trong tiếng loáng thoáng mơ hồ của Trần Văn Chung, Bí, dậy ăn tí đi này, …

Thời lượng của cuộc hải trình từ Nam ra Bắc với tôi rất lãng đãng. Nằm bẹp suốt, tôi không rõ là chuyến đi mất bao lâu. Có lẽ là 3 đêm 2 ngày, hoặc 3 đêm, 3 ngày. Tôi chỉ nhớ rõ là lên Tàu ở Tân Cảng, Sài Gòn vào buổi tối, xuống tàu ở cảng Hải Phòng vào lúc quá nửa đêm. Tôi xin trích đoạn ngắn tôi viết trong bài “Những Mảnh Vụn”, đăng trong Đặc San Thanh Cẩm năm 2012, coi như tôi đang kể tiếp chuyện ở cảng Hải Phòng.

“Đêm ngày 5, rạng ngày 6 Tháng 12, chuyến tàu Sông Hương chở một số tù Miền Nam đến cảng Hải Phòng, trong đó có số tù từ trại Long Thành. Tất cả được lùa lên bến cảng như một đoàn quân ma trong ánh đèn leo lét. Một số phụ nữ sắc phục công an tươi cười, niềm nở đến thăm hỏi đoàn tù đang ngơ ngác, âu lo, lóng ngóng theo tiếng thét xếp hàng của những công an canh tù. Những nữ công an (công an gái, theo cách gọi Miền Bắc lúc đó) nói các anh yên tâm, sẽ được đưa về những nơi đầy đủ tiện nghi học tập ít tháng rồi sẽ được về với gia đình. Họ vẫn sợ những cuộc nổi loạn dọc đường cho nên thu xếp tất cả, từ những phụ nữ niềm nở đón tiếp, đến các cảnh ném đá của trẻ em dọc đường, … để cho tù phải e dè nếu có âm mưu nổi loạn. Đều là dối trá, lừa gạt. Những phụ nữ kia chắc có người tưởng thật, những trẻ em kia chắc nhiều em căm thù thật theo nếp tuyên truyền lếu láo.

Hai tay công an đứng ngay bên chỗ tôi ngồi xổm đang xoi đèn bấm lên một tờ giấy nhầu nát. Họ châu đầu vào nhau cãi vã. Qua ánh đèn, nhìn từ dưới lên tôi thấy những nét chữ nguệch ngoạc. Danh sách thuyên chuyển tù nhân chỉ cần “giản dị” như vậy, y như hồi còn ở trong rừng. Giọng nói the thé của miền Thanh Hoá cự rằng: Sao bảo Long Thành đưa ra 196 thằng mà đếm đi đếm lại chỉ có 195? Giọng Miền Nam trả lời cộc lốc: Thì chắc là có thằng nào sót lại. 195 thì nhận 195 cho rồi. “Đồng chí” công an Thanh Cẩm nhất định không chịu, thiếu một người về trại, sau này lấy đâu bù cho Bộ. Tôi thấy “đồng chí” Miền Nam chạy đi đâu đó một hồi rồi dắt đến một anh tù cao lêu khêu giao cho “đồng chí” Miền Bắc.  Anh Nhãn, không nhớ rõ họ gì, Nguyễn văn Nhãn hay Phan văn Nhãn, thuộc đám tù từ Miền Tây, bỗng dưng được tách ra cho nhập đám Long Thành để đi về Thanh Cẩm. Không rõ tay công an Long Thành điều đình sao với cánh Miền Tây và đám trại khác sẽ nhận lãnh, để móc được anh Nhãn ra.”

Có hai điều vui vui ở đoạn trích trên: Nhóm Long Thành xuống tàu ở Tân Cảng gồm 195 người, lên đường từ Hải Phòng về trại Thanh Cẩm lại có 196 người theo đúng danh sách thông báo. Hay là mấy “đồng chí công an” ở Long Thành giờ chót giữ lại một người khỏi đi Bắc vì “bác hồ” trên tờ giấy bạc nói “giữ thằng đó lại?” Dám lắm, cứ cung cách giải quyết lấy thêm một “tên tù” từ đâu đó bỏ vào cho đủ số của Long Thành thì chỉ mấy anh “Miền Nam” mới làm được. Mấy “đồng chí Miền Tây” xuề xòa, cho mấy “hình bác hồ” làm kỷ niệm là xong hết. “Dễ mà!” Cái thằng tôi may mắn chứng kiến cuộc bàn giao kiểu rừng rú mới biết chuyện, ngay chàng Nhãn cũng chẳng hiểu vì sao bị đưa vào nhóm trại Thanh Cẩm. Chàng đồ rằng cái lon trung sĩ cảnh sát của chàng nặng ký lắm mới bị đưa vào đám “cấp lớn.”

Nhớ lại, cuộc bàn giao mất gần cả tiếng đồng hồ, giữa hai giọng nói, một giọng như qua quít cho xong, một giọng “khẩn trương và nghiêm túc”. Chàng nghiêm túc đi lên đi xuống hàng tù ngồi xổm dưới đất, đếm đi đếm lại vẫn không đúng con số vừa ý, cương quyết không nhận. Tôi nghĩ bụng, kiểu này biết đâu bọn nó tống mình về lại Miền Nam cũng nên. Dĩ nhiên biết là mình nằm mơ lên cung trăng còn dễ hơn, nhưng cứ mơ trở lại “quê mình” cho bớt phần tuyệt vọng (Vậy thì tôi ra đời ở tỉnh Bắc Ninh, Bắc Việt, nhưng bây giờ lại thấy “quê mình” là ở Sài Gòn). Chàng xuề xòa cằn nhằn, 95 hay 96 cũng “dậy” mà, có nhiêu nhận nhiêu cho rồi… Khi một chàng trong bọn công an Long Thành biến đi, mọi chuyện ngưng đọng, tôi mới có dịp nhìn đến đám đàn bà con gái mặc quần áo công an đứng xa. Như đoạn trích trên kể lại, bọn công an gái đang đợi bàn giao xong sẽ đến thi hành nhiệm vụ giả nhân giả nghĩa.

Gần sáng cán ngố mới bàn giao xong tù. Nhìn quanh bãi cảng mấy nhóm tù khác đã biến đi rồi, chỉ thấy công nhân bến cảng bắt đầu làm việc. Chúng tôi vẫn ngồi ủ rũ đợi xe đến đón. Có liếng lầu bầu, mấy thằng cha  mê mải ở đất Thủ Đô, sáng ra chắc lại lòng lợn tiết canh, be rượu. Gần trưa rồi chưa thấy xe đâu. Họ nói về mấy tay công an của trại nhưng đêm qua được ở Hà Nội, chờ nhận đoàn xe thuê của công ty nào đó đưa chúng tôi về Thanh Hóa. Rồi xe cũng đến. Chúng tôi được lệnh lên xe. Những chiếc xe hàng bóng loáng, hầu như mới toanh, ghế ngồi còn tươm tất, sạch sẽ. Các đồng chí Miền Bắc vào Nam theo cái kiểu “Miền Nam nhận họ, Miền Bắc nhận hàng”, lựa toàn những hàng tốt, mang hết về Bắc. Cái bọn phồn vinh giả tạo lại có toàn những thứ sản phẩm không giả chút nào.

Đường về Thanh Cẩm

Bây giờ tôi không nhớ đoàn xe chở tù của trại Thanh Cẩm gồm mấy chiếc, có lẽ là 4. Có vẻ như mỗi xe chứa 56 chỗ ngồi cho hành khách, không kể chỗ ngồi của tài xế và phụ lái ở băng trên cùng. Ở dưới đường nhìn lên, tưởng đây là những xe chở khách bình thường, hoặc chở các nhóm công, nhân viên đi “tham quan”, khó lòng nhận ra mấy chiếc xe đẹp đẽ, tươm tất kia đang chở tù nhân. Có lẽ “tù Miền Nam” lúc đó trông còn tươm tất, có khi còn hồng hào, sáng sủa hơn bọn cán bộ ốm đói của Miền Bắc. Sự thực, bọn chúng tôi cứ hai người ngồi hai ghế sát nhau bị còng chung một còng số tám. Lâu lâu lựa chỗ vắng vẻ, mấy tên công an cho xe ngừng, cả bọn xuống xe đi tiêu, đi tiểu, vẫn hai người còng chung. Anh nào đại tiện cứ việc “ị đồng”, anh không ị vẫn phải chôn chân đứng cạnh, ngắm trời đất bao la, “gửi gió cho mây ngàn bay”. Không biết trong các tác phẩm hội họa của Việt Nam, có “họa sĩ nhân dân” nào vẽ cảnh đó chưa, một vị ngồi xổm, một vị đứng ngay sát cạnh làm thơ?

Xe chạy được chừng tiếng đồng hồ, một anh tù được tháo còng, xách một thùng nước, tay cầm vài cái ly nhựa, múc nước chuyền cho bạn tù khác uống. Khoảng quá trưa, đợt đái, ị đầu tiên. Cùng lúc đó, tôi nghe tiếng bọn công an lao xao hỏi nhau, sao chưa thấy mấy đứa đi ô tô con mang gì đến. Chắc là mấy tay sĩ quan chỉ huy “cuộc hành quân” đi xe nhỏ riêng. Họ có nhiệm vụ đi trước mua đồ ăn thức uống cho đoàn, cả tù, cả công an. Tình cờ tôi ngồi xe đầu mới được nhìn, được nghe mấy hoạt cảnh cán ngố ra tỉnh. Vài anh công an người Mường hay Thổ gì đó của vùng rừng núi, ngay lúc đó tôi chưa biết miền thượng nào, lần đầu tiên ra tỉnh thành. Hải Phòng vốn là xứ cảng, gần gũi văn minh mấy nước Liên Sô vĩ đại, Ba Lan, Tiệp Khắc “hạng nhất” Âu Châu, nên lắm điều kỳ lạ. Chạy qua Hà Nội, Thủ Đô Lương Tâm của thế giới, lại càng hiện đại nhất hoàn cầu. Cái gì mấy anh cũng hỏi nhau, anh nào hơi thành thạo, tha hồ nói thánh, nói tướng. Cái chuyện “bánh tây” chẳng hạn. Hành quân “đi đón” mang theo cơm nắm muối vừng (tôi đoán mò vậy.) Hành quân “chở tù về” có ngân khoản, mua bánh mì kẹp vài miếng mỡ bên trong, trở thành của lạ thế gian ít có. Chỉ đất nước ta mới giầu có thế này. Đó là cuối năm 1976, cán ngố miền Bắc chưa được vào Nam nhiều, anh nào vào rồi cố ở lì, không chịu về cho thiên hạ “thay phiên.” Nhìn, nghe cảnh đó, tôi nghĩ bụng, thế thì “bỏ Mẹ” mình rồi, bị nhốt giữa bọn “mán” này, miếng mỡ lầy nhầy cũng quí, chỉ còn con đường tiêu tùng. “Làm thầy thằng ngu” đã khốn nạn. lại còn làm “tù” của mấy thằng ngu, không chết cũng thành đần độn, giở hơi.

Sau này tôi nghe chuyện tù Miền Nam bị ném đá. Đoàn tù chúng tôi không bị như vậy. Lúc chiều tà, xe lại ngừng cho tù xuống tiêu tiểu. Mấy tay công an đã chặn sẵn hai đầu đoàn xe. Có mấy người dân loay hoay xa xa, bọn trẻ em trên cánh đồng, tất cả đều đứng yên chỉ trỏ. Có lẽ nhìn thấy lấp lánh chiếc còng sắt, họ mới biết chúng tôi là tù Miền nam. Nhưng không ai phản ứng. Có thể vì chúng tôi đi xe còn mới toanh, tổ chức cho ném đá thì hư hại xe. Đoán mò vậy thôi. Hoặc chuyện ném đá thành trò cũ rồi, không cần tái diễn. Từ Hải Phòng, sau này tôi biết hầu như các nhóm tù khác thường đi xe lửa về trại tù ở mạn Bắc. Nhóm chúng tôi chạy ngược về Nam, Thanh Hóa, nên được đi xe “ô tô” chở hành khách.

Nhá nhem tối thì đoàn xe đến cầu Long Biên. Thằng Bắc Kỳ trong tôi thực sự bồi hồi, cảm động. Từ trên xe nhìn loáng thoáng xuống mặt cầu, thành cầu, vẫn y như cách đây hơn 20 năm về trước. Thuở nhỏ, Đẻ tôi mấy lần đưa tôi qua cây cầu lẫy lừng này của Miền Bắc, của Hà Nội Cố Đô. Lúc thì ngồi trên xe ca (xe đò), lần cuối cùng đứng trên xe lửa đi Hải Phòng để vào Nam, tôi vẫn tò mò xem xét cây cầu vì nghe danh tiếng của nó. Nay trở lại, không một mảy may thay đổi. Thành cầu sắt rỉ sét, vẫn vậy. Mấy trạm “bót” nhỏ tí hai bên đầu cầu, vẫn một màu vôi trắng bạc thếch, bẩn thỉu. Xe bò từng chút, gập ghềnh, dón dén, như sợ cây cầu già nua đau xương đau cốt. Xin đọc “Thanh Cẩm, Một Chặng Đời Tôi” để thấy rằng “Xe qua từng dốc cầu cao, gập ghềnh nhịp gỗ, lao xao gió lùa”.

Bấy giờ là đầu tháng 12, cuối thu rồi, đầu đông rồi, gió lạnh bắt đầu từng cơn trên sông Hồng.  “Hồng Hà … mênh mông …  Hồng Hà trôi xuôi, đưa nước trên ngàn về khơi …”. Lời bài hát của Đỗ Nhuận, âm điệu thiết tha hào hùng của Đỗ Nhuận day dứt trong tôi. “Du Kích Sông Thao”, một thời tôi yêu thích bài hát vì hai chữ “Hồng Hà”. Bây giờ, nắng chiều đã tắt, không còn “chia nửa bãi” nữa, Hồng Hà sao quá thê lương, quá lạnh lùng. Thằng Bắc Kỳ là tôi trở lại Miền Bắc, trở lại cố hương, sao lại đớn đau, buồn bã thế nhỉ. Vì mình? Buồn lâu rồi, nhưng quá buồn thương cho vùng đất thân yêu này, cho con sông thân yêu này, cho dĩ vãng huyền sử này. Vua Lý Thái Tổ trao kiếm nơi đây cho Rùa Vàng. Bây giờ cây kiếm dựng nước đó ở đâu, sao không giữ nước cho dân tôi. Tôi ôm tâm trạng sầu thảm, tủi, nhục gặp lại “Hà Nội, cố đô yêu dấu, nằm soi bóng bên giòng sông Nhị”. Tôi không nhớ câu này trích ở đâu ra, nhưng nhớ từ bé đến bây giờ.

Xuống cầu, ngoặt về bên phải (hình như vậy), chạy qua Bến Nứa ngày nào nhộn nhịp, nay có vẻ hoang sơ hơn. Có lẽ là buổi tối, khách dùng xe đò từ Hà Nội đi các tỉnh không còn. Hà Nội vẫn dáng hình như vậy, đường phố chật hẹp, lấp lánh ánh đèn, nhưng ủ rũ hơn thời nào, sơ xác hơn thời nào trong tôi. Chiến tranh kết thúc rồi, của cướp từ Miền Nam mang về đây cũng nhiều rồi, sao nhà cửa vẫn như hai chục năm trước, nước sơn, nước vôi không rõ vì đèn xe loáng thoáng chiếu vào, nhưng nét xộc xệch vẫn hiện ra từ các khung cửa sổ, cửa ra vào, từ cả những tấm phản, chiếc bàn kê ngay giữa nhà cho tôi cảm tưởng chúng im lìm, buồn bã dưới ánh đèn tù mù vàng ệch.

Chạy ven Hà Nội chừng nửa tiếng, xe rơi vào một không gian âm u. Con đường trước mặt tối tăm. Lác đác nhà hai bên đường, không biết có nên gọi những mái tranh kia là nhà không, cũng tối tăm. Cả một chặng đường dài dằng dặc chúng tôi chỉ bắt gặp chừng một, hai xe hơi ngược chiều, vài người đi bộ nép sát vệ đường, vài chiếc xe đạp lờ mờ trong đêm. Có lẽ chúng tôi đã nhập vào Quốc Lộ 1 nối liền Hà Nội – Sài Gòn. Xe chúng tôi đang chạy trên mấy chặng đường nối tiếp những phố quận, thị trấn, Khoảng một hai tiếng đồng hồ lại gặp vài chục ngôi nhà tụ nhau từng nhóm, đó là những huyện lỵ, nhưng không rõ tên, hoặc thuở xưa tôi chưa từng nghe đến. Duy có lần ánh đèn xe quét qua tấm bảng xộc xệch ven đường, tôi nhận ra hai chữ “Phủ Lý”. Ngày xưa, Đẻ tôi đưa tôi vào tá túc một đêm ở nhà ai đó gọi tôi bằng chú. Mấy chục năm sau từ Mỹ trở về, tôi biết là ai, khi tôi vào thăm một căn nhà cách quốc lộ chẳng bao xa. Cuộc đời chúng mình có nhiều điều kỳ lạ như thế. Một đêm, cườm tay lạnh ngắt chất thép cái còng, kẻ tù nhân ngồi ườn oài buồn bã trên một chiếc xe đò, chạy qua nơi phố lỵ biết là ngày xưa có nhà ai đó quen mình. Ai đó, đang yên giấc ngủ trong một ngôi nhà nào đó, bỗng thức giấc vì tiếng xe chạy ì ầm, chiếc nọ tiếp chiếc kia ngoài đường nhựa. Người thức giấc lại chìm vào giấc ngủ, không biết có người họ hàng quen biết đang lướt qua ngoài kia để đi vào rừng sâu núi thẳm, dễ dàng bỏ lại tấm xương tàn nơi đó. Cũng vì vậy, tôi thường ngẫm đi ngẫm lại, để thấy rằng, cuối cùng, “có gì đâu!” Lại nổi cơn triết lý vô duyên.

Tôi chìm vào giấc ngủ bao lâu không biết, chắc độ chừng hai, ba tiếng đồng hồ. Tỉnh dậy vì nghe tiếng lao xao. Cả một khu đèn đuốc rực sáng. Rồi nghe tiếng người ta trao đổi, tiếng anh tài xế hỏi, cứ để bọn nó ở trên xe hở? Phải! Cho xuống đi bộ qua thì biết bao giờ mới xong. Có tháo tay nó ra không? Rách việc! Và tôi nhận ra một điều đặc biệt, không còn anh công an nào trên xe. Băng trên chỉ có tài xế. Nhìn ra ngoài, xe đang chúc đầu xuống dốc. Nhìn xa hơn, sóng sông phản chiếu ánh đèn lấp lánh. Xa lắc, nhóm đèn sáng rực như bên này, có lẽ là đầu cầu bên kia. Xe chúng tôi đang chậm chạp bò qua cây cầu nối hai bờ sông. Tôi ép sát đầu vào cửa kính, cố nhìn xuống ngay sát thành xe. Ánh sáng đèn ở bến đủ cho tôi thấy xe đang nhích từng chút trên mặt nước, chòng chành. Không thấy mặt cầu đâu. Cầu nổi, nhưng lúc đó mặt cầu chìm dưới nước. Tài xế chạy xe theo mấy tấm bảng trắng nhỏ có lẽ báo cho biết giới hạn của cây cầu. Mùa đông giá lạnh. Trời đêm giá lạnh. Gió sông giá lạnh. Nỗi sợ hãi ngấm ngầm trong tôi giá lạnh. Nếu xe lọt xuống sông thì sao đây? Làm sao mở kính xe để thoát ra. Thoát ra rồi, hai đứa còng tay vào nhau, sẽ ra sao đây? Mười mấy năm rồi tôi không đi bơi, biết có giữ mình nổi được không. Có lẽ chiếc xe bò mất gần thế kỷ mới lên được bờ bên kia. Tôi nghe anh tài xế thở ra. Chắc anh bây giờ mới hoàn hồn. Anh nói với tên công an nhảy lên ghế băng trước, tao chưa bao giờ chở khách đi đêm qua cái cầu Hàm Rồng này, lại còn để ngồi trên xe. Trong cuộc chiến tranh, tôi đã nghe đến tên cây cầu Hàm Rồng nhiều lần. Không ngờ có ngày mình chui vào cái hàm con rồng ma quái trên dòng sông Mã. Cầu Hàm Rồng bằng sắt đã bị trúng bom trong chiến tranh, chỉ còn trơ vài nhịp cầu nghiêng ngả, chưa được sửa chữa. Xe cộ  phải chạy trên cây cầu nổi. Ban đêm, nước sông dâng cao mấp mé mặt cầu. Bọn Công An áp tải tù có xuồng máy đưa qua sông.

Trước khi ghi tiếp, tôi phải ngừng lại ở hai chữ “rách việc” trên kia. Tôi là tên Bắc Kỳ chính cống. chắc là có “lai” đôi chút ngôn ngữ của Miền Nam, trước đây chưa từng biết đến hai chữ “rách việc”. Sau này, lưu trú ở Thanh Hóa hơn 7 năm cũng chưa nghe, hoặc là có nghe thoáng qua mà không hiểu nên nó không chui vào cái đầu chứa toàn óc bò. Có lần từ Mỹ về sau năm 2000, trong câu chuyện với vài vị văn chương chữ nghĩa, quả thực có nghe 2 chữ cao quí trên, định hỏi ý nghĩa, sau đó lại quên. “Việc” mà “rách” thì lạ nhỉ. Tìm trong “Đại Từ Điển Tiếng Việt” của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, do Nguyễn Như Ý chủ biên, trang 1189, có: “Rách việc tt. Chỉ thêm rắc rối, phiền phức đến công việc của người ta thôi”. Thế mới biết, óc bò, còn phải học nhiều.

Tôi không nhớ rõ xe chúng tôi có chạy qua Thành Phố Thanh Hóa hay không. Lúc đó đã quá nửa đêm, chừng 2, 3 giờ sáng. Rồi trời sáng hơn, bắt đầu nhìn được cảnh vật chung quanh, tôi nhận ra là xe mình đang nhịp nhàng như theo sóng sông, với những tiếng rên siết từng hồi, bánh xe từng bước lăn theo con đường thiên lý lồi lõm ổ gà. Chúng tôi đang đi giữa núi rừng. Mấy chàng công an trẻ ôm cây súng dài gật gù theo nhịp “sóng”, chợt thức giấc, hỏi nhau, sắp tới chưa. Qua câu chuyện của họ, tôi hiểu rằng trại giam chúng tôi sẽ tới thuộc tỉnh Thanh Hóa, nhưng cũng cách tỉnh lỵ cả trăm cây số, và xe sẽ phải nhàn nhã ngao du mất 4 hoặc 5 giờ đồng hồ. Những chặng đường sau đó cho thấy con số 4 giờ kia là có lý. Có những lúc tôi tưởng xe bỏ đường cái, chạy vào đất rừng, nhìn ra phía trước chỉ thấy lờ mờ như xe đang chạy theo lòng suối cạn. Những cơn mưa tháng hè cuốn đi đất đá trải đường, bây giờ chưa tu sửa được. Đầu xe có lúc ngóc lên cao, có lúc chúi xuống thấp, nhấp nhô theo khe suối, sườn đồi, đôi khi chênh vênh bên bờ vực sâu hút. Tôi không hiểu nếu có xe chạy ngược chiều, làm sao họ tránh nhau. Chẳng gặp xe nào cả, ngoài vài chiếc xe trâu khệnh khạng lê từng bước chân trâu. Giữa núi rừng, tiếng máy xe chúng tôi hẳn phải vang to, nhưng tài xế cứ bóp còi inh ỏi như áp đảo tinh thần chàng “lái’ xe trâu. Hay đó là cách “nói chuyện” với anh trâu già? Hay bóp còi cho chính chàng tài xế tỉnh ngủ? Cũng có thể là tiếng còi “tự hào”, xe của tao là xe ô tô đây!

Có lúc chúng tôi thấy xa xa mấy dẫy nhà dài trong khu hàng rào tre nứa. Bao quanh bên ngoài là những thửa ruộng, chỗ thấp, chỗ cao. Chàng cán bộ trẻ theo xe giải thích đó là Trại giam Lam Sơn. Hàng trăm người cùng màu áo quần xanh xám là phạm nhân lui hui trên đồng. Ở đây đất thịt, họ còn cấy được lúa. Bắt đầu thấy rải rác nhà sàn. Nhớ lại Phạm Duy, mái nhà sàn thở khói âm u. Không nhạc sĩ nào “sống” được nhiều như ông ta, nên gia tài âm nhạc, lời ca của ông là một thiên sử hình ảnh nhân văn, xã hội. “Tiếc rằng” ông không kinh qua nhà tù cộng sản. Về già, ông mới có cơ hội “trải nghiệm” (chữ nghĩa quê một cục) nhà tù lớn là đất nước Việt Nam, để cho gần trăm triệu người dân Việt được nghe nhạc của ông, được biết đến một gia tài văn hóa.

Sương mù, khí rừng khí núi lạnh  buốt. Có lúc trời lấm tấm mưa, hay là “hạt móc” từ tàn lá bên đường rơi xuống? Nhưng khi về đến “đất trại”, nắng đã lên khỏi “một con sào”. Lâu lắm mới lại nghe mấy chữ quê hương đó trong câu nói hân hoan của chàng công an trẻ được trở về nơi trú ngụ quen thuộc. Cái quen của chàng là cái lạ của tôi. Nỗi hân hoan của chàng là nỗi bâng khuâng của tôi. Nói “bâng khuâng” là cách dùng chữ văn hoa cho bớt phần bi thảm. Những gì “khủng khiếp” chờ đợi tôi ở nơi thâm sơn cùng cốc này? Tôi sẽ tồn tại được bao lâu, gia đình tôi có tìm được nắm xương tàn của tôi?

Nỗi bi thảm không lan man được lâu. Xuống xe, lỉnh kỉnh đồ đạc, mấy trăm thước lếch thếch kéo nhau lê những bước chân vô định. Leo một con dốc, xuống một con dốc dọc theo bức tường đá cao lêu nghêu, kẽm gai hai ngả đầu tường. Sau bức tường câm nín sẽ là cuộc sống vĩnh viễn của đời ta? Những tiếng líu lo rừng núi thị uy với đám người thất thế sa cơ. Lũ hình nhân líu díu qua khung cổng trại dữ dằn, vào sân xếp hàng, ngồi xuống. Hai trăm (196) tên tù ngơ ngác ngồi nghe tiếng Việt mà không hiểu gì nhiều. Có ai kéo tay tôi, Ê, Bắc Kỳ, “ổng” nói gì vậy. Tôi lắc đầu, ra dấu chẳng hiểu gì hơn mấy bạn Nam Kỳ. Có ai dơ tay, tên cán bộ đang liến thoắng giảng giải hất hàm ta dấu. Một ông già trong đám tù đứng dậy lắp bắp, Thưa anh … Một tên lên tiếng quát. Các anh không được gọi cán bộ là “anh”. Giọng già nua run rẩy, thưa đồng chí. Tiếng quát lớn hơn, ai “đồng chí” với lũ các anh. Muốn nói với cán bộ, thưa cán bộ. Gặp cấp cao hơn, thưa “Ban”. Cái này hơi lạ, nhưng thì giờ đâu thắc mắc. Sau này biết rằng, mấy chàng công an binh nhì, binh nhất là “cán bộ”, còn mấy anh sĩ quan làm ở “Ban Chỉ Huy Trại’ là “Ban”. Có ai cất lời hướng dẫn bọn tù Miền Nam ôn tồn kết thúc, từ đây, có việc nói với cán bộ, các anh “thưa Cán Bộ” và “thưa Ban”. Các anh không được gọi chúng tôi là “anh, chị”. Chúng tôi gọi các anh là “anh”, hay “phạm nhân”. Hồi ở Long Thành, giai đoạn bán hàng quảng cáo, cũng mấy anh công an áo vàng dậy rằng, xưng hô giữa chúng ta là anh và tôi, không được gọi chúng tôi là “ông, ngài.” Không được xưng mình là em, cháu. Về đây, mấy bạn tù hình sự cứ tôn hầu hết mấy anh cán ngố là “Ban”, còn giữa “tinh thân mật” thì xưng hô là “ông”, còn mình là “con, cháu, em”.  Anh nào bỗng dưng là “ông” đều hớn hở ra mặt! Ở đáy tận cùng xã hội, ngoi lên một chút cũng vui.

Đó là buổi sáng ngày 6 tháng 12, năm 1976. Ngay lúc đó tôi tự hẹn mình phải nhớ, nên mới nhớ rõ ngày tháng. Lúc đó khoảng 10 giờ sáng, giờ chúng tôi được phân phối về phòng giam.

.

Bắt cô trói cột

Thế là 196 người chúng tôi từ trại giam Long Thành (nhắc lại, đúng ra chỉ có 195 tù từ Long Thành) đã được đưa đến trại giam Thanh Cẩm. Nghĩa là chúng tôi từ một trại giam ở Miền Nam thuộc công an của Bộ Nội Vụ Hà Nội, chuyển ra một trại giam ở Miền Bắc cũng thuộc công an Bộ Nội Vụ. Nhiều bạn tù bên quân đội phải chuyển rất nhiều trại. Khi bị nhốt ở Miền Nam, họ di chuyển từ trại nọ qua trại kia, tùy tình hình xây dựng trại phía quân đội Hà Nội. Những sĩ quan VNCH cấp cao phải đi Bắc, cũng được giao cho các đơn vị Hà Nội đóng quân miền thượng du Bắc Việt quản trị. Nên cũng phải chuyển trại nhiều lần. Đến lúc chuẩn bị cuộc chiến tranh Biên Giới Tàu –  Việt 1978, quân đội Hà Nội giao tù cho phía công an, cũng là lúc các trại giam của công an được xây dựng nhiều hơn, mở rộng hơn, gia tăng sức chứa tù nhân.

Trại Thanh Cẩm thuộc Bộ Nội Vụ, nghĩa là chế độ giam giữ có tính cách chính qui, nghiêm ngặt, khốc liệt. Trại mang tên Thanh Cẩm là do ghép hai chữ, Thanh của tỉnh Thanh Hóa, Cẩm của huyện Cẩm Thủy. Huyện Cẩm Thủy đúng ra chưa phải là một huyện hoàn toàn miền núi, núi rừng chỉ chiếm hơn 40% diện tích tự nhiên. Cho nên Cẩm Thủy là nơi có tiếng về sản xuất nhiều bắp. Theo những nhà nhân chủng học Miền Bắc, người ta tìm thấy nhiều dấu tích Người Việt Cổ tại Cẩm Thủy, dấu tích của hai nền văn hóa Đông Sơn và Hòa Bình. Địa danh Cẩm Thủy đã có từ khoảng năm 1460 – 1469. Là một huyện phía tây – bắc của Thanh Hóa, nên Cẩm Thủy có đường tiếp cận với biên giới Lào, thông qua huyện Tuyên Hóa ở cực tây. Khúc sông Mã chảy qua Cẩm Thủy rộng, là nơi mở ra từ thượng nguồn để chảy xuống đồng bằng, nên mùa mưa nước lũ cuồn cuộn như sóng biển. Thi sĩ Quang Dũng đã ghi lại: “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.

Tuy diện tích huyện chỉ có 40% là núi rừng, nhưng trại Thanh Cẩm đã được xây dựng tại nơi hiểm hóc nhất, khắc nghiệt nhất, vì là vùng núi đá vôi. Từ huyện lỵ tới trại là chặng đường gần 20 cây số, hầu như người ta chỉ đi bộ, đi xe trâu. Ai thuộc loại sang cả, sắm được chiếc xe đạp đã đủ là đại gia địa phương. Vào những năm 1976, 1977, 1978, xe đạp đếm chưa đủ 10 đầu ngón tay tại xã Cẩm Thành, địa bàn của trại giam Cẩm Thủy. Có lẽ chỉ trại tù mới có xe hơi ở nơi này. Trại dựa vào dãy núi đá vôi ở phía sau, phía trước cổng là dòng sông Mã, xa xa là núi non trùng điệp. Có những sườn núi trắng toát một màu vào cuối đông, lúc cỡ tháng 4. Trắng toát một màu không phải vì tuyết, mà do mùa hoa “”trẩu” nở, cánh hoa trẩu màu trắng. ở giữa nhụy đỏ hồng. Núi đá vôi có đặc điểm quái ác đối với đời tù. Mùa hè cực nóng, núi giữ hơi nóng lại, ban đêm nhả ra, như hơi thở hừng hực lan vào các phòng trại giam. Oi bức càng thêm oi bức. Mùa đông, núi giữ lại khí lạnh, đêm cũng nhả ra, lạnh cóng tâm can. Càng lạnh khi dạ dày trống rỗng, bụng đói mèm. Ở đây, tôi hiểu được thế nào là “Lửa cơ đốt ruột, dao hàn cắt da.” Nhiều đêm, thời tiết xuống đến không độ C, tiếng chim “bắt cô trói cột” càng tăng thêm độ lạnh. Chắc quí vị không tin chuyện cái thứ âm thanh lanh lảnh, sắc, gọn “bắt cô trói cột” có thể làm cảm giác lạnh tăng lên (đôi khi cũng nghe cả tiếng chim chim gõ mõ). Lạnh lắm lắm. Lạnh tê tay chân, và lạnh cả khối óc. Khối óc tê liệt theo tiếng chim vang vang nơi sườn núi. Tiếng chim đơn độc trong không gian buốt giá như nhắc nhở các thân phận tù đầy về nơi chốn họ đang thoi thóp sống, về nỗi tao ước trong tuyệt vọng được gặp lại gia đình, Bố, Mẹ, Vợ Con … Chúng tôi đến đây vào Tháng 12, giá lạnh núi rừng đã bắt đầu khốc liệt, và tiếng chim ma quái chào đón ngay từ đêm đầu tiên. Các cánh cửa sổ đều mở, khí núi lạnh buốt cứ thế tự nhiên tràn vào. Tiếng chim khuya khoắt cũng tự nhiên len qua tấm chăn chùm đầu, xoáy vào, xoáy vào … Nếu quí vị nhờ ông (bà) google tìm giùm, tiếng “bắt cô trói cột” còn được nghe thành nhiều tên khác.

Trở lại ngày mùng 6, Tháng 12, năm 1976. Khoảng 10 giờ sáng chúng tôi được đưa vào các dãy nhà của trại Thanh Cẩm. Lúc ngồi ở sân nghe mấy cán ngố lảm nhảm, tôi đã quan sát thấy toàn bộ khuôn viên trại gồm 7 dãy chia làm hai bên đối xứng. Khu bên trái, ngoài 3 dãy nhà tranh, mãi tuốt trên cao là một căn  nhà nhỏ, sau này tôi biết là khu “kiên giam”. Phía bên phải, gồm 4 dãy nhà song song nằm ngang, xếp lớp như bực thang vì thế đất càng vào núi càng cao. Ngay gần cổng vào, tức là nơi thấp nhất, cũng có một khu nhà phụ trội. Đó là nhà bếp. Một sân trại bằng đất nện chia cách hai khu. Nhìn từ cổng vào, 4 dãy nhà bên phải được xây bằng gạch, mái ngói. Họ cho tù chính trị Miền Nam ở mấy dãy nhà gạch.

Mỗi dãy nhà dài chừng 50 mét, rộng chùng 7 hay 8 mét, thường nhốt chừng 70, 80 tù nhân. Khi cần, có thể nhét trên 100 người. Hai dãy sạp hoặc bằng gỗ, hoặc bằng xi măng đối diện nhau, rộng chừng 2 mét 5, lối đi ở giữa rộng chừng 2 mét hơn. Hai dãy sạp chạy theo chiều dài căn buồng, chừa chỗ cho các cửa ra vào. Phía trên dãy sạp “tầng dưới” lại còn sạp “tầng trên” bằng gỗ. Tù nhân có người nằm tầng trên, có người tầng dưới, với bề ngang chỗ nằm rộng chừng 1 mét đến 1.2 mét, trải vừa chiếc chiếu đơn. Cuối mỗi dẫy nhà là một phòng nhỏ dùng làm nhà cầu kiểu ngồi xổm. Toàn bộ căn phòng có 2 cửa ra vào, chừng 10 đến 12 cửa sổ dành cho sạp tầng trên và sạp tầng dưới. Cửa sổ luôn luôn phải mở dù trời nóng hay lạnh để bọn cán bộ đi tuần đêm kiểm soát. Thời gian sau này, mùa đông đôi khi có người nằm ngay chỗ cửa sổ khép hai cánh cửa lại, bọn cán bộ cũng chỉ ghé mắt xem qua. Càng về sau, không khí tù thoải mái hơn, thay vì tiếng quát mắng bắt mở cánh cửa sổ, mấy chàng công an trẻ cào cào hay gõ nhẹ nhẹ vào cánh cửa, kèm theo tiếng thì thầm: Anh gì này, cho thìa mỡ nào. Hôm nay tôi kiếm được vài gốc măng, chút nữa về xào lên ngon cực. Hoặc là, anh cho mượn cái điếu và cho xin một “bi”. Rét quá, kéo một cái cho ấm người.

Trong phần ghi chép này tôi hay dùng chữ “Trại Thanh Cẩm”. Ý nghĩa của nhóm 3 chữ này (nhà quê gọi là “cụm từ”) thay đổi tùy theo nội dung tường thuật. Đúng nhất, “Trại Thanh Cẩm” phải được hiểu là toàn bộ khu đất đai dành cho “Nhà tù mang tên Thanh Cẩm”, rộng cả chục mẫu, kể cả phần đất núi, rừng chung quanh. Trên hơn chục mẫu đó có các vườn tược, đất đai trồng các loại ngũ cốc (trừ cây lúa), các khu nhà làm nghề mộc, nấu rượu, lò gạch, … Có khu “gia binh” dựng mấy chục ngôi nhà cho cán bộ có gia đình, mấy dãy nhà dành cho cán bộ độc thân. Gần khu này là khu làm việc của “Ban Giám Thị” trại. Ngay sát đó, là khu nhốt tù chính, được gọi là K1, tức là khu nhốt “tù chính trị Miền Nam”. Khu K2, nhốt tù hình sự Miền Bắc, cách K1 chừng 2 cây số, cho đến khi tôi rời trại vào năm 1984, khu này vẫn còn là nhà tranh vách đất.

Nhưng bình thường, tôi dùng 3 chữ “Trại Thanh Cẩm” để chỉ khu nhà tù nhốt chúng tôi, tức khu K1, còn gọi là Khu A.

Thuốc độc

Buổi sáng đầu tiên tại trại giam Thanh Cẩm là một buổi sáng tôi nhớ mãi trong chặng đời tù đầy, không phải vì nó là “đầu tiên”, mà vì mối thắc mắc về bữa ăn ngay trưa hôm đó. Tôi đã kể, khoảng 10 giờ sáng chúng tôi được phân phối về 4 dãy nhà bên phải của trại giam. Cả bọn còn đang lui hui thu xếp đồ đạc, phân chia, chọn lựa chỗ nằm theo sự cắt đặt của các đội trưởng thì khoảng 11 giờ đã có tiếng kêu ngoài sân ra nhận cơm trưa.

Cả bọn ra sân, xếp hàng chờ lãnh phần ăn, tay mỗi người cầm sẵn vài vật dụng cá nhân dùng trong bữa ăn: Cái tô, hay hộp, hoặc gà mên (gamelle – cạp lồng) bằng nhựa hay nhôm, kèm theo cái muỗng nhôm. Với tôi, hai vật đó đủ cho một bữa ăn hồi ở Long Thành. Ở trại giam Thanh Cẩm, nhiều khi không cần vật nào cả cũng xong một “bữa”. Tuy nhiên, phần nhiều bạn tù khác thường mang thêm một hay hai cái chén nhỏ, hộp nhỏ. Họ không muốn trộn thức ăn vào với cơm. Điều này đúng cho khoảng 3 hay 4 ngày trong một năm. Đó là mấy ngày Tết, ngày lễ trọng đại như ngày (gọi là) Quốc Khánh mùng 2 Tháng 9, trại cho tù ăn cơm trắng, mấy miếng thịt bạc nhạc kho lõng bõng nước, bát canh rau gì đó. Phần ăn ngày Tết thường được ăn dè sẻn, để dành cho mấy ngày sau, không thể trộn lẫn tất cả để ăn một lần. Còn đối với bữa ăn hàng ngày là mấy củ sắn, hơn chục củ khoai lang “đuôi chuột”, thì cần gì bát với đĩa. Gọi là “khoai lang đuôi chuột” vì củ khoai lang nhỏ tí, dài ngoằng như cái đuôi chuột. Lâu lâu (nhờ phúc nhà) có được một củ khoai lang ra hồn, trời ơi, cái lưỡi như được nếm vị ngọt của cả đất trời.

Ra đến “nhà ăn”, tôi thấy mỗi tổ 10 người được chia sẵn 4 cái xoong đựng thức ăn đặt trên bàn. Một xoong đựng đầy cơm trắng. Một xoong đựng chừng hơn hai chục miếng thịt heo thái to, đó là món thịt kho, mỡ nổi lềnh bềnh trên nửa xoong nước, một xoong đựng canh miến nấu với váng mỡ, và một xoong ai cũng xuýt xoa là ra xứ lạnh này mới được ăn thịt đông. Vọc muỗng vào xoong thịt đông mới biết là “bé cái lầm”. Đó là món khoai mì (từ Thanh Hóa ra phía Bắc, gọi là sắn), nấu kiểu gì không biết, nhưng chất nước sền sệt đông lại phủ lên mấy miếng khoai mì cắt nhỏ, trông y hệt thịt đông xứ Bắc.

Chia chác xong mọi người mang bữa trưa vào ăn trong phòng để trốn cái lạnh của đất Bắc. Còn lại ở nhà ăn chưa đến chục người ngồi ăn tại 6 cái bàn. Theo thói quen, tôi và một bạn tù thu dọn hơn hai chục cái xong xếp vào một chỗ ở góc nhà ăn. Phải nói “theo thói quen” vì sau này, tôi biết rằng cái chuyện tự nguyện thu dọn đó không có ở xã hội cộng sản. Cũng như hai tiếng “xin lỗi”, “cảm ơn” hầu hết người ngoài Bắc không nhớ đến. Có tiếng ai nói, trại này họ cho ăn khá hơn Long Thành đấy nhỉ. Thực tình tôi cũng nghĩ như vậy, nhưng vẫn nói đùa, có lẽ là giai đoạn quảng cáo, chứ Miền Bắc đói kém, dân không đủ ăn, không lẽ tù tụi mình là món hàng quí hiếm sao. Tôi vẫn đinh ninh theo kiểu Cu Ba, sẽ có trao đổi chúng tôi với máy cầy hay gì gì đó của Mỹ.

Ngồi xuống bàn ăn, tôi mới có cơ hội nhìn quanh khu mình đang ở. Lúc vào trại tôi đã thấy 4 bức tường đá bao quanh trại giam cao đến 5, 6 mét, không kể hàng kẽm gai trên đỉnh tường. Chung quanh mỗi dẫy nhà lại có một bức tường bằng gạch cao từ 2 mét tới hơn 3 mét. Mấy hôm sau tôi mới biết tường bao quanh có hai độ cao chênh lệch vì trại giam làm trên sườn núi, về phía sông Mã ở trước cổng trại đất thấp, vào sâu trong núi, đất cao. Từ dãy nhà dưới cùng là bếp tới dẫy nhà trên cùng tôi đang ở, độ cao chênh lệch đến hơn chục mét. Riêng cái sân chúng tôi ngồi buổi sáng được ủi bằng phẳng ngang với nền nhà bếp. Nhà chúng tôi ở độ cao nhất, nhưng phía sau dãy nhà vẫn còn một khu đất cao hơn nữa trước khi chạm vào lớp tường trong bao quanh toàn bộ các dẫy nhà. Ngoài lớp tường trong, là lớp tường ngoài cao hơn nữa. Hai lớp tường cách nhau dải đất rộng chừng 3 mét. Ở đầu dãy nhà, nhưng cách ra hơn 2 mét, là nhà ăn, chỉ gồm mấy cái cột và hai mái ngói ở trên, không có tường bao quanh. Trong nhà ăn kê 6 cái bàn dài, mỗi bàn ngồi được 6 người trên hai băng ghế. Tôi ra đẩy nhẹ cánh cửa của cổng ra vào khu nhà, nhìn xuống sân trại, và cổng trại, sâu hun hút, mấy chàng tù làm nhà bếp đang đi thu nhặt nồi xoong mấy dãy nhà tù mới đến. Một số bạn tù trong nhà tôi mang đồ ăn thừa đổ vào mấy chiếc xoong. Có người nói sao không để dành đến chiều. Chỗ ở chưa ổn định, chưa ngăn nắp, mọi người sợ đồ ăn đổ ra chỗ nằm. Vả chăng, chiều có đồ ăn chiều, lo gì! Nhưng chiều hôm đó tôi lại một phen “bé cái lầm”. Buổi chiều, mỗi tổ chỉ có hai xong đựng đồ ăn. Một xoong “xôi đậu xanh”, một xong chứa nước gì đen đen, sặc mùi mắm. Hóa ra, cái gọi là xôi đậu xanh kia là bắp trộn gạo, và chất nước đen đen là “nước chấm” mắm tôm. Nhiều chàng ngẩn ngơ, “hụt hẫng”. Miến và thịt sáng nay đổ hết rồi. Từ bữa trưa ngày hôm sau lại càng thê thảm, chỉ có khoai mì luộc và nước chấm. Với người ăn khỏe, mấy củ khoai mì không đủ cho một bữa, nhưng vẫn ngắc ngứ, ăn hoài không hết.

Mấy tháng sau, khi đã quen với các bạn tù hình sự, chúng tôi mới biết khía cạnh “khôi hài đen” của bữa trưa đầu tiên trên đất trại Thanh Cẩm. Câu chuyện cười, nhưng cười ra nước mắt. Cuộc sống trong tù rất thiếu thốn. Ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, nhất là đối với các bẹn tù hình sự Miền Bắc. Mấy bạn tù hình sự Thanh Cẩm càng đói rét vì đất trại là đất núi, chỉ trồng được khoai mì, thứ khoai mì kỹ nghệ. Ven sông Mã, có chỗ trồng được khoai lang, bắp, đậu phộng, đậu xanh. Khoai lang thì được ăn, nhưng củ khoai như đuôi chuột. Bắp cũng đượcc ăn, nhưng mỗi cái bắp teo như cổ tay trẻ 3 tuổi thiếu ăn, cùi bắp cõng chừng hai, ba chục hột bắp. Đậu phộng, đậu xanh để dành cho Ban Quản Trại. Lúa gạo hoàn toàn không cầy cấy được. Mà chủ trương của bọn Hà Nội là nhà tù phải tự túc ít nhất 30% lương thực, thực phẩm. Tiêu chuẩn 100% đã không đủ no, tự túc khoảng30%, 40%, tức là chỉ cấp phát 70% hay 60%,  lại càng thê thảm. Sau này, tù “Chính trị Miền Nam” còn có gia đình gửi quà tiếp tế, còn tù hình sự Miền Bắc đói triền miên. Cái buổi sáng đầu tiên ở trại, bọn Miền Nam được cho “ăn tươi”, tức là có thịt lợn (heo). Mấy ngày lăn lộn trên tàu, một ngày một đêm ngồi xe trên đường về trại, nhóm tù Miền Nam ai cũng mệt lử, chẳng thiết gì ăn, và tưởng như bữa cơm nào chẳng giống nhau. Cơm và đồ ăn đổ lại vào xoong rất nhiều.

Bình thường, các bạn tù hình sự gặp được mấy xoong đồ ăn đó sẽ tranh nhau mà ăn, ngay cả những bạn tù làm nhà bếp, một nơi no hơn những bạn dưới “làng”, cũng sẽ chia nhau. Nhưng lần này, mấy xoong đồ ăn bỏ chổng trơ, không bạn nào dám mó đến. Nhà bếp bàn nhau không biết đổ đi đâu chỗ đồ ăn này. Đổ vào nồi cám lợn ăn, không được. Lỡ lợn chết thì sao. Đổ vào hố rác trại dùng làm phân bón, cũng không được, cây cũng chết vì chất độc. Các bạn tù hình sự khi ở ngoài đời, có bạn bắn nhau với công an, có bạn chửi nhau tay đôi với đảng viên, với viên chức chính quyền, nhưng họ có cùng chung một niềm tin với toàn bộ xã hội, rằng “bọn ngụy” này nguy hiểm lắm. Họ tin rằng bữa cơm ngon như vậy, trong trại giam cả năm mới có một lần, ngoài xã hội cũng không phải dễ có miếng thịt mà ăn, vậy mà bọn ngụy không ăn, tức là chúng bỏ thuốc độc, đánh lừa “ta”, hại ta. Ít lâu sau, khi đã biết rõ hơn “bọn ngụy”, các bạn tù hình sự ngồi ôn lại bữa cơm trưa hôm đó, vừa cười vừa tiếc. Sự tuyên truyền của cộng sản thật khủng khiếp. Cả một xã hội bị bịp. Thành phần chống lại trật tự xã hội cũng bị bịp. Họ tin rất thật tình vào những điều bịp bợm đó.

3 dòng thác cách mạng

Cuộc sống hàng ngày ở trại giam Thanh Cẩm: Mỗi sáng, vào lúc 6 giờ, 9 tiếng kẻng đánh thức tù nhân. Cán bộ Trực Trại kéo chàng tù “trật tự” đi mở khóa các phòng. Mọi người ra sân xếp hàng, cán bộ đếm số người. Rồi tù nhân tập thể dục. Trong khi đó, tù nhà bếp khênh lên thùng nước sôi để uống, có khi thêm một xoong mấy củ khoai mì, khoai lang cho bữa sáng. Thường một năm có độ hai, ba tháng có ăn sáng, là lúc trại “thu hoạch” mùa màng. Độ 7 giờ, 3 tiếng kẻng tập họp dưới sân trại, mỗi đội ngồi 2 hay 3 hàng, chờ “xuất trại’ đi làm. Mùa hè, trời sáng sớm hơn, giờ giấc của mọi chuyện cũng sớm hơn 30 phút, 5 giờ rưỡi đã phải thức dậy. Bọn tù Miền Nam mới đến, được mấy tuần lễ không theo lịch trình đó. 9 giờ sáng mỗi ngày tập họp tại Hội Trường học tập chính trị. Hội trường là một ngôi nhà lớn, mái lợp bằng các tấm nhựa đen, không có tường bao quanh, cũng không bàn ghế, ngồi bệt xuống đất được chừng hơn 300 người. Sau này, hội trường mở rộng, chứa được 500 đến 700 người. Cuối hội trường là sân khấu, nơi trình diễn văn nghệ, nơi giảng viên đứng giảng bài.

Ở trại giam Long Thành chúng tôi đã phải nghe thuyết giảng mấy bài về chính trị, ra đến trại giam Thanh Cẩm, lại cũng học tập mấy nội dung như vậy. Tôi chỉ nhớ được một đề tài là “Ba dòng thác cách mạng”. Hồi ở Long Thành, tôi có thấy lác đác trong báo chí hồi đó, chắc là báo Nhân Dân, nói về những phát biểu của Lê Duẩn sau khi chiến thắng ở Miền Nam, rằng thắng lợi của Miền Bắc là tất yếu, bởi vì đó là xu hướng chung của “3 dòng thác cách mạng thế giới”. Việt Nam (Cộng Sản Hà Nội) đã phát huy được khí thế của 3 dòng thác này, áp dụng sách tạo vào trường hợp Việt Nam. Thời gian qua, tôi không còn nhớ gì về mấy “lời thánh, tướng” của Lê Duẩn. Nhưng vẫn nhớ nhóm chữ “3 dòng thác cách mạng”, vì tại trại giam Thanh Cẩm, anh chàng giảng viên, Trung Úy tên Tuy, đã nói nhiều điều buồn cười khi giảng về mấy “cái thác” này. Chàng phân tích, theo “lời dậy của đồng chí Tổng Bí Thư Lê Duẩn”, 3 dòng thác cách mạng đó là: Về Quan Hệ Sản Xuất, Về Văn Hóa Tư Tưởng, Về Khoa Học Kỹ Thuật. Trong một lúc cao hứng, chàng vung tay chỉ ra phía cổng trại nói: Đây, các anh thử xem, hãy thử hỏi một em bé đang chăn trâu ngoài kia (tứ là bờ bên kia sông Mã), nó sẽ giải thích cho các anh biết “tia la de” là gì. Trẻ con Miền Bắc chừng 4, 5 tuổi đã học biết nhiều thứ về khoa học kỹ thuật mà ngay chính các anh cũng không biết. Đó là “dòng thác cách mạng về khoa học kỹ thuật” đấy. Cứ cái kiểu giảng như vậy lại khiến tôi nhớ được “3 dòng thác” của chàng, và nhớ cả tên chàng là Tuy, Trung Úy Tuy, chính trị viên. Sau này chàng lên Đại Úy, rồi biến mất. Nghe đồn, chàng bất mãn nên bị cho nghỉ. Có lẽ chàng là người có học nhất trong đám cán bộ ở trại, vì thế thấy nhiều điều lố bịch của chế độ, của nhà nước, sinh ra “ăn nói bậy bạ”, cho nghỉ là phải rồi. Người ta cần những con trâu bảo sao nghe vậy, chứ đâu cần mấy “trẻ chăn trâu biết về tia la de!”

Trong tháng đầu tiên ở Thanh Cẩm, mỗi sáng chúng tôi “cắp sách” xuống hội trường học tập. Thứ Bảy, Chủ Nhật nghỉ. Giảng viên duy nhất là Trung Úy Tuy. Anh ta mở đầu là buổi học tập về “Nội Qui Của Trại”, tức là những qui định các tên tù phải tuân theo. Đó là những điều ít khi được thi hành vì có mấy ai để ý đến, nhưng lại hay được cán bộ viện dẫn khi bắt phạt phạm nhân. Sau đó là 9 bài giảng. Cứ theo mấy bài giảng này, tôi mới nhận chân được con người mình, nhìn rõ dung nhan mình. Tôi là một tên tội lỗi vô cùng, mà không phải chỉ là tội lỗi, mà là tội ác. Tôi ác quá mà tôi không biết. Xin cảm ơn Tung Úy Tuy (không cảm ơn Trời Phật). Đại khái 9 bài giảng toàn những luận điệu như thế, trong đó, đặc biệt có 3 dòng thác của cậu bé chăn trâu bên dòng sông Mã. Sau này tôi biết cả năm cũng không tìm ra cậu bé nào chăn trâu bên kia sông, vì trâu bò quí lắm, dễ gì mấy nhà bên kia sông có được.

Mỗi buổi sáng nghe giảng chính trị chừng 2, 3 giờ đồng hồ. Buổi chiều họp tổ, thảo luận. Trời mỗi ngày một lạnh thêm, được ở loanh quanh trong phòng là sướng rồi. Sau hơn 3 tuần lễ học tập, thảo luận tổ, đến đợt khai báo lý lịch cá nhân, công ăn việc làm, tư tưởng, hoạt động, gì gì đó của tôi trước 1975. Tôi lại không rõ tôi thuộc chi nào trong số các con của vua Hùng Vương thứ 18, nên chỉ khai được lý lịch cái bản mặt tôi. Và cứ cái kiểu kết tội Mỹ Ngụy, thí dụ hồi tôi mới học lớp Đệ Thất trung học, đã bị bọn bạn bè trong lớp ép nghe kể chuyện nó đọc tromg sách “Ái Tình Bửu Giám”. Đó là tội ác của Mỹ Ngụy. Lúc tôi học Đệ Thất trường Trần Hưng Đạo là năm 1956. Do hoàn cảnh di cư, một số học sinh trong lớp đã lớn tuổi cũng được vào học. Có mấy bạn 17, 18, 19 tuổi học chung với chúng tôi. Đúng là “nhất quỉ, nhì ma, thứ ba là các chàng đó”, bầy đủ thứ trò bây bạ, kể cả “bình phẩm” các cô giáo. Để câu giờ khai báo, tránh cái cảnh đi lao động trong trời mưa rét, tôi cứ khai báo cái kiểu đó. Chuyện nọ lằng nhằng chuyện kia, toàn những chuyện ấm ớ, kéo dài được hơn 1 tháng, trong khi mấy bạn khác chỉ cần 1 tuần là “hết chuyện.” Nhưng thiên bất dung gian. Cái kiểu quen với việc viết lách có thứ tự lớp lang, mạch lạc, dù là chuyện tầm phào, tôi bị mấy quan ở Bộ Nội Vụ “đánh giá cao”, họ cử mấy anh cao cấp về Thanh Cẩm cho tôi “làm việc” hai lần, mỗi lần cả tuần lễ và lâu hơn. Chuyện này kể sau.

Các chú chán bỏ mẹ

Chúng tôi từ Trại giam Long Thành đến Trại giam Thanh Cẩm vào ngày 6 Tháng 12, năm 1976, tức ngày 16 Tháng 10 năm Bính Thìn, hai tháng rưỡi sau là Tết Đinh Tỵ. Tết đến, tù được “liên hoan”. Một tiết mục liên hoan là xem trình diễn văn nghệ của trại, do “Đội Văn Nghệ” gồm những tù nhân trong trại. Trại giam chúng tôi gồm 8 dãy nhà như nói ở trên. Đó là “khu A”, tên chính thức là K1. Toàn bộ trại Thanh Cẩm còn khu giam giữ tù hình sự nữa, là “Khu B”, gọi là K2. Đội Văn Nghệ là của Khu B. Một buổi tối, mấy chàng Quản Giáo điệu chúng tôi xuống hội trường. Ở đó đã ồn ào, xôn xao cả mấy trăm chàng tù hình sự. Ánh đèn chập choạng trên sân khấu không chiếu đủ sáng xuống lớp khán giả ngồi bệt xuống đất dưới này, tôi chỉ thấy lao xao tiếng nói, chưa nhận biết được mặt người. Một lúc, ánh lửa từ đóm hút thuốc lào lóe lên, ủa, có cả tù phụ nữ, “tù gái”. Các nàng xoạc hai chân ra, cái điếu cầy bằng ống tre chống xuống đất, hai đầu gối kẹp lại, một tay viên nhúm thuốc lào cho tròn, nhét vào nõ điếu, xong, vẫn bàn tay đó cầm cái đóm, tay kia bật lửa (quẹt máy). Rồi, nàng làm một hơi dài, tiếng nước ùng ục, tiếng không khí qua nõ điếu rít lên ròn tan. Phào, nàng thở từ từ ra, làn khói trắng cuồn cuộn lan vào không gian, cuồn cuộn như 3 dòng thác cách mạng. Có lẽ đây là dòng thác thứ tư của Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa. Trời tối, không nhìn rõ mặt người, tôi đoán rằng khuôn mặt kiều diễm đang đê mê, đôi mắt lim dim, quên hết sự đời. Đôi đầu gối lại xoạc ra, lâu lâu mới khép một lần khi “làm” một “bi”. Không biết mấy tù gái này ở khu nào trong trại. Sau này cũng không thấy xuất hiện. Nghe nói trước đây còn một khu nữa là Khu C, gọi là K3, lo việc canh nông, trồng trọt, nuôi cá là chính. Sau này giải tán khu đó. Hay là các nàng tiên nữ phạm nhân ở khu đó, rồi chuyển đi trại khác. Lại nhớ Phạm Duy: “Trời đầy cô tiên nữ xuống trần gian …”

Ngồi vừa “ấm chỗ”, mấy bạn tù hình sự nói với qua làm quen. Một bạn phán, chán các chú bỏ mẹ! Cứ mong các chú ra giải phóng ngoài này, lại để chúng nó giải phóng các chú!

Sau này, giao tiếp nhiều hơn, mấy chàng tâm sự. Họ nghe nói “Bắc Tiến”, tất cả đều mừng. Họ chờ đợi, chờ hoài cũng không thấy ai “tiến ra” cả. Đến lúc Mỹ dội bom Hà Nội, đầu hàng đến nơi rồi, họ lại mừng. Cũng chẳng có ai ra “tiếp thu’ Hà Nội. “Chẳng nước mẹ gì cả”. Rồi, một ngày, giữa sân trại dựng tấm bảng to tướng, “bản đồ tiến quân của ta”. Cứ mỗi ngày lại thấy thêm mũi tên đỏ báo chiếm được đến đâu ở cái phần đất nước Miền Nam. Cuối cùng, xong! Hết rồi ước mơ “được Miền Nam Giải Phóng”. Lại gặp các chú ở đây, đúng là “chán bỏ mẹ!”

Đôi ủng

196 tù chính trị Miền Nam đến trại giam Thanh Cẩm đầu tháng 12, 1976. Ban Chỉ Huy Trại chia nhóm này thành nhiều đội, nhân số các đội không đồng đều. Tôi không nhớ gồm những đội nào. Tôi thuộc “Đội 2”, khoảng hơn 20 người. Mỗi đội có một tên công an trông coi, gọi là “Cán Bộ Quản Giáo”. Quản Giáo hoặc một tay cán bộ từ Ban Chỉ Huy lo về anh ninh, hoặc Cán Bộ Trực Trại, cử một phạm nhân trong đội là “Đội Trưởng”, và một phạm nhân làm phó, hay phụ tá cho Đội Trưởng, gọi là “Thư Ký Đội.” Cán Bộ Trực Trại là tay cán bộ trông coi toàn bộ khu giam giữ tù nhân. Muốn đưa một phạm nhân ra khỏi trại, hay đưa vào nhập trại, những tên công an liên hệ phải báo cho Cán Bộ Trực Trại biết, phải được sự đồng ý của Trực Trại. Trực Trại trông coi mọi sinh hoạt của phạm nhân trong trại, cử công an canh giữ cổng ra vào, điều động công an tuần tiễu khu nhà giam hàng đêm. Trước Tết Đinh Tỵ, 1977 chừng 10 ngày, các đội tù Miền Nam bắt đầu đi lao động. & giờ sáng tập họp dưới sân cùng với các đội hình sự bên dãy nhà lá. Các đội trưởng báo cáo nhân số cho Cán Bộ Quản Giáo, và Cán Bộ Trực Trại. Trực Trại hoặc tay công an dưới quyền đếm số người xuất và nhập trại. Một khi ra khỏi cổng, thẩm quyền phạm nhân thuộc về Quản Giáo. Quản Giáo thường đeo súng ngắn, có mấy tay công an vác súng dài đi theo giúp trông coi phạm nhân tại nơi lao động, gọi là “Cán Bộ Bảo Vệ”. Tôi cũng chưa tìm hiểu xem hai chữ bảo vệ này có ý nghĩa gì, bảo vệ cán bộ hay bảo vệ phạm nhân. Quản Giáo là thường xuyên, theo sát từng phạm nhân suốt thời gian làm quản giáo. Còn Bảo Vệ, thay đổi hàng ngày, nay theo đội này, mai theo đội khác. Các đội phạm nhân xuất trại lúc từ 7 giờ sáng trở đi, thường đội làm xa đi trước. Đến 11 giờ 30 hay 12 giờ về trại, ăn cơm trưa. Đến chừng 1 giờ  hay 1 giờ rưỡi trưa, lại xuất trại, và khoảng 4 giờ rưỡi hay 5 giờ chiều về trại. Tắm rửa dưới sông, lên xếp hàng nhập trại.

Mấy tháng đầu, họ cho Đội 2 làm mấy việc tạp dịch, dọn dẹp vệ sinh trong toàn bộ  khuôn viên Trại Thanh Cẩm, khu hành chính, khu nhà kho. Đôi khi họ cho ngồi bóc vỏ đậu phộng. Và anh em bắt đầu ăn đậu phộng sống, lén lút nhai tại chỗ chứ không dám dấu diếm mang vào trại. Hoặc công an, hoặc phạm nhân được cử làm Trật Tự, khám phạm nhân rất kỹ trước khi nhập trại. Ăn sống đậu phộng, bắp hạt, lạ thay, chẳng thấy ai kêu đau bụng. Có một lần làm tạp dịch tôi nhớ đời, đó là chuyện “vớt luồng”. Luồng là cây họ “tre”, giống cây tre nhưng thân cây to hơn, Người ta dùng luồng để làm nhà. Trước hết người ta ngâm cây luồng xuống lớp bùn của một cái ao nào đó, thời gian khoảng 6 tháng tới một năm. Bùn thấm vào luồng, mấy chú mọt quen đục rũa gỗ, tre, chết hết, sau này cũng chẳng chú nào dám bén mảng đến cây luồng đã ngâm bùn. Mùa đông năm đó họ cho vớt mấy cây luồng ngâm tại một cái ao từ bao giờ không biết. Trời lạnh như cắt, càng lạnh đối với bọn tù Miền Nam quen thời tiết xứ nóng. Chúng tôi phải cởi hầu hết mấy cái quần dài đang mặc. Nhiều vị có tuổi, mặc đến 3 cái quần dài mới chống nổi khí lạnh. Bây giờ cởi hết ra, trần sì còn lại quần đùi. Hàng tạ vớ cũng phải tháo ra, đôi chân trần lội xuống nước ao. Rồi áo ấm cũng phải cởi bớt nếu không muốn bùn làm bẩn áo. Cứ thế, lần mò trong đám bùn, tìm mất cây luồng nặng chịch, 5, 6 mống tù hè nhau vớt, khênh lên bờ. Tên Quản Giáo mở lòng nhân từ (hay là sợ tù toi mạng?), cho đốt đống lửa, mỗi tên tù làm chừng 25 , 30 phút được cho lên bờ, hơ tay, chân vào lửa ấm. 5 phút sau, xuống lại chốn địa ngục giá băng. Đôi bàn chân lại mò tìm trong bùn, đụng phải cây luồng, hò nhau thò tay lần tìm từ đầu đến cuối thân cây. Chao ôi là kinh khủng, không còn biết chân mình, tay mình ở đâu, có còn liên lạc với thân thể, khối óc mình hay không. Nỗi ám ảnh chuyện ngâm chân, tay trong tảng băng theo mãi trong tôi. Suốt mùa đông, niềm sợ hãi kinh hoàng vớt luồng gậm nhấm trí tưởng thằng tù khổ sai. May mắn, tôi không lần nào gặp lại công việc đó. Hoặc họ giao chuyện đó cho các bạn bên tù hình sự, quen khí lạnh Miền Bắc. Sau buổi sáng vớt luồng, tay chân một số tù Miền Nam xưng đỏ lên, phải nghỉ nhà mấy ngày.

Khoảng 4 tháng sau khi đến trại, đã quen với sinh hoạt và lao động của trại, cán Bộ Quản Giáo cho biết Đội 2 sẽ là “Đội Xây Dựng”. Một đợt thay đổi nhân sự, người Đội 2 đi đội khác, người đội khác vào Đội 2. Mấy tháng rồi, tôi quan sát đội xây dựng bên hình sự có một công việc thú vị, đó là đánh vữa. Theo quan niệm cố hữu, việc đó là công việc nặng nhọc, so với những tay làm thợ xây, gánh vữa. Tay Quản Giáo cho bọn chúng tôi tự chọn việc, hoặc làm thợ xây, hoặc gánh cát, gánh nước, gánh vữa, và trộn vữa (trộn hồ). Khi không đủ theo cấp số, tay Quản Giáo mới chỉ định công việc. Không ai nhận công việc nặng nhọc là trộn hồ, tôi xung phong. Mấy điều khiến tôi chọn việc nặng này là, làm xong việc thì nghỉ. Xong việc nghĩa là lúc nào cũng có vữa (hồ) sẵn cho thợ xây làm việc. Nếu họ xây nhanh, tốn nhiều vữa, phải làm nhiều, họ xây chậm, hoặc ít thợ, việc của tôi nhẹ nhàng hơn. Ngoài ra, người trộn vữa được cấp phát đôi ủng, mỗi năm một đôi, để đạp vôi cho nhuyễn. Mùa đông gió lạnh, mưa phùn, lạnh buốt, tôi là tên duy nhất được đi ủng, đôi chân ấm áp từ lúc ra khỏi phòng đi làm đến khi vào phòng buổi chiều tối. Một điều thú vị nữa là, dù trời mưa hay nắng, tôi làm việc dưới mái che. Sân vữa cần mái che để nắng không làm vữa mau khô, trời mưa có mái che, không cho nước mưa vào, làm vữa nhão. Và, tôi có quyền đốt một đống lửa nhỏ ngay cạnh sân vữa, có thể đun “gô” nước sôi uống cho ấm, ngồi sưởi ấm khi gió lạnh thốc từng cơn. Nhờ đống lửa, tôi lấy thùng sắt dùng gánh nước đun cho nóng, rồi mang xuống ven sông, hoặc vào khu nhà nào đó, tắm nước nóng. Trời ơi, mùa đông tắm nước nóng, tôi không nghĩ mấy tay công an làng nhàng vác súng dài được hưởng cái thú đó, ngay cả mấy tay cao cấp, dễ gì được như vậy hàng ngày.

Xin mô tả kỹ hơn việc trộn vữa. Vữa, tiếng gọi khác là hồ. Phu hồ, là người trộn hồ, tức trộn vữa. Để làm vữa, cần cát, vôi, nước. Đôi khi, rất hiếm khi, cho thêm xi măng, hoặc thay vôi bằng xi măng. Nước, có người chuyên lo việc đó, gánh nước từ sông lên để sẵn mấy thùng cạnh sân vữa, theo nhu cầu tôi tính toán. Vôi, cũng có người gánh vôi từ hố vôi của trại, đổ vào bãi vữa, nhiều ít, theo nhu cầu. Cát, hoặc có người gánh cát, hoặc có người kéo xe cát, đến đổ vào bên cạnh bãi vữa. Sau này, tôi chia sân vữa thành 2 sân nhỏ. Vữa trộn xong, để vài tiếng đồng hồ, sẽ dẻo hơn, hoặc tính kết dính của vữa tăng lên, giúp thợ xây làm việc dễ dàng hơn. Như thế, trước khi kết thúc ngày làm việc, tôi đã có sẵn một sân vữa nhỏ. Ngày mai, ra chỗ làm, tôi chỉ thêm ít nước, đảo chỗ vữa cũ, là vữa đã sẵn sàng. Sau đó, tôi tà tà làm chỗ vữa để dành cho chiều, hoặc hôm sau. Các bạn gánh vôi, gánh nước, gánh cát không phải làm “khẩn trương”, có thể tà tà theo nhịp làm việc của tôi. Khi ít thợ xây, khi công trình xây cất không gấp, một mình tôi trộn vữa cũng được. Khi cần nhiều vữa, tôi có thêm một bạn tù phụ tá, có giai đoạn cần 2 bạn phụ tá. Công việc của tôi là dùng cào, loại cào là một bản bằng sắt, không phải cào có răng, cào vôi ra, lấy chân đi ủng dẵm nát vôi, thêm từng chút nước cho thành chất sền sệt, rồi dùng sẻng xúc cát đổ vào sân vữa, từng chút một, trộn với nước và vôi, sao cho thành một chất vữa vừa đúng mức, để thợ xây dùng. Xúc cát, dẵm vôi, cào vữa để trộn đều, đúng là một công việc nặng. Gặp khi công việc đòi hỏi, thợ xây “gào” vữa, mùa đông mà tôi cũng đổ mồ hôi. Nhưng nếu mấy tay thợ xây phải làm 6, 7 tiếng một ngày, tôi thường chỉ làm chừng 2 tiếng đồng hồ. Nhiều khi làm có một tiếng, nửa tiếng cũng xong. Thực ra, mấy tiếng “gào” cũng chỉ là trò biểu diễn để bọn công an tưởng là bọn tù này làm việc “nghiêm túc”. Thời giờ rảnh, tôi làm gì thì làm, tên Quản Giáo, mấy tên Bảo Vệ để tôi yên thân, không ai có thể yêu cầu tôi làm thêm việc gì khác. Rồi đi tắm trước, ngồi la cà bên đống lửa, làm điếu thuốc lào, húp ngụm nước trà hay nước nóng. Mấy bạn gánh nước, gánh vôi ghé qua ngồi ké đống lửa, phê điếu thuốc lào. Nhưng nếu gặp ngày tên Quản Giáo khó chịu, thấy mấy chàng ngồi, kêu đi làm việc khác. Nhưng tôi thì không. Tôi phải gánh vác “Việc nặng nhất” của đội mà. Suốt 6 năm đầu ở Trại Giam Thanh Cẩm, tôi làm một việc đó. Đầu năm 1983, sau nhiều đợt thả tù mấy năm qua, và sau 2 đợt di chuyển tù vào Nam, số tù Miền Nam còn lại chưa đến 100 người. Lúc đó, họ dẹp Đội Xây Dựng của tù Miền Nam. Họ cho chúng tôi vào Đội Hồ Tiêu. Từ giã mái che sân vữa. Nhưng tôi vẫn còn giữ được đôi ủng. 6 năm, tôi được cấp phát 4 lần ủng. Sau một năm, ủng đâu đã hư. Một bạn nào đó có đôi bàn chân nhỏ bé, có thể được hưởng đôi ủng cũ của tôi. Về sau, họ hạt tiện, 2 năm hay một năm rưỡi mới cho thay ủng một lần.

Khoảng Tháng 3, Tháng Tư năm 1977, người ta rời hết tù hình sự ở 3 dẫy nhà tranh bên trái trại qua Khu Trại Giam B, cách Khu A này chừng hai cây số. Họ cho phá mấy dãy nhà đó. Đội Xây Dựng của các bạn hình sự được giao việc xây cất mấy dãy nhà gạch trên nền đất nhà tranh cũ. Sau đó, Đội 2, Đội Xây Dựng của nhóm Tù Miền Nam được đưa vào làm chung. Đến dẫy nhà thứ 3 từ dưới lên, Đội Xây Dựng hình sự không còn thấy vào làm việc, Đội 2 hoàn toàn đảm nhận việc xây nhà, tiếp tục cho đủ 3 dẫy nhà gạch, mái ngói, khu bên trái. Giữa năm 1978, 7 dẫy nhà trong khu Trại Giam A, gọi là “Khu K1”, đều là nhà gạch, cũng là lúc đón các bạn tù Miền Nam từ Trại Quân Đội, hoặc từ mấy trại Miền Bắc gần biên giới Tàu, về trại Thanh Cẩm. Trại Giam A nhốt toàn tù Miền Nam. Rồi đến đợt gần 40 ông Linh Mục về trong năm 1979, Trại Thanh Cẩm, Khu A, nhốt đến gần 800 tù Miền Nam.

Có giai đoạn nhân số Đội 2 tăng lên gần 30 người, khoảng 12 thợ xây. Tức là trại có những công trình “khẩn trương”.  Bình thường cứ 2 thợ xây cần một thợ phụ lo gánh vữa, gánh gạch đến nơi 2 thợ làm việc. Với 12 thợ xây, cần 2 người gánh vôi, 2 người gánh nước, 2 hoặc 3 người trộn vữa. Có một đội vận chuyển cung cấp vôi, cát, gạch đá cho đội xây dựng. Ngoài chuyện xây dựng bình thường, Đội 2 đã trải qua 3 công trình to lớn và “khẩn trương”. Tôi không nhớ rõ lắm thời gian diễn ra  công trình này. Có thể giữa năm 1978, chúng tôi phải xây lại khu nhà kiên giam, cuối năm 1978, đầu 1979, chúng tôi phải xây hồ chứa nước cho trại. Công trình này sau bỏ dở, có lẽ họ tính toán sai, hoặc không thực dụng, hoặc không có kinh phí. Và đầu năm 1980, chúng tôi xây lại cổng ra vào trại bằng bê tông cốt sắt, bên trên là tầng lầu dùng làm nhà ở cho Trực Trại.

Khi mới đến trại giam Thanh Cẩm (Khu K1), tôi chú ý một ngôi nhà nhỏ, mái có vẻ như làm bằng mấy tấm nhựa đen, ở mãi tít trên cao, sau 3 dãy nhà tranh nhốt tù hình sự. Đó là khu “Kiên giam”, nhà cửa xây kiên cố. Ngôi nhà có mái đen sau này nghe gọi là “Nhà Đen” tôi nhìn thấy từ dưới sân trại không phải là ngôi nhà độc nhất trong khu kiên giam, còn một ngôi nhà nữa có mái bằng ở sâu bên trong. Tường bao quanh toàn bộ khu kiên giam rất cao, khoảng 2 mét rưỡi tới 3 mét, nên phải đứng ở cổng vào khu này mới thấy nhà mái bằng. Tôi vẫn nghe nói “Nhà Kiên Giam”, rồi “Nhà Kỷ Luật”, thực sự không biết nhà nào có tên nào, và tính cách nhốt tù trong hai nhà đó khác nhau ra sao. Bên ngôi nhà đen tôi không rõ, bên nhà mái bằng gồm 8 phòng nhỏ, mỗi phòng có một sạp cao xây bằng gạch đá, mặt trát xi măng. Mỗi sạp đó đều có gắn thanh sắt dài, lủng lẳng mấy chiếc còng. Tù nhân bị nhốt kiên giam suốt ngày, suốt đêm bị còng chân vào thanh sắt đó, nhẹ thì còng một chân, nặng thì còng hai chân. Mỗi sạp nằm được hai hay ba người, nhưng ít khi họ nhốt chung như vậy. Sau này, khi nhốt mấy vị linh mục, họ cho ở chung. Tường chung quanh nhà kiên giam xây bằng đá, bề dày khoảng gần 1 mét. Tường ngăn cách các phòng cũng bằng đá, dày gần nửa mét.

 Sau hơn một năm “hành nghề xây cất”, Đội 2 có vẻ được “tín nhiệm”, nên bọn Ban Giám Thị trại giao việc xây lại Khu Kiên Giam. Lạ thật. Mình từ Miền Nam ra đây, xây nhà cho các bạn tù Miền Nam khác về ở, bây giờ lại xây khu kỷ luật nhốt các bạn tù Miền Nam “vi phạm kỷ luật”. Tự đút đầu vào tù, rồi lại tự xây nhà tù nhốt mình. Thế là thế nào nhỉ.

Có lẽ bọn công an trại chuẩn bị đón một số nhân vật đặc biệt vào khu kiên giam, nên cho xây lớn hơn, nhiều phòng hơn, sức chứa nhiều hơn, mái đổ bê tông. Sau này quả thực khu kiên giam đón các vị linh mục, sau nữa, là mấy nhân vật nổi tiếng như Đoàn Viết Hoạt, Phan Nhật Nam.

Khu kiên giam còn được nới rộng hơn nữa ở mấy năm sau, 1981, 1982. Phía sau dãy nhà trên cùng ở bên phải, hình như gọi là “Buồng 4”, còn một khoảng đất rộng trước khi đến bức tường trong, cao chừng 2 mét rưỡi đến 3 mét, bao quanh trại. Bên ngoài bức tường trong là một bức tường nữa cao chừng 5, 6 mét, trên có hàng rào kẽm gai. Một lối đi giữa hai bức tường rộng chừng 3 mét. Sau bức tường ngoài là đường đi hoặc đất còn bỏ hoang. Trong 7 năm ở Thanh Cẩm, tôi thường được ở “Buồng 4”. Đúng ra, giai đoạn 2 năm đầu, cứ vài tháng họ lại xáo trộn người trong mỗi đội, chuyển từ đội này qua đội khác. Mỗi đội cũng phải chuyển phòng (tức là các dãy nhà), vài tháng một lần. Bất ngờ một hôm nào đó trại cho tù Miền Nam nghỉ đi làm, ở nhà. Rồi một lũ công an ào vào các buồng, hò hét tù mang đồ đạc cá nhân ra bày ngoài sân nhà. Họ kiểm soát, xem xét từng tý mớ đồ đạc hỗn độn này, tịch thu những thứ họ cho là nguy hiểm, mảnh sắt, cái đinh, lọ muối, … Sau đó, thường là đổi buồng. Kể từ năm thứ 3, 1979, trở đi, nhịp độ “bày hàng”, chuyển buồng chậm lại. Tôi, tức là Đội 2, hay được ở “Buồng 4”, hoặc “Buồng 3”, hoặc qua dãy nhà bên trái, ở “Buồng 7”, cũng là buồng ở trên cao. Từ dãy buồng trên cao này, chúng tôi hay ra khu đất cao trên cùng, gần ngang với khu đất Kiên Giam. Khu này khá rộng vì theo chiều rộng cái sân giữa trại ở bên dưới. Buổi chiều, từ khu đất cao này, tôi ngắm được những dãy núi xa xa phủ kín màu xanh của rừng lim, rừng trẩu. Hoa trẩu nhìn từ xa, một màu trắng toát, tưởng như tuyết phủ đầy sườn núi. Ngay trước cổng trại, chạy thoai thoải xuống độ sâu chừng 20 mét, là dòng sông Mã. Bên kia sông Mã là giải đất hẹp dưới chân núi cao chắn ngang như tường thành, vài nóc nhà dân cư, nghe nói hầu hết là dân Hà Nội, sau 1954, “đi kinh tế mới’ vào đây.

Có lẽ khoảng năm 1981, khu đất thênh thang tôi thường ra đứng ngắm núi rừng, bị chiếm dụng để nới rộng khu kiên giam, hay khu kỷ luật. Một dãy nhà chia thành nhiều phòng nhỏ do Đội 2 xây nên, chạy dài theo chiều ngang sân trại. Mỗi phòng một cửa ra vào bằng song sắt. Bên trong cũng bệ xi măng, cũng thanh sắt cùm. Dãy nhà đó cũng có tường cao bao quanh như khu kiên giam. Cho đến năm 1984, dãy nhà kiên giam này chưa có khách, ngoại trừ một bạn tù bị nhốt lẻ loi trên đó, tôi nhớ vào cuối năm 1982. Bạn tù hình sự tên Chiến Chàm, có vết vẽ màu chàm ở thân thể, tay chân. Bạn bị bệnh bao tử, trại chỉ cho ăn toàn sắn (khoai mì). Cuối cùng bạn qua đời vào một đêm mùa đông. Mấy ngày liền bạn kêu la thảm thiết vì bao tử hành, van xin một chút cháo trắng. Tiếng van xin ai oán len vào cửa sổ buồng 4. Bọn tù chúng tôi tìm được gạo nấu bát cháo trắng, nhưng Trực Trại cấm mang cho chàng. Đến đêm thứ tư, tiếng van xin im bặt. Sáng ra, khi mở cửa buồng, Trật Tự báo tin chàng đã chết. Thân thể cứng đờ, lạnh cóng. Ở một đoạn khác, tôi sẽ nhắc lại về bạn Chiến Chàm.

Viết xong mấy dòng trên, tôi không tránh được chuyện thêm mấy chữ sau đây: Sống qua những nhà tù cộng sản, nhất là ở Miền Bắc, một sự thực hiển hiện tôi nhận ra được, là sinh mạng một con người trong nhà tù này, cả ở ngoài xã hội của chế độ cộng sản, không bằng một con chó. Mạng người rẻ lắm. Mạng người như một thứ rác rưởi, nhiều khi người ta muốn phủi tay, vứt đi cho rảnh. Giữ lại chỉ “rách việc.”

Tôi mới đi qua một “công trình” lớn của Đội 2, Đội Xây Dựng, là Khu Kiên Giam. Bây giờ tôi kể về công trình lớn khác, xây cất khu “Cấp Thủy”. Thực ra, tên dự án này là gì tôi không biết, tôi dùng hai chữ Hán Việt đề huề “Cấp Thủy’ cho nó oai, cho rõ tính chất “công trình lớn” của trại.

Trại giam Thanh Cẩm nằm trong xã Cẩm Thành, cách huyện lỵ huyện Cẩm Thủy khoảng trên, dưới 20 cây số. Tôi nhớ mài mại trại giam này nằm trong đất làng Chiềng Chàm, nơi có hơn 90% là người Mường. Sau này người ta gọi huyện lỵ Cẩm Thủy là Thị Trấn Phong Sơn. Tôi không rõ con đường xe chạy từ Phong Sơn về xã Cẩm Thành có đi qua đất trại giam Thanh Cẩm hay không, nhưng tôi biết rõ con đường dân chúng đi lại tại địa phương có xuyên qua đất trại. Con đường đó chạy qua ngay sau lưng khu trại giam K1, tức Khu A, là nơi giam giữ chúng tôi, giữa bức tường cao bao quanh trại giam và chân núi đá vôi. Khi có người nhà đến thăm nuôi, từ cổng trại khu K1, chúng tôi có thể thấy người đi bộ, hoặc ngồi xe trâu đi trên con đường đó, chạy vòng theo sườn đồi, trên cao. Dọc theo con đường đó về phía đông là khu trại giam K2, đi về phía tây là những khu làm gạch, gọi là lò gạch, và mấy khu sản xuất khác của trại giam. Con đường này của địa phương rất rộng, xe hơi đi lại thoải mái, khiến tôi thắc mắc rằng nó có nối kết hay không với tỉnh lộ 217 là con đường lưu thông với phía Lào. Khi đã bị nhốt lâu khoảng 5, 6 năm, “đủ thân” để tôi gạ chuyện, một anh công an mới vào ngành, còn quá trẻ, úp mở nói rằng, từ trại, cứ đi về hướng tây chưa đến 20 cây số là đã tới đất Lào. Tuy nhiên sẽ phải vượt qua “cả ngàn” rặng núi. Trở lại với “công trình” lớn thứ hai của Đội 2 Xây Dựng, công trình đó nằm ngay sát con đường đi về thị trấn Phong Sơn, khoảng giữa K1 và K2, cách khu K1 khoảng 1 cây số, cách khu K2 xa hơn một chút. Tôi hy vọng có thể mường tượng đúng vị trí các nơi của toàn bộ trại giam Thanh Cẩm.

Con đường tôi mô tả ở trên có đoạn song song cùng sông Mã. Bọn Ban Giám Thị trại dự trù xây bồn chứa nước khổng lồ trên một ngọn đồi cao, một bên sát với sông Mã, một bên cách con đường đi khoảng 100 mét. Họ dự trù đào sâu xuống đất ở đỉnh ngọn đồi, rồi đổ bê tông cốt sắt, xây lên thành bồn chứa nước, từ đó chạy ống nước đi khắp trại. Họ sẽ dùng máy bơm nước từ sông Mã lên bồn chứa nước cao hơn mặt sông đến hàng trăm mét. Sau này tôi vẫn hồ nghi về tính đứng đắn của công việc này. Không rõ có đúng là họ dự định làm một dự án như vậy, hay không, như lời anh chàng Quản Giáo lúc đó ba hoa. Thực tế, mấy đội khác hỗ trợ cho công việc của Đội 2 có chở một đống cát, đá … đến đổ ở khu chúng tôi làm việc. Cũng có thể đó là ý định đứng đắn của họ, nhưng họ không lường hết được khía cạnh tài chánh, khía cạnh chuyên môn của dự án, nên dừng lại sau 4 tháng chúng tôi chuẩn bị. Mà nếu nói đó mới chỉ là một ý nghĩ ngông cuồng của một anh”Ban” điên điên nào đó có vai vế, chắc cũng không sai. Bởi vì, “nước sông, công tù”, cứ thử đi, mất gì đâu mà sợ. Có điều, suốt mấy tháng làm việc ở “hiện trường”, tôi chỉ thấy vài lần có anh “Ban” nào đó ghé qua, chưa hề gặp một tay chuyên viên nào đến quan sát, bàn thảo, như khi làm “công trình” thứ 3, nhỏ hơn sau này.

Tuy nhiên, 3 hay 4 tháng “Cấp Thủy” đó, hình như vào mùa đông năm 1979, lại là khoảng thời gian đáng nhớ của đời tù thằng tôi. Mấy tháng đầu mới tới trại giam Thanh Cẩm, họ cho chúng tôi đi làm tạp dịch, quanh quẩn khu văn phòng, nhà kho, là khu làm việc của Ban Giám Thị. Tức là tôi được ra khỏi “cổng trại”, đúng ra là “Cổng trại giam K1”. Tuy nhiên chưa phải là nơi có thể gặp được dân thường, những người không phải công an, không phải người làm việc của trại giam. Sau đó, ở Đội Xây Dựng, tôi cũng chưa bao giờ đi làm ở ngoài 4 bức tường trại giam K1. Xây mấy dãy nhà trong K1, xây khu Kiên Giam cũng trong K1. Suốt 3 năm, tôi chỉ biết 4 bức tường cao vòi vọi. Đứng nơi cao nhất trại giam, có thấy xa xa núi non, bãi bờ sông Mã. Mỗi buổi chiều có được đưa ra khỏi cổng trại để đi tắm sông, chỉ biết từ cổng trại xuống bờ sông, thấy mặt nước mênh mông êm xuôi hay sóng trôi cuồn cuộn, theo mùa. Đôi khi thấy vài chiếc thuyền lững lờ dăng lưới, họ cũng không dám đến gần bọn tù. Có được nghe tiếng gõ mạn thuyền đều đều như tiếng gõ mõ, có được thấy ánh lửa leo lét giữa thuyền, được nhìn cậu bé co ro bên bếp lửa. Mùa đông khi giăng lưới bắt cá trắm cỏ, bác thuyền chài gõ vào mạn thuyền để xua đàn cá chạy trốn, vướng vào lưới. Bây giờ, cuối năm 1979, nhờ “Cấp Thủy’, tôi được đứng ngay cạnh đường đi, được gặp những người trong đời sống bình thường. Có thể đó là niềm vui, nhưng cũng có thể là điều đáng buồn. Buồn hay vui, đều đáng nhớ, nhớ mãi.

Một buổi sáng mùa đông 1979, khoảng 7 giờ rưỡi sáng chúng tôi đã đến “hiện trường lao động (khổ sai)”. Giờ đó ở miền núi lạnh lắm. Mây còn giăng khắp bầu trời, gió lạnh từng cơn từ sông Mã thổi lên, khí lạnh từ mấy rặng núi dồn xuống. Gió rét căm căm. Nghe tiếng lao xao, líu lo, không rõ người ta nói cái gì, tôi vác cây cào vữa ra đứng gần đường, sát cạnh một con đường mòn đi tắt vòng theo ngọn đồi, và gặp một đám mấy bà dân địa phương nhanh bước đi qua. Họ rảo bước, hai tay vòng ôm lên ngực. Ai cũng phong phanh cái quần, manh áo mỏng tanh, hai bàn chân không giầy, không dép. Chắc là lạnh lắm, đi nhanh cho ấm, hai tay ôm ngực cho ấm. Giữa đám 3, 4 bà đó, trời ạ, một cô bé gái và một cậu bé trai, chắc là chị em, cũng rảo đôi bàn chân thâm tím trên mặt đất trần trụi. Cô bé chừng 10 tuổi mặc quần, không áo, cậu bé mặc áo, không quần. Chắc hai chị em chia nhau bộ quần áo duy nhất khi đi ra ngoài. Tôi quay lại phía sau, vài bạn tù đứng như trời trồng. Rồi chúng tôi xực tỉnh kịp thời, tôi gọi giật đám người đó lại. Có lẽ là dân Mường, họ nói gì trong cơn hốt hoảng, chúng tôi cũng không rõ. Tôi ra hiệu, đưa lên chiếc áo len, một anh bạn đưa chiếc quần ka ki dầy cộm, chúng tôi chỉ vào hai đứa bé. Một bà, chắc là bà Mẹ, chạy đến cầm áo, quần, miệng líu lo những gì gì đó, rồi bỏ đi ngay vì anh chàng Bảo Vệ vác súng dài đã tới. Chàng ta cũng kịp hiểu rằng chúng tôi muốn cho hai đứa trẻ áo quần, nên không nạt nộ như mọi khi, các anh không được quan hệ mua bán, đổi chác với dân làng. Sau này, một bạn tù khác cho biết anh chàng Bảo Vệ có ra dấu cho đám dân làng được nhận áo quần của chúng tôi.

Hình ảnh đó buồn lắm quí vị ạ. Nỗi ray rứt theo mãi trong tôi. Nỗi buồn gậm nhấm mãi trong tôi. Các bạn tù chúng tôi đều buồn. Người dân miền núi này khổ quá. Những bạn tù được đi tự giác, lang thang vào làng, gặp người này, người nọ, kể rằng dân ở đây chưa hề biết hộp sữa đặc là gì, một cái kẹo ngọt nhỏ xíu, mỗi năm may ra được ngậm một lần trong ngày Tết. Còn về thuốc men, tôi đã, hoặc sẽ, kể ở nơi khác. Hôm đó, tôi may mắn thấy họ từ xa, vài anh bạn tù cũng may mắn đến gần chúng tôi, nên chia sẻ được cho họ cái quần, cái áo. Mùa đông, khi đi lao động chúng tôi thường mặc nhiều áo quần cho đủ ấm. Mấy vị lớn tuổi, có vị mặc 3 hay 4 cái quần, 5 hay 6 cái áo. Bình thường, có người mặc 3 quần, 4 hay 5 áo. Tôi nhờ được đi vớ với đôi ủng, nên cảm giác lạnh có bớt đi, chỉ mặc 2 quần, 3 hay 4 áo. Cả bọn mặc một đống áo quần, khi làm việc, cởi dần ra. Cho nên, tôi có cởi chiếc áo len thì vẫn còn 3 lớp áo, áo trong, áo ấm, rồi áo khoác dầy cộm. Anh bạn ở gần cũng kịp cởi cái quần tù vải dày màu xanh bạc thếch, nhưng không dám đưa vì in chữ của nhà tù. Sau này mới biết người dân cũng lấy cả áo quần tù, họ sẽ chế biến lại để che bớt, bôi bớt mấy chữ to tướng của nhà tù in trên đó. Về sau, bọn tù chúng tôi thường mặc dư áo quần, để nếu có gặp cảnh dân làng như vậy, còn có thể cho. Chẳng mấy khi có dịp.

Dịp gặp những người dân làng gồng gánh đi buôn bán ngoài chợ thì nhiều hơn. Có phiên chợ họp đâu đó ngoài xã, hai tuần một phiên. Mấy tuần đầu gặp họ, chúng tôi chỉ đứng nhìn. Sau này Quản Giáo cho phép, nói anh nào có tiền cứ hẹn họ ghé vào, mua bán gì đó. Xem ra, những thứ chúng tôi muốn mua thì lại không có, như thịt heo, thịt gà, mật ong, mật mía, đậu hũ. Họ đi bán vài quả cau, mấy trái cây gì đó của miền núi, ít vỏ cây làm thuốc, hàng dệt thủ công, cóc, nhái, … những gì họ kiếm được từ vườn, từ nhà, từ rừng, từ núi. Có lẽ là ngày trước ngày rằm với ngày trước ngày mùng 1 có phiên chợ, cứ khoảng từ 10 giờ sáng trở đi đến độ 2 giờ chiều, chúng tôi lại nghe thứ tiếng líu lo như chim hót, đó là đôi ba người gồng gánh, hoặc đội thúng mủng, đi qua dưới đường. Cuối cùng, mấy bạn tù rủ nhau nhờ anh chàng Quản Giáo hẹn một cô bán bánh cuốn. Ngày hẹn, cô bán được cho đám tù chừng nửa chỗ bánh cuốn cô có. Tôi cũng ham vui tham gia, bởi vì họ sẽ dùng sân vữa, bên “bếp” lửa hồng bày “tiệc.” Hơn 4 năm rồi mới nếm lại thứ bánh quyến rũ hồi tôi còn sinh viên. Hồi đó, tôi ngủ ở Quán Văn, 69 bis Gia Long, chiều chiều hay ra một xe bánh ướt đâu đó trong khu chung quanh chợ Bến Thành. Đĩa bánh ướt và vài đũa đã hết, nhưng nước mắm pha chua chua, ngọt ngọt, cay cay, lại thêm mấy cánh hành khô đọng mỡ dưới trên đĩa bánh, ôi chao, phải ăn ba đĩa mới đã. Còn mấy lát giò sắt mỏng, có cũng hay, không có cũng chẳng sao. Vài anh bạn tôi thế nào cũng đòi cho được một miếng cắt ra từ cái bánh hình cái oản làm bằng đậu xanh, có người gọi là bánh tôm vì có chú tôm con nằm bên trên, có người gọi là bánh cóng. Tôi thì cứ trần sì bánh ướt rưới nhiều mỡ, lớp bánh mỏng và mát, ngập trong nước mắm pha tuyệt vời dầy đặc với hành phi thơm phức, thêm ít cọng giá đã trần qua nước sôi. Thế là đủ rồi. Còn nơi chốn rừng núi xa xôi này, nước mắm mặn chát, chắc là pha bằng muối với ít nước màu, vài lát ớt tươi đỏ, và “bánh cuốn” là mấy lớp bột tráng dày. Nhưng cảm giác chắc không kém gì đĩa bánh ướt ngày xưa.

Cũng là hẹn hò, bây giờ là chuyện hẹn hò mấy bác thuyền chài. Theo nội qui trại, phạm nhân không được giao tiếp, liên lạc với người dân trong vùng. Anh chàng Quản Giáo dễ tính của Đội 2 vào năm 1979 cho chúng tôi mua đồ ăn của các bà, các cô gánh gồng đi bán. Còn chuyện tôi mua cá của bác thuyền chài, chàng ta coi như không biết. Coi như còn có người tốt bụng trong đám công an.

Mấy tháng chúng tôi làm vệc tại “ngọn đồi cấp thủy” chỉ là giai đoạn sửa soạn cho công trình lớn. Công việc nhì nhằng, dựng mái cho sân vữa lớn gấp đôi bình thường, xây bồn chứa vôi dưới chân đồi, xây ngôi nhà nhỏ trên đỉnh đồi để làm “nhà lô”, tức là nơi mấy tay công an coi tù trú mưa, trú nắng, cũng là nơi cất giữ dụng cụ làm việc, nhà có cửa khóa. Cả nhà và mái sân vữa phải làm tương đối chắc chắn vì trên đồi gió lộng. Công việc nhì nhằng, vữa cũng nhì nhằng. Cát, vôi, nước đã có người gánh lên tận sân. Mỗi ngày tôi làm việc chừng hơn một tiếng đồng hồ đã xong việc. Loanh quanh tán dóc một hồi, tôi xách nửa thùng nước nóng xuống bờ sông, pha thêm nước lạnh, rồi tắm giữa thanh thiên bạch nhật. Phải tìm chỗ khuất, tránh con đường mòn lỡ có người đi qua, tôi mới dám tô hô trong gió lạnh ngang dọc dòng sông. Riết rồi cũng có hôm tôi gặp bác thuyền chài đang cho con thuyền xuôi theo dòng nước, mái chèo khoắng nước cho vui. Vẫy mãi bác mới mạnh dạn đến gần bờ. Thằng tôi nhìn rõ trên thuyền chỉ có mình bác, cứ thế tô hô nói chuyện. Hỏi rằng có cá không. Đáp rằng mới có một con. Hỏi tính bao nhiêu. Đáp con này áng chừng 4 cân, tính bác 10 đồng. Thằng tôi trần truồng, mới nhớ ra mình làm gì có tiền mang theo. Nếu hẹn ngày mai chắc gì ông ta cần gặp. Cũng hẹn bừa. Ngày mai, bác lo cho tôi một con như vậy, tôi trả 20 đồng. Phải tăng giá để bác ta không thể bỏ qua dịp may kiếm tiền. Cuối cùng, hẹn ngày mai, cũng khoảng như hôm nay. Chữ “khoảng” có ý nghĩa cả địa điểm, cả giờ giấc.

Thực ra phải nói rõ thế này: Tôi là tên Bắc Kỳ lớn lên ở Miền Nam, giọng Bắc, tiếng Bắc đã có lai lai, nhưng người Hà Nội và miệt xuôi hiểu được dễ dàng. Còn nơi thượng du toàn người Mường này, ai nói người ấy nghe, “đối thoại hòa bình” khó lắm. Mấy câu trên chỉ là tôi dự đoán, không bảo đảm có đúng như bác ta nói không. Gọi tay thuyền chài là bác, nhiều khi cũng quá, có khi tay này chừng 30 là cùng. Lúc đó tôi đã 36 tuổi, chắc trông trẻ hơn tay đó. Người dân khổ cực, ít khi được cười, nên già trước tuổi rất nhiều. Tôi xin kể một thí dụ buồn cười, cũng có thể cười ra nước mắt. Buổi tối cửa buồng khóa, là giờ “trà lá” nói chuyện tầm phào. Một anh bạn thuộc đội khác kể, đang chống cuốc “trây lười” bên mấy gốc khoai mì, một bà lão tất tả xách bị đi dưới đường. Hỏi với, bác đi thăm nuôi hở. Chắc là một bà đi thăm nuôi bạn tù hình sự. Trả lời, ừ, thăm nuôi. Hỏi ngược lại, thế anh cải tạo lâu chưa, đáp, gần 4 năm rồi. Trông còn trẻ, khỏe mạnh lắm, năm nay bao nhiêu? Dạ, cháu mới 38 tuổi. Còn bác? Ơ, “Em” mới ngoài 30 thôi! Khách nghe cười xong, anh bạn kể tiếp, tôi đớ người ra, vứt mẹ nó cuốc đi, đời chó gì mà người ta khổ thế! Dứt cười. Tôi đồ rằng bà ta bị bất ngờ, nên khai tăng tuổi, “ngoài 30”, có khi vừa chớm 30, hoặc 28, 29 tuổi cũng nên. Ca dao kể rằng, “ra đường thiếp vẫn còn son, về nhà thiếp đã 5 con cùng chàng”. Ở miền núi, chẳng có gì giải trí, 14, 15 tuổi đã lấy chồng, “thiếp” này dám có đến chục con. Tôi là thằng dốt nát, lỡ trích dẫn văn thơ có sai, xin quí vị cứ cười, nhưng chỉ bảo giùm. Được học thêm, biết ơn lắm lắm.

Hôm sau tôi hẹn mấy chàng tù nữa mang theo chén bát, ca nhựa, ca nhôm gì đó, làm bữa cháo cá giữa trời. Chúng tôi chuẩn bị ít gạo, muối. Giờ hẹn, tiền chao, cá xách. Tôi xách con cá nặng, buộc vào cành cây cao, chạy vội lên nháy một anh bạn xuống làm cá. Ở tù mấy năm rồi, tôi vẫn sợ mổ bụng cá, đánh vẩy. Anh bạn gốc Tiền Giang sông nước, loáng một cái con cá đã sạch sẽ, bụng phanh ra, mắt đục lờ đờ. Tôi bắc thùng gánh nước lên bếp, đã có nửa thùng nước sẵn, đổ ít gạo vào, cho cả con cá vào, cứ thế mà thêm củi cho mau sôi. Không dám nấu cháo trước vì chưa biết có mua được cá không. 5, 6 đứa nhân giờ giải lao, “báo cáo’ với Quản Giáo. Chàng ta ngước mắt nhìn ra, ngạc nhiên, nhưng cũng gật đầu. Mấy tên tù quây quần “đánh chén”.  Thiếu chút nước mắm, đã có muối. Thiếu chút tiêu, đã có mấy trái ớt rừng. Hơi ân hận chút xíu, vì không thể mời cả đội tham gia, gần 30 chục mống. Nếu mang cá về buồng nấu, ăn uống ung dung hơn, chắc gì qua được cửa ải Trực Trại ở cổng, có khi mất toi.

Nhớ lại “nồi” cháo cá thuở nào, vẫn thấy vui vui.

Được đi “lao động” ngoài đồng, có dịp nghe, thấy nhiều điều của cõi trần gian này. Chữ “ngoài đồng’ là tiếng tổng quát hay được dùng để chỉ làm việc giữa trời, không nằm trong 4 bức tường thành trại giam. Cõi thế gian chúng tôi đang sống ẩn chứa nhiều điều đau sót lắm, khiến riêng tôi cảm thấy mình “tốt số” hơn người dân quanh vùng, hơn các bạn tù bên trại hình sự Miền Bắc.

Buổi sáng trên đường đi làm đôi khi gặp các đội hình sự đi cùng chiều, đi ngược chiều. Bây giờ vẫn là mùa đông 1979, khí lạnh, sương lạnh, ánh mặt trời đã le lói hình như lại đè cho sương lạnh xuống gần đất hơn, những bước chân trần của bạn tù bên kia chắc lạnh giá hơn. Đang đi, bỗng thấy mấy bạn tù người Thổ, người Nùng, người Thái, người Mường, chạy qua vệ đường, hái nhanh vài nhánh cỏ non. Họ ăn cả cỏ, không phải tôi “nghe nói”. Chính mắt tôi nhìn thấy có người trong bọn họ hái cỏ, lựa những đọt cỏ non, cho vào mồm, nhai, nuốt. Tôi cũng chứng kiến mấy người thiểu số mạn bắc đó dành nhau một con cóc hay nhái chết dọc đường. Không biết con vật chết bao giờ, một bạn tù nhóm chúng tôi cho rằng đã có mùi hôi. Cuối cùng mỗi anh tù thiểu số chia nhau một mẩu xác con vật kia, nắm khư khư trong tay. Anh bạn đi cạnh tôi nói, chắc họ chờ lát nữa đến nơi lao động, có lửa, sẽ hơ sơ sơ trên lửa rồi mới ăn. Còn chuyện này tôi nghe kể. Có anh tù chính trị làm công việc tự giác là đi gánh phân. Anh thu vén những sọt phân từ các buồng trại do chúng tôi thải trong ngày, trong đêm, mang đến một nơi để ủ cây xanh làm thành phân bón. Anh kể rằng, bắt gặp mấy chàng tù thiểu số xuống hố hót đống phân mới đổ, mang ra sông rửa, rồi ăn. Bởi vì phân đó là những hạt “bo bo”, còn gọi là “cao lương”, trại nấu cho tù ăn. Những hạt này thường là món ăn chính của ngựa. Nấu mãi cũng chỉ hơi mềm, ăn vào thế nào, đi ra thế ấy, vỏ cứng và dai, không làm sao tiêu được trong dạ dày con người. Không hiểu sao người ta không xay mấy hạt đó trước khi nấu. Hoặc là tốn tiền, hoặc không có máy say loại đó ở miệt rừng núi này. Hoặc là “mặc M. chúng nó, mấy thằng ngụy!””

Ở trên tôi kể, thân phận tù đầy, sống chết ra sao chưa biết, nhưng tôi vẫn cảm thấy tốt số hơn mấy người dân trong vùng, hơn mấy bạn tù hình sự. Tôi là thằng tù chính trị Miền Nam, một năm đôi ba lần được nhận quà gia đình gửi qua bưu điện. Tôi còn giữ được mạng sống là nhờ chút lương thực, thực phẩm “chất lượng” của Miền Nam, ít thuốc Tây, ở nơi này gọi là “thuốc thánh”, công hiệu như có phép màu của thánh thần, từ Miền Nam gửi ra. Bọn cán bộ trại giam uy quyền, cơm ăn, áo mặc đầy đủ, hơn gấp bội dân thường, còn xin xỏ bọn tù chúng tôi. Cái lạp xưởng họ cũng chưa từng biết qua, tính cấm không cho tù mang vào trại, tưởng là nến (đèn cầy). Đốt mấy mảnh giấy gói đồ, hơ cái lạp xưởng, cho ăn thử, gọi nhau ơi ới, “ngon cực!” Vậy thì những người dân làng chung quanh, những người Mường ở làng Chiềng Chàm, đời sống họ đơn sơ đến đâu, thiếu thốn đến đâu? Không lẽ cả cuộc đời, đời cha, đời con, đời cháu, chỉ biết mấy củ khoai mì, khoai lang, cái bắp ngô. Chỉ thế thôi sao? Cũng gọi là sống đời một con người? Nhưng dù sao họ còn nhiều điều hơn những kẻ trong nhà tù hình sự Thanh Cẩm. Đó là “tầng đáy” của xã hội. Nhưng ngay chính trong tần đáy, lại còn có mấy “tầng”. Cùng cực hơn nữa, dưới hơn nữa, dưới nhóm tù hình sự người Kinh, còn đám tù hình sự thiểu số Miền Bắc. Gọi họ là “tù hình sự” cũng oan. Họ không bị tù vì ăn trộm, ăn cắp, cướp của giết người. Họ sống ở biên giới Việt Tàu. Sống trên đất Việt Nam, nhưng từ lâu đời nói tiếng sắc dân mình, gần với tiềng Tàu hơn tiếng Viêt. Nhà nước cho rằng tất cả những người này sẽ làm tình báo cho Tàu, sắp đánh nhau đến nơi, chi bằng gom hết đám đàn ông con trai lại, cho vào tù. Thế là yên tâm. “Giết lầm hơn bỏ sót”.

Nhà tù phía bắc di tản xuống phía nam. Một số tù người Thượng miền Bắc chuyển về Trại Thanh Cẩm. Chắc chắn họ không thể liên lạc gia đình. Sơ tán, gia đình họ trôi dạt về đâu, sống làm sao, họ cũng không biết. Ở đâu chăng nữa tại khu vực phía bắc, xa Thanh Hóa quá, những người sơn cước đó làm sao đi được tới tỉnh đầu của Miền Trung. Những bạn tù người Thượng này chỉ sống hoàn toàn bằng lương thực, thực phẩm của trại tù. Với mỗi ngày vài củ khoai mì, vài củ khoai lang đuôi chuột, và ít nước muối, áo quần không đủ, tồn tại được là điều khó khăn. Bọn đầu gấu lớn, đầu gấu nhỏ còn bắt đám tù Thượng phục dịch hầu hạ. Nhân đó, bọn “vét đĩa” trong làng gây thêm cái nạn tù Kinh ăn hiếp tù Thượng, bữa cho ăn, bữa sén đi một phần. Những người tù gốc Thượng du Miền Bắc đã phải chen nhau ở tận cùng của tầng đáy tận cùng. Bọn Công An Quản Giáo, Bảo Vệ biết hết, nhưng lờ đi. Không ai dỗi hơi lo chuyện bao đồng.

Nhớ lại các cháu Bù Gia Mập, nhớ lại đám tù sắc tộc ở biên giới với Tàu, để thêm một điều xác tín: Trong xã hội này mạng người rẻ lắm. Nếu “Trí thức không bằng cục phân” thì mấy bạn tù kia còn đáng so sánh với cái gì nữa không!

Cuộc lang thang “ngoài đồng” mấy tháng rồi cũng chấm dứt. Trại bỏ ngang “công trình cấp thủy”, tôi về lại bãi vữa trong trại. Và, một “công trình lớn” nữa bắt đầu. Đội Xây Dựng nhận thêm một đội viên mới, tên Nguyễn Cao Quyền. Nghe đồn, anh này là Đại Tá Quân Pháp, có được đi trong ngạch ngoại giao ở Ba Lê, nước Pháp. Nguyễn Cao Quyền về đội để lo chuyện vẽ bản đồ xây một cái cổng trại tân kỳ cho khu K1. Lúc đó mới đang chuẩn bị, Đội 2 nhận mấy chuyện đi thu hoạch sắn, chờ ngày khởi công. Tôi được chỉ định làm vệ sinh ở nhà. Làm vệ sinh là quét sơ cái nhà, cái sân. Thế thôi. Làm cầm chừng độ 2 giờ đồng hồ cũng xong. Xong việc, tôi lấy mẩu khoai mì để dành từ tối qua, gọi là “ăn sáng”. Rồi tôi nấu tí nước sôi, pha vài cánh trà, nhâm nhi hưởng hạnh phúc những ngày đầu xuân. Đầu xuân, trời vẫn cố níu kéo cái lạnh. Uống tách trà nóng, một chút niềm vui trong cảnh tù.

Một hôm, một chàng sĩ quan công an vào buồng. Anh này trước đây mấy năm là Quản Giáo Đội 2. Quan Quản Giáo  ra lệnh bọn tù phải “gọi dạ, bảo vâng”. Khi Quan gọi tên ai, chàng tù đó phải dạ thật lớn. Mặt Quan non choẹt, xanh xám không rõ vì lạnh, hay vì bịnh, hay vì tuổi đang lớn mà thiếu ăn. Không vì vậy mà Quan mất uy quyền. Mấy tháng, nửa năm, chúng tôi được nhận thư gia đình. Buổi nọ Quan phát thư, bắt cả đội xếp hàng nghiêm chỉnh, gọi tên từng người. Ai cũng phải tuân lệnh Quan, dạ thật lớn và đưa 2 tay đón bức thư. Tôi quên kể Quan ra lệnh đưa gì, nhận gì với Quan, tù phải dùng cả hai tay. Đến lượt Quan kêu tên tôi, tôi la lớn “có mặt”. Quan ngạc nhiên ngước nhìn, không nói gì, vẫn đưa thư. Tôi tiến lên, đứng nghiêm, khẽ nghiêng người đưa một tay cầm thư. Định bụng, nếu Quan khiển trách, tôi có cách đối đáp. Nhưng Quan bỏ qua, đọc tên tiếp theo. Không rõ Quan có “ghim” tôi không, chỉ biết Quan không kiếm chuyện gì hành hạ tôi. Không ghim, nhưng chắc nhớ mặt. Rồi Quan đổi đi đội khác, rồi hôm nay Quan là sĩ quan, không rõ chức vụ gì, Phụ Tá Trực Trại chăng, đi vòng vòng kiểm soát các buồng chăng. Cũng có thể chàng phụ trách “công trình cổng trại,” vào gặp Nguyễn Cao Quyền coi vẽ đến đâu. Chàng vào, chuyện trò gì đó với anh Quyền ở phía đầu nhà. Tôi nghe Quyền nói sẽ nhóm bếp, nấu nước, pha trà. Rồi thấy chàng đi vào phía cuối nhà, đi vào phòng vệ sinh, như xem xét có sạch sẽ không. Lúc đó, tôi đang pha chút trà nhạt cho riêng mình nhấm nháp. Chàng xem xét một hồi, đi ra, qua chỗ tôi, chàng hỏi bâng quơ, anh Anh cũng trà lá nhỉ. Tôi trả lời, vâng, cán bộ làm một tách không. Cái kiểu mời rơi của Miền Bắc. Trà tôi uống không đủ tiêu chuẩn của dân uống trà Bắc Kỳ, cắm cái tăm vào bình pha trà, cái tăm đứng thẳng. Chàng buông một câu, A, cái hạng “vét đĩa”, uống cái gì. Nguyễn Cao Quyền nghe, cười khanh khách, nhắc lại, “vét đĩa!”. Đó là lần đầu tiên tôi được học một chữ mới. Và nhờ đó, tôi cũng biết thêm một người bạn tù. Tôi nhớ lại cụ Phạm Trọng Nhân, ngạch sứ thần, quả thực xứng đáng để đại diện đất nước mình trong vai trò đó. Cụ đang ở đâu đó nơi Miền Bắc này. Còn chàng Quản Giáo cũ, tôi với chàng còn mắc míu nhiều lần nữa.

Đến lúc bắt đầu “công trình lớn” thứ 3 của Đội 2, xây nhà hai tầng với cột nhà, sàn nhà bằng bê tông cốt dắt. Một chàng “Ban” nào đó đại ngôn, đây là công trình bê tông cốt sắt đầu tiên của huyện Cẩm Thủy.

Đội 2, được một số bạn tù đội khác tăng cường, bắt đầu phá cái cổng trại cũ, rồi đào móng cho căn nhà lầu. Tầng dưới căn nhà gồm hai phòng nhỏ hai bên, giữa là lối đi vào trại rộng trên 4 mét, với hai cánh cổng gỗ nặng nề, di chuyển trên bánh xe, theo đường ray lắp sẵn. Tôi quên tầng trên ra sao, mấy phòng, là nơi Trực Trại ở. Người ta giới thiệu một chàng kỹ sư xây dựng trẻ măng từ Thanh Hóa vào. Chàng lo điều hành công tác và chuyên môn. Chàng ta cũng kêu tôi vào ngồi họp để bàn bạc “tiến độ thi công” có lẽ vì tôi phải lo một trong ba phần việc quan trọng: trộn bê tông. Hai việc kia là tính toán sắt dùng, kết nối sắt, dựng cột sắt, và đổ bê tông, ép bê tông cho không còn chỗ hở, chỗ “bọng”. Chàng mời tôi họp vì khi mới gặp ở ngoài, chàng nghe tôi ba hoa thấy có vẻ “đúng sách vở”. Lúc làm Trưởng ty ở tỉnh Chương Thiện, Bộ cho kinh phí để xây cho tỉnh phòng đọc sách. Tính tò mò, tôi ra nơi xây cất, qua vài câu hỏi, tôi được ông nhà thầu dậy cho đôi điều về hồ (xi măng và cát), về bê tông, về cốt sắt. Còn nhớ chút ít, cứ thế mà phang ra. Lúc mới trộn vữa ở Thanh Cẩm, tôi lúng túng, vì không biết rằng có thể làm vữa bằng vôi, không cần xi măng. Trong vụ xây “nhà cổng” này, tôi thực sự là một thằng ngu. Bọn “ban bệ” ở trại muốn cắt xén xi măng, đá nhỏ trong tỷ lệ bê tông. Anh kỹ sư hỏi tôi bớt đi bao nhiêu thì được. Tôi nói số bớt là một tỷ lệ nhỏ. Sau này, họ bớt nhiều hơn, tôi cằn nhằn với anh kỹ sư. Cằn nhằn, nhưng vẫn phải làm, phải bớt thêm. Tôi ngu quá trời. Bọn nó muốn bớt nhiêu kệ M. nó. Nhà có sập thì cũng kệ M. nó, hơi đâu tôi lo. Tinh thần trách nhiệm là cái quái gì với bọn cộng sản, bọn bịp bợm, bọn lừa đảo, bọn dối trá! Và lạ một điều, tại sao anh kỹ sư không quyết định, lại hỏi thằng tôi. Hoặc vì anh còn quá trẻ, mới ra trường, tưởng tôi là chuyên viên nặng ký về bê tông. Hoặc là vì anh lấy tôi làm cái mộc để đối phó với mấy tên Ban Bệ của trại. Hoặc là vì lỡ có “sự cố” trong việc xây cất, thì tôi gánh vác việc sai sót này. Vì gì cũng vậy, cứ kệ M. bọn nó là xong. Đầu bò!.

Chuẩn bị mủa xuân, mùa hè khởi công. Làm giữa tháng hè nóng như đổ lửa. Tôi học được kinh nghiệm: Ở chốn tận cùng thiếu thốn, một chút nước đường ích lợi vô cùng. Ba ngày đổ bê tông, tôi phải làm không ngừng. Tôi phải điều động đội ngũ xúc cát, đổ xi măng, đổ đá, đổ nước, và 3 bốn đứa dùng sẻng trộn đều. Chính tôi phải trộn cho họ làm theo. Bê tông phải làm liên tục để có đủ cho việc đúc mấy chục cột một lúc, hoặc đúc sàn tầng dưới cùng một lúc, tầng trên cùng một lúc. Mồ hôi đổ ra như tắm, nhưng tôi không thấy mệt. Tôi đoán rằng vì tôi tổ chức việc nghỉ cho mỗi người hợp lý, và mỗi lần tôi nghỉ, tôi làm một hơi nước trà nóng pha đường. Đống lửa bên cạnh bãi bê tông, tôi để cái “gô” sẵn, khi cần, chỉ mấy phút, nước sôi. Móc túi lấy nhúm trà bỏ vào gô. Lúc uống, dốc thêm ít đường. thêm vài hạt muối. Đợi nước hơi nguội, làm liền nửa gô. Bù lại nước, muối đã mất. Trà (hàng chục sinh tố), đường, bù lại sinh lực đã mất. Tôi vẫn cảm thấy khỏe sau một ngày cật lực. Mà uống trà nóng cho ta cảm giác không còn khát nữa.

Gì thì gì, những phút tĩnh lặng trong tù, hai tên đần độn trong tôi cãi nhau suốt. Chữ “suốt” này dùng theo kiểu chữ nghĩa bọn nhà quê Cộng Sản Miền Bắc, tôi bị nhiễm lúc nào không biết. Ở đây, tôi ghi vắn tắt hai điều: Một là, hai tên đần độn tranh cãi, một tên nói tôi là “Thằng Ngu” khi cố làm cái việc trộn bê tông cho tốt, hoặc làm một bãi vữa cho tốt. Đó là tôi đang góp phần “xây dựng nhà tù” cho mấy tên Cộng Sản Hà Nội, … Một tên cãi lại, nói rằng, tôi là một “con người” của nền giáo dục, nền văn hóa Việt Nam chính thống, Việt Nam Cộng Hòa, một “con người thực sự” trên trái đất.  Điều vắn tắt thứ hai về những “phút tĩnh lặng” của tôi, ban ngày tôi thường thơ thẩn một mình, im lặng ngắm dòng sông Mã từ khu đất cao gần Phòng 4, và suy nghĩ; ban đêm, tôi ngồi tại chỗ tôi nằm, ngắm từng chiếc mùng các bạn tù đang ngủ, ngắm nồi niêu các bạn tù để dưới gầm sạp, ngắm 4 bức tường, ngắm hai ngọn đèn điện vàng ệch, tù mù thắp sáng suốt đêm, đôi chân đong đưa ở mép ngoài sạp trên, và suy nghĩ. Tôi chỉ “vắn tắt” hai điều trên, vì muốn trở lại kỹ càng hơn ở một nơi nào đó trong tự sự này. Chỉ sợ theo dòng ghi chép liên miên, tôi quên mất.

Cái chuyện xây cổng trại xẩy ra vào năm 1980, tôi nhớ thế. Có thể sai. Hỏi loanh quanh những bạn tù còn liên lạc, cũng ra, nhưng chẳng quan trọng gì. Tôi mới kể chuyện của năm 1980, nhưng thực ra, khi kể chuyện xây nhà kiên giam, tôi đã nhẩy qua năm 1981, 1982 khi kể chuyện nới rộng khu kiên giam. Như vậy, sau cái cổng trại “tân tiến, đồ sộ”, tôi không nhớ gì nhiều về công việc xây dựng. Tôi ra khỏi tù năm 1984, cuối Tháng 4. Thời gian còn lại sau “cổng trại” gồm các năm 1981, 1982, 1983. Hai năm đầu, Đội 2 lo xây thêm dãy nhà thuộc khu kiên giam, chiếm mất phần lớn khu đất tôi thường lang thang mỗi buổi chiều tà, ngắm nhìn non, nhìn nước. Lúc “giáp hạt”, Đội 2 tăng cường cho các đội khác, đi “thu hoạch” khoai mì, khoai lang, bắp, đậu phọng, …. Lại thêm công việc phá hội trường cũ, dựng hội trường mới, … Năm 1983, người ta giải tán Đội 2, chúng tôi vào Đội Hồ Tiêu.

Từ năm 1979, mỗi năm đều có một, hai đợt thả Tù Chính Trị Miền Nam. Năm 1982, 1983 lại có hai đợt chuyển tù Miền Nam từ Bắc về Nam. Tôi nhớ mãi hình ảnh tưng bừng, náo nhiệt của ngày một số lớn các bạn chuyển về miền Nam. Tập họp ở sân đi làm, các đội tù chính trị Miền Nam được lệnh ở nhà. Sau đó, đọc tên những người chuẩn bị đồ đạc chuyển trại. Hơn hai phần ba số tù Miền Nam còn lại được đọc tên. Mấy ngày rồi đã nghe tin đồn có đợt chuyển trại về Nam. Đợt trước chỉ có khoảng trăm người di chuyển, số còn lại khoảng 400, “phe ta” chỉ hơi nao núng, cho nên tin đồn thì đồn, không gây một nỗi lo âu. Bây giờ, “đi hết rồi!” Ào ào như ong vỡ tổ. Mỗi phòng đều diễn ra cảnh hỗn độn. Các bạn chuyển trại tung hết đồ đạc ra (nhà tù miền Bắc gọi là “đồ đoàn”), cái này mang về Nam, cái này “bàn giao’ cho người ở lại. “Người ở lại” cần trang bị thật nhiều, “Kẻ ra đi” về với “quê mình”, “đất mình”, ở giữa “dân mình”,  là vùng giàu có, là vùng quen thuộc, sẽ không cần nhiều. Tưởng như các bạn ấy không còn là tù nữa. “Ôi cảnh biệt ly sao mà buồn vậy!” Câu này đọc ở đâu, nhiều vị biết nhưng chắc không nhớ xuất xứ.

Sau đợt chuyển tù lớn năm 1983, số tù Miền Nam còn lại ngơ ngác nhìn nhau. Cũng còn đến gần 100 người đấy, nhưng sao quạnh vắng. Mấy dãy nhà bên trái từ 1982 người ta lấp dần dần tù hình sự khi số tù Miền Nam giảm đi. Nhân số khu K1 vẫn còn gần như vậy, vẫn khoảng 600, 700 người. Nhưng các phòng tù Miền Nam vắng hẳn đi. Chỗ nằm mỗi người bỗng thênh thang. Khi cả trại là tù Miền Nam, không thấy gì, cái “xã hội” đó vẫn có giáng vẻ của Xã Hội Miền Nam. Bây giờ chỉ còn mấy chục mống, cảm giác lẻ loi, ý nghĩ vĩnh viễn chôn vùi nơi đây bùng lên trong tâm khảm. Qua 6, 7 năm ở nơi này đã quen với mấy bạn hình sự, nay trong sinh hoạt hàng ngày, lúc tập họp đi làm, số người Miền Nam thành nhóm nhỏ bé giữa những sinh hoạt xã hội khang khác với những nề nếp, ngôn ngữ trước đây. Thuộc nhóm tù Long Thành, nhóm tù Miền Nam đầu tiên đến trại tù Thanh Cẩm, cái cảm giác “đất lạ, quê người’ trong tôi phải có từ lâu. Nhưng lúc đó, tôi đến đây với ý nghĩ “định mệnh đả an bài”, bản năng sinh tồn bảo tôi phải thích nghi với môi trường sinh sống mới, rồi các đợt tù Miền Nam tràn về, tôi quên dần cảm giác đó. Sống trong phú quí, vinh hoa, người ta dễ quên đi lúc bần hàn. Bây giờ, bỗng nhiên bạn bè vơi hẳn đi, “xã hội bình thường” mờ dần. Tôi rơi trở lại vào tiếng nói “lạ”, giao tiếp xã hội “lạ”, cảnh sống “mới, lạ”.

May mắn có một sự “điều chỉnh” cho cảm giác hụt hẫng, bất an của những cái “lạ” đó. Sau “cơn gió bụi”, Đội 2 còn lại chẳng được mấy nghoe, độ hơn chục nhân mạng, ở lâu, có vẻ ‘già rồi”, nên họ giải tán, cho vào Đội Hồ Tiêu”. Từ lâu, Đội Hồ Tiêu qui tụ những vị Miền Nam lớn tuổi, hằng ngày lê tấm thân còm cõi lên ngọn đồi trồng đầy mít dưới chân núi đá vôi, ngay bên vệ con đường chính sau lưng trại giam K1. Người ta trồng cây hồ tiêu ghé vào gốc mít, cho cây hồ tiêu leo lên sống gửi thân cây mít, không phải làm trụ leo như bình thường vườn hồ tiêu vẫn làm. Chẳng rõ thu hoạch chính của ngọn đồi này là gì, mít hay hồ tiêu. Thực ra, chính hay phụ, phần lớn sản lượng cũng chui vào đâu đó, số còn lại, chui vào Ban Giám Thị.

Hồ tiêu

Vườn hồ tiêu, hay vườn mít, chiếm trọn sườn ngọn đồi kéo dài hơn nửa cây số. Người ta trồng 500, 600 gốc mít từ lúc nào không biết, vào năm 1983, khi chúng tôi đến với đồi mít, cây đã cao và lớn, có thể đã 10 năm.  Sườn đồi dưới chân núi đá vôi không phải là nơi dễ có nước. Khu vực chung quanh trại toàn là cây lim, trẩu, vàng tâm, lác đác có hàng soan trong khu Ban Giám Thị. Trồng cây ăn quả, họ chọn cây mít có lẽ vì tương đối cây này cần ít nước, chỉ cần tưới lúc đầu cho cây con bán rễ, chăm sóc không cần nhiều công, độ 4 hay 5 năm bắt đầu cho trái.

Hơn 500 gốc mít, Đội hồ tiêu bây giờ chỉ còn độ 7, 8 người (tôi nhớ số đó, có thể sai), nếu quả thực muốn chăm sóc thật sự để gặt hái được nhiều cả mít lẫn tiêu, chắc là chúng tôi không thể nhàn nhã. Bọn Ban Giám Thị trại Thanh Cẩm có lẽ coi mấy trái mít, vài lạng tiêu chỉ là có cho vui, không nằm trong số 30%, 40% tiêu chuẩn lương thực tự túc, nên mấy tên tù dưỡng già cứ tà tà nhặt cỏ, tưới cây cho qua ngày qua tháng. Với tôi, đây là lần thứ nhì tôi được lang thang trên triền đồi, lang thang bên vệ đường ngắm nhìn người dân qua lại, lần đầu ở công trình cấp thủy. Sau 7 năm biết tù Miền Nam, bây giờ người dân địa phương không còn e ngại gần mấy tên tù hiền như Bụt. Duy có điều, ngôn ngữ bất đồng, nhìn nhau “thông cảm mà không nói lên lời”. Cũng có thể vì riêng tôi ít ra ngoài giao tiếp, nên tiếng Việt của mấy bà, mấy cô Mường dân làng, tôi chịu chết không hiểu. Mấy bạn đi tự giác, họ giao tiếp nhiều, “nhịp cầu thông cảm” dễ dàng bắc qua. Trong bọn công an ở trại, một số chàng cũng là dân địa phương, nhưng có lẽ được đi học ở huyện, tỉnh, rồi thành phố, rồi Thủ Đô, nên tiếng Việt của họ gần như dân kinh Thanh Hóa.

Giống như mấy năm trước ở ngọn đồi cấp thủy, ở ngọn đồi mít và tiêu cho tôi nhiều điều thú vị.

Trước hết, từ cả hai nơi, tôi được nhìn rộng hơn, xa hơn núi rừng, sông nước. Vào khỏang thời gian nào đó của năm, đúng là một bức tranh thủy mặc, khi khác, lại là làn thu thủy, nét xuân sơn. Tôi không được như mấy bạn tự giác hay những bạn đi rừng chặt cây, chặt nứa, lần mò theo đồi nọ, đồi kia, suối nọ, suối kia, để được thấy những cảnh kỳ hoa dị thảo. Chỉ từ hai ngọn đồi với dấu chân người dẫm nát, tôi cũng đã cảm nhận cõi thiên nhiên đang cưu mang con người trên đất nước mình, cưu mang có lẽ từ nhiều ngàn năm trước. Cõi thiên nhiên chan hòa sức sống, chan hòa âm thanh, màu sắc, chan hòa hồn xuân phơi phới, chan hòa ký ức lịch sử con người từ ngàn xưa và sẽ còn mãi mãi về sau. Và, những gì bất xứng với đất trời của ngày hôm nay sẽ có lúc tàn lụi. Có lẽ đó là tâm lý, là sự nhận biết, là ý thức của một tên điên điên, gàn gàn. Không sao, tôi sống an vui từng thời khắc giữa núi rừng này, nơi trại giam cộng sản, nơi thường được coi là một tầng địa ngục.

Trong vòng tục lụy, về cõi nhân gian thường nhật, có nhiều điều để kể ở ngọn đồi tiêu, mít. Anh chàng Quản Giáo hỏi chúng tôi có muốn mua gì ở chợ, chàng sẽ gửi mua vào những ngày có phiên. Chúng tôi gửi chàng mua mấy cân thịt lợn, ít nước mắm, chai rượu trắng thứ thật, tức rượu cất từ gạo, không phải rượu pha từ cồn 90 độ. Mấy chàng công an, có thể có lòng tốt, ái ngại chúng tôi thân phận tù đầy, nên có hảo ý. Bình thường, mọi người vẫn nghĩ rằng có sự giúp đỡ chỉ vì mấy chàng sẽ được chúng tôi chia phần rượu, thịt. Vì gì không biết, xế trưa ngày hôm đó, cả bọn 7, 8 tên tù Đội Hồ Tiêu quây quần “đánh chén”. Chúng tôi chia một nửa số thịt cho chàng Quản Giáo, phải đến 3 ký, còn rượu, chúng tôi giữ lại chừng một tách, đưa chàng cả chai. Mấy chàng Quản Giáo, Bảo Vệ hẹn nhau tối về sẽ xử. Cả năm chưa chắc họ được ăn nhiều thịt như vậy trong một bữa, có khi trong một tháng cũng nên. Phần chúng tôi, không muốn mang vào trại vì phải nhờ tên Quản Giáo nói với Trực Trại, không đáng, nên luộc ngay tại chỗ. Mấy bạn tù trước đã trồng sẵn ít cây húng, cây rau thơm, cây ớt. Chúng tôi cùng nhau bẻ cành cây làm đũa, buổi sáng mang theo bát đĩa, nồi niêu, lấy con dao chặt cây, tỉa lá trong “nhà lô” thái thịt. Hái rau thơm rửa xong bày lên đĩa thịt cao vòi vọi. Bát nước mắm thiếu chanh nhưng đỏ ối ớt. Riêng tôi, ngắt vài chùm hồ tiêu còn non, ăn kèm miếng thịt. Miếng thịt cho ra miếng thịt, dầy dặn, đủ cả, từ lớp bì mềm mại dẻo nhu cao su, rồi đến mấy lớp mỡ, nạc xen kẽ như đan sợi, rồi mới tới phần thịt nạc tươi thơm.Trời đất mênh mang, gió núi gió rừng gió sông lồng lộng, Một tiệc rượu, thịt nhớ đời. Mỗi tên chỉ nhấp một ngụm rượu mà đã ngất ngư, không dám hát ca vì sợ gió đưa đến mọi phương trời, lộ hết, lần sau hết đường nhờ cậy.

Chúng tôi “nhận nhiệm sở” tại đồi hồ tiêu được chừng ba tháng thì đến mùa “thu hoạch” mít. Nghe nói cây mít không có mùa, có quả quanh năm, nhưng có những tháng mít ra rất nhiều quả, tùy theo vùng, theo thời tiết. Có lẽ đồi mít Thanh Cẩm có “mùa” vào khoảng Tháng Tư, Tháng Năm. Một buổi sáng, bước qua cửa hàng rào vào đồi mít, cả bọn “nghe” mùi mít thơm lừng. Phải nói ngay, tôi dùng chữ “nghe” vì nhớ đúng tiếng đó trong câu ông bạn tù già người “Nam Bộ” hỏi, mấy ông có nghe mùi mít không. Ngay chỗ chúng tôi đứng có cả chục cây mít, tìm lần hồi, quả là có một trái mít vỏ bắt đầu ngả màu vàng. Đến đứng ngay dưới gốc cây đó, mùi mít “nghe” rõ ràng hơn. Ghi nhớ gốc mít để tính sau. Mới đến “sở làm”, còn phải đi qua vài thủ tục, như lên “nhà lô” lấy cuốc sẻng đồ đoàn, chờ Đội Trưởng nhận chỉ thị công tác, phân công, quơ quào vài cái cho có vẻ làm việc, rồi “tính gì mới tính”.  Mấy tháng rồi quanh quẩn chăm sóc nâng niu mấy cây hồ tiêu bám thân cây mít, vẫn đợi chờ trái mít xanh có ngày “hội ngộ.” Hôm nay nàng “tố nữ” rắc hương mời gọi, phải cùng nhau thưởng thức trái mít đầu mùa. Vừa rồi tôi giả bộ làm thơ, chứ thực tình không biết “mít tố nữ” ra sao.

“Tiên sư nhà nó!” Dù không hiểu ý nghĩa thực của mấy chữ “tiên, sư” trong câu chửi tương đối hòa bình như trên, nhưng tôi phải thốt ra mà không sợ ai chướng tai bởi vì tôi là tên Bắc Kỳ duy nhất trong cái đội hồ tiêu tám đứa này. Tôi thốt ra vì chàng Đội Trưởng tên Lê Thiên Bảo xuống gặp anh em với nét mặt rầu rầu, nói rằng, thằng đó nói mình hái trái mít ngay lối đi vào, mang lên nhà lô cho nó. Không nhớ rõ lắm có bạn Nam Kỳ nào ĐM hay không. “Thằng đó” tức là anh chàng Quản Giáo. “Dân trong nghề”, đồi mít này chàng Quản Giáo đã trụ 2 năm. Mấy ông già đội hồ tiêu cũ từ trước Tết đã chuyển vào Nam, chàng nhận chúng tôi vào đội hồ tiêu mới, tay mơ, đừng hòng qua mặt chàng. Cả bọn còn đang tiu ngửu, một vị Nam Bộ nẩy sáng kiến, mấy thằng làm đi, còn mấy thằng vác cuốc đi loanh quanh, cả mấy trăm cây mít, đã có một trái chín thì thế nào cũng còn trái nữa. Thông tin liên lạc, mật mã, ký hiệu, chuyển báo tin mừng, kiếm ra mấy gốc thơm lừng nữa rồi. Giờ giải lao, cả bọn trốn vào sau mấy lùm cây, mổ xẻ nàng tố nữ. Trái mít to quá, có lẽ nặng trên 15 ký. Cả bọn cố ăn cho hết vì không thể mang theo về trại. Mùi thơm trái mít quái ác, không thể dấu ai. Lúc đó mới nghĩ ra một điều, lát nữa tên Quản giáo ắt ngửi thấy mùi mít từ mấy cửa miệng, bàn tay. Gặp khó, sáng kiến nẩy ra. Khoa học tiến bộ, phát kiến nhân loại có được là vì vậy. Ra “vườn” rau thơm, hái một nắm, xoa vào tay, vào mồm, mùi mít có bị át đi. Một lúc sau, nghĩ sâu hơn, mới thấy tưởng là sáng mà hóa ra tối, tên Quản Giáo mới ăn xong, nó cũng có mùi mít, đống vỏ mít, sơ mít còn đó, làm sao nó biết mùi mít do chúng mình tỏa hương. Hề hề, có tật, giật mình. Cây mít tìm ra còn một trái đã chín, còn hai cây khác ở gần nhau cũng có trái chín. Đội Trưởng ra “nhật lệnh” ghi nhớ địa bàn, phương hướng, ngày mai hành quân thanh toán mục tiêu. Ăn lo kềnh, có anh phát lo, không biết có bị tiêu chảy hay không. Trong đời, cả bọn chưa có ai ăn liền một lúc nhiều mít như vậy.

Vụ ăn mít xẩy ra giữa lúc trại phát đồ ăn cho tù toàn là bột bắp (bột ngô) quá hạn. Không biết cái thứ bột bắp này say ra đã bao nhiêu năm. Có lẽ ở đâu đó kiểm kê, khám phá ra còn cả kho toàn bao bột bắp. Coi lại, bột đã mủn. Cách duy nhất là phát cho nhà tù, vẫn tính là lương thực cấp phát. Đó là tôi đoán mò như vậy, nhưng khả năng đúng rất nhiều. Cái thứ bột gì màu vàng thật đẹp, nhưng đắng như thuốc ký ninh. Trước đây tôi vẫn thích ăn canh mướp đắng. Từng ăn gỏi lá “Sầu Đâu” đắng nhất trần gian. (Không biết gọi là cây sầu đâu hay cây sầu đông, ở Châu Đốc). Bây giờ, ở trong tù cái gì cũng phải ăn được, vậy mà chịu thua. Mỗi ngày hai lưng bát bột bắp, tôi xin tạ từ không lãnh. Có vị cứu tinh, mít. Cả tháng trời phát bột bắp, cả tháng trời mỗi ngày hai bữa mít căng bụng. Lạ nhất là chẳng sao cả, cái cơ thể thiếu ăn hấp thụ tất tần tật. Ăn liền tù tì “một tấn” mit suốt tháng. Không tiêu chảy, không nổi mụn, không táo bón. Cái bộ máy sinh học tinh vi nhất vẫn là cơ thể con người. Nó được program để thích nghi với mọi hoàn cảnh. Cũng từ đó nghiệm ra, mấy năm rồi cơ thể mình thiếu nhiều quá, bây giờ bù “hàng tấn” đường vẫn chưa đủ.

Trở lại cuộc hành quân sáng hôm sau. Thủ tục xong xuôi, không thấy Đội Trưởng báo tin hái mít cho Quản Giáo. Nghĩa là anh chàng đó không biết trong vườn còn mít đã chín. Yên tâm. Giờ giải lao, Đội Trưởng Lê Thiên Bảo lại phân công, hai anh “biệt kích” trẻ, khỏe đi bắt cóc “nàng tố nữ”, một anh làng nhàng đi hái rau thơm, hôm nay tên Quản Giáo không ăn, nó sẽ ngửi thấy múi mít nếu không có mùi rau thơm che lấp, số còn lại rút vào “khu an toàn”. Hai chàng biệt kích vác về một trái mít khá nặng, phải hơn mười ký. Đội Trưởng lên tiếng, ủa, tôi nói hái một trong hai trái ở chỗ 2 cây gần nhau, nó chín hơn mà. Chàng biệt kích lắc đầu, báo cáo, chỗ đó mất M. nó cả hai trái, đứa nào hái rồi. Trong khi chờ hai anh kỹ thuật cao bổ mít làm việc, mấy đứa còn lại thảo luận các giả thuyết về “tình hình địch”. Ở đây vẫn tiếp tục “cuộc chiến vớt vát” giữa Việt Nam Cộng Hòa và Cộng Sản Hà Nội.  Một là bọn hình sự tự giác, hai là mấy tên công an trẻ, bọn chúng hàng đàn, hàng đống, cũng đói ăn xanh xao vàng vọt. Tay nào được cử làm Quản Giáo tù Miền Nam coi như chuột sa hũ gạo, xin xỏ, nhờ vả dễ dàng. Ngoài hai bọn trên, cũng có thể tay Quản Giáo, tay Bảo Vệ hôm qua, hai anh này biết rõ đã có mít. Mấy anh đó, từ tù hình sự, đến Quản Giáo, đến Bảo Vệ nắm vững “qui trình” ra hoa, kết trái của cây cối trong trại, đã cuỗm mất “tài sản” của mình. Chữ “tài sản” không phải nói chơi. Theo nguyên tắc, hoa trái tại đồi này “thuộc về” Đội Hồ Tiêu. Chỉ thuộc về một tí thôi, nghĩa là Đội Hồ Tiêu trách nhiệm gìn giữ, bảo quản khi hoa trái còn ở trên cây, có lệnh hái xuống rồi, thuộc về Trại (viết hoa), tức là thuộc về Ban Giám Thị. Tổng hợp dữ kiện, tin tức tình báo, phân tích, cuối cùng đưa ra “phương án giải quyết”, rồi “lên kế hoạch hành quân.” Đội Trưởng Lê Tiên Bảo, tay võ sư hạng nặng ở Phủ Tổng Thống, tóm tắt “hội nghị”: Rất nhiều phần là phía Quản Giáo với tay Bảo Vệ hôm qua “ăn cắp”. Hai trái mít đều to, bọn chúng tối qua không ăn hết được, không dám mang về phòng ngủ, vậy sẽ dấu nơi nào đó. Sáng nay trễ rồi, sắp đến giờ về, để đó. Buổi chiều hãy tính, hoặc lục tìm để thu hồi của cải nhà nước, hoặc đi tìm nguồn lương thực mới. Chẳng biết vì lẽ gì, hoặc Quản Giáo gài “máy nghe lén”, hoặc thấy giáng điệu “khẩn trương” của cả đội tù, hoặc tình cờ, ngẫu nhiên, chiều nay hai chàng Quản Giáo, Bảo Vệ cứ lang thang dưới “mấy rặng trâm bàu” làm thơ, viết nhạc. Tù đành chống cuốc chờ thời. Chuyện thu hồi tài sản kể như không thành, vậy tìm nguồn mới dễ hơn. Động tác của tù rất đơn giản, hai tay nhịp nhàng cho lưỡi cuốc “gãi, vờn” mấy cọng cỏ, nhưng mắt ngẩng nhìn cây lá trên trời, có khi gốc mít, gốc tiêu đó chẳng có cọng cỏ nào, cũng vẫn cuốc. Tìm được thêm ba cây có trái chín, bàn nhau kéo xuống làm ngay tại chỗ một trái, còn hai trái vùi vào rãnh, hố, bờ bụi.

Tôi đã báo cáo ở trên, cả tháng trời bị ép ăn bột bắp hết hạn cả trăm năm, cũng là cả tháng trời ăn mít ngày hai bữa. Nhưng tháng đó không trôi đi lững lờ, đơn giản tí nào. Đó là một tháng quần nhau “giữa ta và địch”, tranh giành nhau từng trái mít y như trước đây cắm cờ, lấn đất dành dân. Địch đi dấu tài nguyên vũ khí, ta cũng đi dấu. Ta ra tay trước lùng tìm kho địch, rồi địch cũng nghĩ ra lùng xục tìm kho của ta. Cứ như thế, ta với địch vờn nhau, ngày này qua ngày khác. Có những trận ta thắng lớn, tìm được ba, bốn trái mít địch dấu trong lùm, bụi tuốt trên cao, gần với khu đập đá, ta vác xuống mang dấu chỗ khác. Cũng có khi ta thua xiểng liểng, mất trọn kho tàng. Buồn cười một điều, ta với địch làm như không có gì xẩy ra, địch tập họp ta như thường lệ, cũng vẫn lảm nhảm lao động, trây lười, phấn khởi, cải tạo tốt đợi ngày về. Do đó, tôi nghĩ rằng nhiều khi không phải một mình tên Quản Giáo ăn cắp mít, cả bọn công an đều đi ăn cắp mít, ăn cắp tiêu. Phe ta có vài điều thất lợi, một là mấy tiếng đồng hồ từ lúc chúng tôi đi tắm rồi nhập trại, đến lúc trời tối hẳn, hai là, cả ngày Chủ Nhật, chúng tôi không đi làm, bọn chúng ta thồ đi lùng sục khắp đồi. Cuối cùng, lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo, ta không dấu mít vào bờ, vào bụi, vào mấy hố, mấy rãnh thoát nước mùa mưa. Ta nghĩ ra kỹ thuật ngàn năm không ai biết được: Chôn mít dưới đất, địch hoàn toàn không ngờ. Cuộc chiến kéo dài gần một tháng, rồi cũng trôi qua, có lệnh thu hoạch mít giao nộp trại. Hơn 500 gốc mít, thu được 60 hay 70 trái gì đó. Tháng “trăng mật” đã qua. Cũng may, tai họa bột bắp vừa hết. Hai tuần lễ tiếp theo, moi lên chỗ hạt mít chôn vùi dưới đất để dành, mang ra luộc, nướng. Lạ thật, chẳng thấy ai thải ra mùi hương nào cả. Sau này, nghe nói có ngài thi sĩ than “Ở chỗ nhân gian không thể hiểu”. Còn nhiều điều không thể hiểu mà ngài không biết, ăn hạt mít mà không bị “trung tiện”.

Tháng ngày thấm thoắt thoi đưa, gió thu lại về trên sông Mã. Sau mùa thu hoạch tiêu, trên 500 gốc tiêu được đâu 5, 6 ký hạt, một hôm cả bọn bàn nhau, (nhân gió thu về, tiết trời trở lạnh), hay là ta nhờ tên Quản Giáo vào làng bắt con chó? Thịt heo phải đợi chợ phiên, ở chợ cũng không nhiều thịt bán, hoặc đợi khi nào có nhà tên cán bộ định “ngả” con lợn nuôi suốt năm qua, gọi người chung đụng kiếm lời. Mấy chàng Miền Nam nghe chó là e dè, nhưng sau “khóa đại học” 8, 9 năm rồi, đời đã dạn dày gió sương, bọn “chèo” còn không sợ nữa là chó. Làm đi! Không rõ từ đâu, từ bao giờ, chữ “chèo” để chỉ mấy tên công an được mấy bạn trẻ Phục Quốc dùng ở Thanh Cẩm. Lâu dần thành tiếng mọi người đều dùng.

Cũng có vài vị ở Đội Hồ Tiêu vì lý do tín ngưỡng hoặc thói quen không tham gia “chương trình cải thiện”. Một số bạn tù cùng buồng ham vui, nhảy ké luôn chuyến tàu hoàng hôn. Tôi không nhớ rõ cuối cùng bao nhiêu khách nhập tiệc, cũng không nhớ đã gom được bao nhiêu tiền đưa tên Quản Giáo. Có thể khoảng 150 đồng. Có lẽ con chó vừa vừa giá độ 100 hay 110 đồng, mất 10 hay 15 đồng rượu, măng, giềng, bún , bánh đa (bánh tráng nướng), mấy thứ lỉnh kỉnh gì đó … Còn lại, chàng Quản Giáo ăn lời. Ngày G, tên Quản Giáo kéo theo một bạn tù hình sự tự giác, vào làng. Họ nói đi về phải mất 3 tiếng đồng hồ, mất thì giờ lùng tìm “con cầy mơn mởn vừa độ”. Phải nói chàng Quản Giáo này là tay cự phách. Chàng mới đeo lon trung sĩ công an, chưa đến 24 tuổi, mà một tay chàng nấu đủ mấy món cầy tơ. Bạn tù hình sự đi theo chàng để dắt chó, nhất định không chịu cho tôi biết con chó giá bao nhiêu. Bạn cũng thú thực không biết nấu mấy món “truyền thống” này. Là thanh niên Miền Bắc, làm gì cũng nhanh thoăn thoắt theo sự sắp xếp của tay Quản Giáo. Lúc đầu, cả bọn tù chúng tôi trốn qua vườn chè ở kế tiếp sườn đồi trồng mít và tiêu, bởi vì đó là lúc ghê gớm lắm, cắt tiết chú chó màu đen đang ứa nước mắt trong đôi mắt buồn rầu, tuyệt vọng. Sinh vật nhận biết nhiều thứ chúng ta tưởng là không biết. Sinh vật có linh tính khi gặp hiểm nguy. Mỗi lần Tết đến, người ta cột giữa sân trại một chú trâu già, bò già. Mấy bạn tù hình sự cho biết, mấy chú đó khóc khi bị dắt đi, biết là đang đến nơi hành quyết. Ngồi trong căn lều nhỏ của tôi ở vườn chè, tự nhiên tôi muốn bỏ không ăn bữa thịt tối nay. Xúm quanh bếp lửa, chia nhau mấy tách nước chè, mấy bạn thuyết phục tôi đừng nghĩ gì thêm. Thực sự trước 1975, chỉ đôi lần nể nang, tôi có đụng đũa vào mấy miếng rựa mận, miếng thịt nướng. Bình thường, tôi vẫn ngại ngần khi nghe nói thịt cầy.

Tàn một ấm chè, chừng 45 phút, chúng tôi kéo về lại đồi hồ tiêu. Ngay trước nhà lô, bếp lửa đang cháy. Tay Quản Giáo luôn miệng sai bảo, bạn hình sự luôn miệng dạ, thưa ông. Tay Quản Giáo ngửng lên giải thích, trong nồi này, dưới cùng là món sáo măng, ở giữa tôi làm rựa mận, trên cùng là món chó luộc. Lát nữa, tắt củi, dùng than làm món nướng nữa là xong. Còn món tiết canh, dồi, tôi cho thằng này (bạn tù hình sự), nó mang về “làng” nó làm. Làng đây là khu nhốt tù. “Dưới làng” là khu nhốt tù bình thường, phân biệt với khu nhốt tù kỷ luật, kiên giam. Mấy tay tự giác hình sự tương đối tự do, buổi tối có thể xin trực trại cho vào khu bếp nấu nướng, miễn là món nấu phải ra hồn, Trực Trại có thể ké phần. Bạn hình sự góp tiếng, mấy bác (bọn tù chúng tôi) không biết, con phục ông (“ông” Quản Giáo 24 tuổi), chưa thấy ai nấu ba món một lúc trong một cái nồi như thế này. “Ông” vênh mặt, mày ngu lắm: Món thịt luộc trên cùng chín được là do hơi bốc lên, chất thịt vẫn như y nguyên, không như luộc với nước, mất mẹ nó chất ngọt. Rựa mận ở giữa, một phần chín vì nước sôi, một phần vì hơi nóng. Gia vị ướp vào cứ thấm dần vào thịt. Hơi gia vị cũng bốc lên, làm thơm miếng thịt luộc ở trên. Nước gia vị có tiết ra chảy xuống dưới một phần, món sáo dưới cùng hứng tất cả, thấm vào thớ măng, cắn một miếng, toàn bộ con chó như chui vào họng mày. Nói xong, chàng vung đũa một vòng, đôi mắt cũng quét một vòng nhìn bản mặt mấy tên tù Miền Nam. Rõ ràng chàng muốn ám chỉ chúng tôi cũng “ngu bỏ mẹ.”

Xế chiều, đầu bếp Quản Giáo nấu xong, chia phần, hôm nay ai cũng chuẩn bị sẵn nồi niêu. Phe Quản Giáo lấy gần một nửa, chúng tôi được hơn một nửa. Bạn hình sự gói ghém được một ít thứ gì đó, thêm nồi tiết, mang về trại. Chúng tôi chỉ lấy chút xíu rượu, chàng đầu bếp lấy hết cả một chai lớn. Chàng đã hẹn sẵn, lũ bạn Quản Giáo, Bảo vệ đã thấy lảng vảng thăm dò, chắc phe chàng phải đến 5 tên. Còn chúng tôi, khi nhập trại khệ nệ bưng nồi xoong. Tay Quản Giáo đi theo nói chuyện với Trực Trại, xin phép cho chúng tôi mang mấy thứ “bồi dưỡng” vào buồng.

Sao Chè 

Ở trên tôi kể chuyện cả đội qua khu “đồi chè” để tránh nhìn cảnh làm thịt con chó, và nói đến “cái lều của tôi”. Để tiện việc kể chuyện, tôi nói vắn tắt về cái lều như vậy. Bây giờ, xin nói rõ hơn kẻo quí vị cho tôi là “đại gia”, làm chủ (nhà quê dùng chữ “sở hữu” – cô ấy sở hữu một nhan sắc …) nhà và đất tại nơi sơn thủy hữu tình Chiềng Chàm, Cẩm Thủy, Thanh Hóa.

Sườn đồi phía sau lưng nơi nhốt tù khu K1, chạy vòng chân núi đá vôi, bọn công an trại Thanh Cẩm cho trồng cây mít và cây hồ tiêu trên diện tích khoảng 4 phần 5 triền đồi. Chỗ còn lại, họ cho trồng cây chè. Từng luống chè chạy dài trên đất bậc thang, từ trên xuống dưới, có lẽ chừng 30 bậc, hay hơn. Tôi độ chừng 600 gốc chè. Sau những tháng mưa mùa hè hoặc mưa phùn mùa đông, cây chè đâm chồi. Trong đám lá xanh mơn mởn nhú lên những cánh lá nhỏ nhắn, xinh xinh, màu xanh nõn, nhạt. Một “búp” lá ở giữa, hai cánh lá non xòe ra hai bên, người ta gọi là “một tôm hai tép”. Theo giới nghiện chè, ấm chè “cao cấp” hạng nhất phải có nước lúc nào cũng xanh, tỏa hương thơm thuần của lá chè, theo làn hơi bốc lên từ tách chè, nhấp một ngụm, nuốt xuống, vị ngọt còn đọng lại nơi cổ họng, nơi đầu lưỡi. Để có một ấm chè như vậy, người ta chỉ ngắt búp chè một tôm hai tép mang về sao. Ngắt hết một tôm hai tép, mới đến đợt cắt cành chè non cho loại chè ngon cấp dưới, rồi đợt cắt cành chè già cho loại chè bình thường. Những cành chè già, lá xanh đậm, cọng to, cho nước chè nhiều chất ta nanh (tanin), nước chè màu đỏ, nhiều vị chát.

Đội Hồ Tiêu chăm sóc đồi tiêu, đồi mít, kèm thêm đồi chè. Mùa hái búp chè, Quản Giáo giảng giải cách hái búp, cách sao chè, rồi hỏi có ai tình nguyện “sao chè”. Cũng như việc trộn vữa của đội xây dựng, tưởng là việc nặng, ít ai muốn làm, tôi tình nguyện. Việc sao chè cũng là việc khó nuốt, phải ngồi mấy tiếng đồng hồ bên bếp lửa, đôi bàn tay trần vọc vào đống lá chè bốc hơi nghi ngút trên chảo gang, nóng lắm, bỏng như chơi. Cũng mình tôi tình nguyện. Thằng tôi thuộc loại lãng tử giang hồ vặt, cái gì cũng muốn biết, muốn nếm qua. Toàn đội đi hái búp chè, mang vào “ủ” ở nhà lô, khóa kín cửa vì sợ mất cắp. Hái được hai ngày, lượng chè đổ ra đầy chảo gang lớn, đến lượt tôi “thao tác”, thi hành nghiệp vụ. Cả đồi chè hái mất 5, 6 ngày mới xong, sao làm 3 mẻ.

Ở đồi chè có một túp lều nhỏ, để chứa gì đó, chắc là cuốc sẻng, và củi. Trong lều có 3 hòn đá lớn thay mặt 2 ông 1 bà táo, trên đầu 3 vị đội cái chảo gang lớn. Sao chè phải dùng chảo gang mới đủ độ nóng, nóng đều, khi “đánh mốc” mới ra được phấn chè. Tôi chiếm dụng túp lều đó, chiếm dụng khu vực cấm không cho tù vào, nhất là mấy bạn tù hình sự tự giác, lúc hái chè, sao chè, tuyệt đối không được bén mảng. Các bạn ấy nhanh lắm, khua tay một cái như nhà ảo thuật, mất cả lạng chè. Tôi là “chủ nhân ông” túp lều chè, kê khúc cây làm ghế, “ngồi thơ thới, hân hoan” trước bếp. Đầu tiên cứ pha một gô chè đã, nhâm nhi cho tiêu bớt số hạt mít ì ạch trong bụng, có khi bụng căng là do củ khoai mì từ mấy gốc mì “mọc hoang” lẫn trong đồi mít. Có lẽ mấy bạn tù tiền nhiệm vùi mấy đốt cây khoai mì, mấy dây khoai lang vào mấy nơi đất ẩm trên đồi, cứ thế, khoai mì, khoa lang nối tiếp giống nòi, cố gắng sinh tồn chờ các kiếp tù ghé vào nơi thâm sơn cùng cốc. Rồi Quản Giáo dẫn chàng tù khệ nệ bê bịch chè ủ xuống bếp giao tôi. Căn dặn đôi điều, xong chàng về nhà lô nhìn xuống canh chừng, “bảo vệ” tôi không bị ai quấy rầy.

Chảo bắt đầu khá nóng, tôi đổ bịch chè túm trong bao tải lớn vào chảo. Một chảo đầy vun chè, những búp chè đã ngả màu, không còn “nét thanh xuân” như mấy ngày trước. Thằng tôi hay nghĩ ngợi lẩn thẩn, còn gọi là hơi “hâm”, về số phận những búp chè non. Đang vui chơi với mấy hạt sương, dưới tia nắng ban mai ấm áp, lung lay đùa rỡn với chị gió bay ngang, từ đâu bàn tay con người dã man ngắt lìa khỏi cây mẹ. Bây giờ bị thằng tù tôi nung cháy trên chảo, phải trả thù cho bõ ghét, Búp chè thi nhau nhả hơi nóng, nóng lắm. Muốn sao chè phải dùng tay không, tay để trần, không được dùng đũa, hay dụng cụ gì khác đảo chè. Hai tay vọc vào đống lá chè bốc hơi hừng hực có thể đến gần 100 độ. Nên phải thật nhanh tay. Vọc vào thật nhanh, đảo lên, rồi lại vọc vào, đảo lên nữa, liên tục, đều khắp. Sao cho mọi búp chè nóng đều nhau, “chín” đều nhau. Chừng một tiếng rưỡi đồng hồ trôi qua, lá chè teo lại, ép xuống còn lưng chảo. Vẫn tiếp tục đảo đều đống lá chè đó, thỉnh thoảng cố dành 15 giây, nửa phút, hớp ngụm nước chè trong gô cho đỡ khát. Sức nóng làm khô mặt, khô cổ, mồ hôi ra như tắm dù ngay những ngày đông. Áo ấm cứ thế cởi dần, cởi thật nhanh để chè không cháy. Đảo cho búp chè khô dần nhưng không được cháy. Cháy là chè khét. Thêm hơn nửa giờ, búp chè đã khô, teo lại lăn tăn như que tăm gẫy. Một chảo đầy vun lá chè, nặng chắc mười mấy ký, bây giờ sọp xuống như dính chảo, độ chừng hơn một ký, nhiều gấp 4, 5 lần bịch chè tôi xin cho Tuấn Râu. Cậu ta mất đâu gần một trăm đồng cho bịch chè đó, mà loại chè chỉ là ngon vừa, còn mấy bậc nữa mới bằng loại chè tôi đang làm đây. Tôi đổ chè ra một bát ô tô lớn, lấy khăn vải lau chảo cho sạch hết lớp cặn, bã dính. Lau thật kỹ cho lòng chảo bóng trở lại, những cặn, bã, bụi đó sẽ trờ thành than, cháy khét khi tôi tiếp tục làm giai đoạn sau của việc sao chè.

Nghỉ chừng 10, 15 phút cho tay đỡ mỏi sau gần hai tiếng đồng hồ khuấy, đảo, chờ bếp nguội bớt, rồi tôi đổ bát chè khô vào chảo. Cho củi cháy vừa phải, bây giờ không cần chảo cực nóng, tôi dùng bàn tay xoa lên lớp chè rải đều lòng chảo, vừa xoa chậm rãi, vừa hơi dồn sức ép xuống. Ép nhè nhẹ thôi. Ép mạnh, cánh chè khô gẫy vụn là hỏng bét. Ép sao cho cánh chè cọ vừa phải vào lòng chảo, cho lông trên cánh chè “sổ” dần dần ra, thành lớp trắng phau, gọi là phấn chè hay tuyết chè, nhưng nhân gian dùng chữ “đánh mốc”, vì tuyết đó trông giống như mốc. Chừng nửa giờ đến 45 phút, chè trắng đều, xoăn tít, cong queo như cái móc lưỡi câu, đổ trở lại cái tô lớn. Thế là xong. Người ta gọi đó là loại “chè móc câu”. Đợi nguội, bốc nhẹ từng nắm chè trải lên tờ giấy, hay cho vào cái bao giấy Quản Giáo đưa trước. Lúc này lại thêm một lần phân loại. Hai gói giấy gần bằng nhau, mỗi gói chừng 4, 5 lạng chè, tôi đoán tên Quản Giáo lấy 1 gói, nộp cho Ban Giám Thị 1 gói. Phần tôi, một gói chừng hơn một lạng. Lại còn một thứ chè nữa, nhờ tên Quản Giáo dặn dò tôi mới biết, đó là “chè cám”. Tên Quản Giáo nói chính chè cám mới là ngon nhất. Chè đó là do những đầu búp, đầu lá non trong lúc sao, bị gẫy vụn ra, nát như cám. Tên đó dặn tôi nhớ để riêng chè cám. Tôi để riêng cho nó một nửa, còn tôi một nửa cho chung vào gói chè cất riêng, về trại, lúc pha, tính sau. Sau 3 buổi sao chè, tôi có chè ngon dùng cả tháng trời. Quả thực, chè “móc câu” ngon như danh tiếng đồn đãi, dù tôi là tên “ngưu ẩm.” Sao chè trở thành cái thú của tôi, mong đến lúc có chè để sao. Chúng tôi chỉ hái búp thôi, còn cành chè, không rõ giao cho ai cắt, làm chè. Đó là đợt chè duy nhất của mùa đông 1983. Qua Tết, tôi được thả về. Nói cho rõ, tôi được “thả”, không phải được “tha”. Tôi có làm gì “phạm” để đứa nào “tha” tôi.

Thư và Quà qua đường Bưu Điện

 Thăm Nuôi

Đầu Tháng 12, năm 1976, nhóm tù Long Thành chúng tôi đến trại giam Thanh Cẩm. Cho đến hơn 1 năm sau, đầu năm 1978, chúng tôi lần đầu được gửi thư về gia đình. Khoảng 14 hay 15 tháng gia đình không được tin tức gì của tôi, không biết còn sống hay đã chết. Sau này tôi nghe kể, ở nhà, các bà hỏi thăm nhau, biết gia đình nào cũng vậy, bặt tin chồng, con, … nên yên tâm hơn vì nghĩ họ mang chúng tôi đi dấu đâu đó.

Một chàng công an nào đó, tôi nhớ hình như là Trung Úy Tuy, Chính Trị Viên nhà tù, tập họp bọn tù Miền Nam ở hội trường, báo tin cho viết thư về gia đình. Chàng ta chỉ thị những gì được viết và không được viết. Thư viết trong phạm vi một mặt giấy vở học trò. Nội dung thư báo tin gia đình được phép gửi quà, quà gì được gửi, quà gì không được gửi, trong giới hạn 3 kg. Thư phải “hồ hởi, phấn khởi”, động viên gia đình đi kinh tế mới, gia tăng sản xuất để (bọn tù) “yên tâm cải tạo tốt”. Phải nói gia đình yên tâm vì (mấy thằng tù này) được đảng và nhà nước tạo điều kiện tốt cho việc học tập cải tạo. Thư không được nói đang ở đâu, nói gia đình gửi gói quà kèm thư đến hộp thư số … Có thể tôi nhớ nhầm chỗ này, hình như cho gia đình mang gói quà đến địa điểm ở Khám Chí Hòa, ở đây sẽ chuyển cho chúng tôi. Làm vậy để gia đình không biết chúng tôi  đã ra Bắc. Sau này địa chỉ gửi thư, gửi quà cho chúng tôi mới là hộp thư.

Cả bọn về buồng om sòm bàn tán. Sôi nổi nhất là cuộc thảo luận trong 3 ký quà, nên có những thứ gì, thứ gì để lâu được, thứ gì “chất lượng”, nên chọn chất mỡ nhiều hay chất đường nhiều, hay chất bột nhiều, … Đồ dùng nên xin thứ gì, lạnh quá, cần quần áo ấm, có nên xin sà bông không, còn thuốc men, cần thuốc men gì nhất … Bàn tán riết nhiều bạn quên rằng có thể ở nhà gia đình đang gặp khó khăn, nhiều thứ đã trở thành sa sỉ phẩm, rất tốn kém. Cuối cùng, hầu hết lá thư đầu tiên gửi về gia đình giống như một bản liệt kê các món ăn. Có thể với nhiều bạn tù, trong đời ít khi nào phải cân nhắc kỹ càng để viết một lá thư như lần này do bị áp đặt nhiều giới hạn.

Với một trang giấy học trò, tôi chú trọng vào chuyện kín đáo báo tin tôi đã ra ngoài Bắc, chuyện muốn vợ tôi đưa hai đứa nhỏ vượt biên. Đại khái, tôi hỏi thăm cả nhà, đặc biệt là Đẻ tôi. Sau đó, tôi nói về áo quần trại cấp phát đủ để dùng. Lại thêm mấy cái áo lạnh gia đình cho khi vợ tôi thăm nuôi ở Long Thành, nhất là cái áo bông, tôi mặc hàng ngày khi đi lao động. Cái quần trong bó sát người rất tốt,  mặc thêm quần ngoài vẫn thấy thoải mái. Tôi nói vợ tôi cố gắng đưa hai con đi thăm “bác Toàn” ở Hà Nội, để học cái hay, cái đẹp. Anh Đỗ Quý Toàn đang ở Canada. Cuối cùng, báo tin trại cho nhận 3 kg quà. Ở nhà có cái gì, cho cái ấy. Thứ nào cũng tốt đối với tôi. Về thuốc men, tôi xin đặc biệt Preparation H, lúc đó tôi bị trĩ, và thuốc tiêu chảy do trận thượng thổ hạ tả trước đây, mấy loại thuốc của đông y để tránh phiền toái khi nhận quà. Tôi muốn để vợ tôi tùy tình hình tài chính, giá cả ở “ngoài đời” mà quyết định. Chừng 3 tuần sau, khi quà đến, hầu như các gói quà gần giống nhau. Ở ngoài, các bà, các cô thân nhân “tù Miền Nam” vẫn gặp nhau, trao đổi tin tức. Dịp gửi quà này trở thành dịp đặc biệt để trao đổi kinh nghiệm. Do đó, vợ tôi biết nên gửi thứ gì. Trong thư trả lời, vợ tôi nói vì tôi không xin gì rõ ràng, nên phải tham khảo mấy lá thư của các chị bạn. Đẻ tôi làm gói thịt băm đặc biệt với độ mặn nhiều, có khá mỡ, thêm ít ngọt, để giữ lâu, và để tôi có đủ chất đạm, chất béo, chất đường…

Từ lúc gửi thư đến khi nhận quà chưa đến 3 tuần lễ. Khoảng thời gian như vậy là khá nhanh. Tôi không tin vì lý do nhân đạo mà họ làm như vậy. Có thể ở Sài Gòn, sắp tới dịp Tết, mọi người xôn xao vì hơn một năm qua không nhận được tin tức chồng, con. Họ muốn giải tỏa sự căng thẳng đó. Lại là cơ hội tuyên truyền nhân dịp những ngày truyền thống cuối năm. Lý do khác, có vẻ thực tế hơn, tình hình sức khỏe tù Miền Nam xuống quá. Số tù này vẫn là món hàng để mặc cả với Mỹ, để chết nhiều không lợi, luôn cả đối với dư luận thế giới. Và, mấy năm qua, trả nợ Tàu, không còn đủ lúa gạo sắn khoai cho dân dùng, tù càng không có, lấy cả bo bo của ngựa mang cho người ăn, cũng không đủ. Tiền bạc chi cho chiến tranh ở Cambodia, và Tàu cũng lấy hết, ngân sách không còn, chi bằng bắt gia đình tù xoay xở. Tù Miền Nam được tiếp tế, cán bộ cũng được hưởng lây. Bọn đểu giả cộng sản không bao giờ thương tù, cũng không thương dân. Giai cấp (mới) bọn chúng lo cho nhau mà thôi.

Cá nhân tôi, đợt gửi quà này đến đúng lúc tôi rất cần. Cách đây hơn một tháng, tôi bị một trận thê thảm. Một buổi sáng, khi ngủ dậy, tôi thấy chóng mặt quay cuồng. Nhắm mắt nằm yên, thì dễ chịu, mở mắt ra, trần nhà bỗng nhiên nghiêng ngả, cố nghiêng đầu, mọi thứ đảo lộn hết, nhộn nhạo muốn ói mửa. Tôi báo Đội Trưởng khai bệnh tại buồng vì không cách nào ngồi dậy. Nhỏm dậy, té ngay lập tức vì cả căn phòng quay cuồng từng đợt, không còn biết rằng mình đang ngồi trên sạp ngủ. Y tá cho nghỉ ở nhà, điều trị bằng một vốc thuốc “xuyên tâm liên,” khoảng trăm viên thuốc màu hồng (hay xanh, tôi không nhớ) nhỏ tí, trông như bị mốc. Uống một lần. Cứ theo tên thuốc, phen này tim tôi chắc bị xuyên hàng trăm mũi. Với số lượng như vậy, vốc thuốc này để trị “bịnh đói” là tốt nhất. Ngày xưa, tim bị các kiều nữ hành, bây giờ, bị y tá hành.  Buổi trưa, anh bạn cùng làm Dân Vận Trần Văn Chung chạy lên thăm tôi, Chung ở đội khác, hình như phòng 2. Lúc đó hình như tôi đang ở Phòng 4. Nghe kể bệnh tình, Chung hẹn chiều về, nhiều thì giờ sẽ kiếm cho tôi một hộp sữa đặc. Chung cho là tôi kiệt sức vì thiếu ăn. Kho dự trữ của tôi từ Long Thành mang ra Bắc. dè sẻn lắm cũng đã hết từ nửa năm rồi. Mấy tháng nay cơ thể tôi hoàn toàn trông nhờ vào hơn nửa bát bo bo mỗi bữa, kèm chút nước chấm là mắm tôm pha loãng. Mà bo bo có lớp vỏ cứng và dai, ăn bao nhiêu cho ra bấy nhiêu. Chiều về, Chung mang cho tôi hộp sữa đặc, chàng mang sẵn nước sôi xin từ dưới bếp, pha cho tôi bát sữa cho tôi uống. Sáng hôm sau, ngày nghỉ, chàng lên cho tôi uống sữa tiếp. Uống hết hộp sữa, tôi hết chóng mặt. Hỏi chàng kiếm sữa ở đâu. Có mấy vị lão thành vẫn tồn trữ được vài hộp sữa, Chung năn nỉ xin đổi áo lạnh. Các vị có tuổi, chịu lạnh khó hơn bọn trẻ. Tỉnh dậy, tôi đưa Chung cái áo len dầy để thanh toán món nợ với ai đó. Đây là lần thứ hai Chung cứu tôi qua cơn bệnh nặng. Lần trước cứu tôi qua khỏi trận thượng thổ hạ tả ở Long Thành. Nhưng chưa hết, bởi các cụ đã dậy, phải quá tam ba bận mới là dứt nợ. Chàng này nặng nợ với tôi. Khoảng giữa năm 1981, cũng một buổi sáng ngủ dậy, tôi co chân để xoay người ngồi lên đi vớ, một đầu gối đau nhói, và cứng nhắc, không làm sao co được. Nhờ người kêu bạn Chung tính nhờ dìu tôi đi khai bệnh. Chung nói, để nhờ Y tá khám bệnh tại buồng. Thủ tục này thường rất khó, ít khi xẩy ra. Lần trước tôi được hưởng vì lúc đó số tù Miền Nam còn ít, “y tá Miền Nam” ít việc. Bây giờ bất cứ ai khai bệnh đều phải đến Bệnh Xá. Đội Trưởng nói lúc báo cáo xuất trại sẽ báo cáo tôi bị bệnh, nằm tại buồng đang chờ khám bệnh vì không đi được. Y tá sẽ báo cáo Trực Trại sau. Tôi định bụng khai một chân hoàn toàn cứng không co được, còn một chân, chỉ “hơi” co được thôi, Y tá nếu ép chân gập lại, tôi cứ la toáng lên đau lắm. Chàng Chung chạy qua Bệnh Xá để năn nỉ y tá. Chung vốn “khéo ngoại giao”, cũng đang làm Đội Trưởng một đội. Khám bệnh xong, Y Tá phán, tôi cần B1. Mà Xuyên Tâm Liên không phải B1. Có một cách là kiếm cám để ăn. Quanh năm ăn khoai mì, lấy đâu ra cám. Lợn còn không có cám để ăn. Trưa đi làm về Chung chạy lên xem tình hình, rồi chạy đi “ngoại giao” B1 cho tôi. Ba ngày liền uống B1, chẳng biết số lượng bao nhiêu (tôi từng học trường Dược 5 năm, không cần để ý chuyện vặt đó) vì Chung cho uống, tôi đỡ, rồi khỏi hẳn.

Trở lại chuyện lần đầu được nhận quà, cơ thể thằng tôi lạ thật, trong 6 tháng trời chỉ cần gói quà 3 ký, chừng hơn 2 ký rưỡi thức ăn, mà thân trai vẫn đứng vững giữa trời! Sau đó, một năm đôi lần, họ phát phiếu gửi quà cho gia đình, lâu dần, cho gửi tùy ý, mỗi năm 4 lần, trọng lượng quà cũng tăng lên dần dần, nhưng hình như bưu điện không cho gửi quá 10kg mỗi gói quà. Hơn 40 năm trôi qua, có thể tôi nhớ sai đôi điều. Xin chỉ bảo, cảm ơn nhiều. Bọn Hà Nội rút kinh nghiệm để gia đình “nuôi” chúng tôi cho nhiều “kết quả phấn khởi”, nên từ cuối 1978, họ cho thăm nuôi.

Họ cho tù Miền Nam biết kỳ thư này báo cho gia đình biết được phép đến thăm nuôi chúng tôi. Trong thư dặn dò gia đình những thứ không cho tù nhân mang vào trại như những chất dễ cháy, chất gây nổ, sách báo phản động, sách tiếng nước ngoài, dao kéo, vũ khí. Nếu cho tù nhân tiền, trại sẽ giữ, tù nhân muốn tiêu gì cứ việc lấy ra. Tôi không nhớ giới hạn quà thăm nuôi là bao nhiêu ký. Lại một đợt xôn xao bàn tán gia đình nên mang gì, bao nhiêu, tỷ lệ đạm, béo, ngọt ra làm sao, đồ ăn gì để lâu được một năm, … Tôi cũng báo tin, nhưng nói vợ tôi không nên đi, quà gửi bưu điện là đủ cho tôi dùng giữ sức khỏe. Hơn nữa Sài Gòn – Thanh Hóa quá xa, nghe nói khó mua vé tàu, xe. Từ Thanh Hóa vào huyện lỵ Cẩm Thủy đã khó, còn từ Cẩm Thủy vào được đến trại là những quãng đường vượt rừng, lội suối, không có xe cộ. Mấy điều này tụi tôi nghe bọn công an Quản Giáo, Bảo Vệ bàn tán khi biết chúng tôi được thăm nuôi. Thư nào tôi cũng nhắc đi thăm bác Toàn là cần hơn cả.

Hơn một tháng sau khi thư báo tin cho thăm nuôi gửi về gia đình, ngay cuối năm 1978, bắt đầu có mấy bà đầu tiên đến thăm nuôi tù Miền Nam ở Thanh Cẩm. Trong số đó, có một chị là vợ anh bạn cùng làm Dân Vận với tôi. Chị cũng biết bà xã tôi, do đó bà xã tôi gửi chị mang cho tôi được chút ít quà. Bạn bè của anh bạn và của chị , mỗi người chỉ dám gửi chút ít. Đúng ra, ngay từ những năm 1977, 1978, đã có một, hai người trong nhóm tù Miền Nam ở Thanh Cẩm được thăm nuôi, khi chưa có lệnh chính thức. Tôi đã kể ở đâu đó chuyện ông Tạ Văn Ấm được thăm nuôi, được về sớm do con là Kiến Trúc Sư ở Pháp có công xây Tòa Đại Sứ Việt Cộng.

Chuyến đầu tiên đó hình như có 3 bà vợ đến thăm chồng. Ký ức ở phần này của tôi không đáng tin lắm, có thể tôi lẫn lộn với vài chuyến thăm nuôi sau đó cũng của anh bạn Dân Vận này. Anh bạn tôi làm ở nhà bếp, được ưu đãi là ở đêm với vợ tại nhà thăm nuôi. Hai vị kia được thăm 2 tiếng đồng hồ rồi mang quà vào trại. Bọn cộng sản không từ một thủ đoạn nào để lung lạc, mua chuộc đối phương. Bọn chúng gọi căn phòng cho hai vợ chồng người tù ở đêm với nhau là “Nhà Hạnh Phúc”. Mặt nào đó chúng xác nhận những người tù khác và gia đình đến thăm là “không có hạnh phúc” vì gặp nhau trong nhà “bình thường” không có hạnh phúc. Gia đình người tù lúc đến thăm tù được xác nhận là công dân của nước “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”, vậy công dân của nước này không có hạnh phúc. Lý luận cho vui, khốn thay, lại là thực tế của dân tộc mình, đất nước mình.

Tôi mừng vì vợ tôi không đi cùng chị bạn. Thực tế, tiền bạc của chúng tôi đến 30 Tháng Tư 1975 nằm hết trong ngân hàng, không bao nhiêu nhưng nếu có cũng giúp vợ tôi cầm cự. Không được rút tiền, rồi đổi tiền, gần như không còn gì. May có đại gia đình hỗ trợ, nhưng tôi vẫn không muốn “phí phạm” vì một chuyến đi thăm từ Nam ra Bắc rất tốn kém. Nhưng vào mấy ngày cuối Tháng Tư, 1979, vợ tôi đến thăm nuôi tôi. Thường thường, buổi chiều tắm xong ở dưới sông, các đội lên xếp hành trước cổng trại chờ kiểm điểm nhân số, cho nhập trại. Đó cũng chính là lúc rỉ tai nhau tin tức thăm nuôi, nếu có. Cũng từ chỗ tập trung trước cổng trại, nhìn lên con đường chạy quanh co theo sường đồi, mọi người có thể thấy một xe trâu chở đồ, theo sau là mấy bà mặc quần áo, dáng đi của người Miền Nam, biết là có thăm nuôi. Thường là có tiếng reo đầu tiên: Có xe trâu mấy ông ơi. Xe trâu thì tù vẫn gặp hoài, xe của trại đi chở gì đó, xe của dân đi trên đường, vẫn có. Nhưng “có xe trâu” ở đây lại mang ý nghĩa tin mừng thăm nuôi. Mọi người xôn xao cho đến khi bạn tự giác nào đó về báo cụ thể gia đình ai đến. Lúc đó đã khoảng 5 giờ hoặc 5 giờ rưỡi chiều. Đó là khi các chuyến xe từ Thanh Hóa vào huyện Cẩm Thủy bị trễ. Bình thường. các bà đến trại khoảng 2 giờ trưa, 3 giờ chiều, ít ai gặp. Một số bạn tù làm việc dọc đường đi, hay mấy bạn tự giác, may mắn gặp, sẽ hỏi ngay các bà đi thăm ai. Lúc xếp hàng ở cổng trại, họ sẽ loan báo tin đó. Và bạn tù có gia đình đến thăm được biết trước. Sáng hôm sau lúc tập họp ở sân chờ xuất trại đi lao động, Trực Trại, hoặc chàng tù Trật Tự, đọc to tên anh bạn đó, nói ở nhà. Đội Trưởng đội của anh ấy, và Quản Giáo, phải điều chỉnh nhân số xuất trại. Sau khi tù nhân xuất trại đi làm hết, Trật Tự lên phòng báo tin anh tù được thăm nuôi. Giai đoạn đầu, cán bộ phụ trách nhà thăm nuôi vào trại nhận lãnh tù có thăm nuôi, đưa ra nhà thăm nuôi. Về sau, mấy bạn tù có thăm nuôi báo cáo ở cổng trại, rồi tự mình đi, không ai kiểm soát. Chiều hôm đó, dưới sông đi lên xếp hàng, tôi đã nghe mấy bạn cùng đội tranh nhau báo tin tôi có thăm nuôi. Về đến phòng là một số bạn tù thân thiết đến chung nỗi mừng, vì hầu như họ biết sẽ có chút xíu quà của họ. Những bạn biết chắc mấy bà liên lạc thường xuyên sẽ nhắn miệng về nhà đôi điều, bắt tôi nhắc lại cho nhớ. Với tôi, họ biết không phải thành phần ưu đãi, trước khi ra cổng thế nào cũng bị khám xét xem có mang báo cáo, tài liệu gì đưa vợ hay không, nên không ai gửi thư. Cả một đêm thao thức, và lo lắng cho sức khỏe vợ tôi với hơn một ngàn cây số đã đi qua, và hơn một ngàn cây số sẽ trở về, lo lắng xem tin tức gia đình sẽ ra sao, Đẻ tôi có mạnh khỏe không. Thư từ qua bưu điện, lúc nào cũng theo giọng điệu bố láo của bọn cộng sản, không tin được.

Sáng hôm sau, xếp hàng chờ đi lao động, tôi và một người nữa, được lệnh ở nhà. Rồi Trật Tự lên buồng nói tôi chuẩn bị ra gặp người nhà. Đúng như bạn bè dự trù, tại cổng trại, Trật Tự được lệnh khám tôi dưới con mắt quan sát của Trực Trại. Anh bạn kia cũng vậy. Rồi Trực Trại bàn giao chúng tôi cho Cán Bộ phụ trách Nhà Thăm Nuôi. Từ cổng trại ra, chúng tôi quẹo tay trái, hướng này dẫn đến khu hành chánh của Ban Giám Thị Trại. Chúng tôi không vào khu đó, đi dọc hết bức tường vây quanh nhà tù, chúng tôi quẹo trái theo con đường lên dốc, cũng chạy dọc theo tường nhà tù. Một con dốc bên cạnh nhà tù lại là đoạn đường tôi yêu lắm lắm, yêu hơn Đại Lộ Hoàng Hôn ở Long Thành. Đại Lộ Hoàng Hôn là một con dốc rộng thênh thang, độ dốc ít hơn độ dốc của con dốc bên nhà tù Thanh Cẩm. Đại Lộ Hoàng Hôn gợi nhớ tôi đến những vị đàn anh cho tôi sóng bước bên cạnh, kể tôi nghe chuyện đời, chuyện người, chuyện quốc gia đại sự. Nghĩa là rất nhiều kỷ niệm còn ở với tôi. Nhưng tôi lại yêu con dốc Thanh Cẩm hơn. Nói “hơn” cũng chẳng đúng, vì khó cân đo, đong đếm (theo cách nói cán ngố). Mà ở Thanh Cẩm lại có rất nhiều con dốc, nhưng ở đây, tôi chỉ nói một con dốc ngay sát bức tường nhà tù, nhóm chữ “con dốc Thanh Cẩm” là chỉ con dốc này. Bở vì, quí vị ạ, dọc theo con dốc, một bên là tường nhà tù, một bên là dãy cây xoan. Hoa xoan nở vào Tháng 3 âm lịch, tức là khoảng Tháng Tư dương lịch. Cho nên, buổi sáng hôm đó, tôi đi giữa hương hoa xoan thơm ngát. Những bước chân tôi leo dốc không thẳng, không đều, bởi vì tôi cố tránh không dẵm lên những cánh hoa xoan nhỏ ly ti rụng xuống vệ đường. Và ngước nhìn lên, một trời màu tím nhạt như còn níu kéo mấy sợi sương mai. Khí lạnh và hương hoa dạt vào khuôn mặt tôi. Khí lạnh làm mùi thơm của hoa đọng lại nhiều hơn, nấn ná lâu hơn trên con dốc, không bị tản đi mỗi khi vài cơn gió nhẹ tạt ngang. Ở đây mấy năm rồi, tôi nghiện mùi hoa xoan, nhẹ lắm, nhưng thấm lắm vào trí tưởng con người. Và, hình như tôi chỉ thấy dọc theo con dốc đó mới có cây xoan, còn nơi khác trong khu vực này không hề có. Đúng ra, tôi ít được làm việc bên ngoài trại, ít có cơ hội đi đây đi đó trong toàn bộ khu vực trại, Nhưng hai năm liền, cứ vào dịp sau Tết, tôi phải đi “làm việc” với bọn công an ở Bộ Nội Vụ về. Trên đường đến khu hành chánh, thế nào tôi cũng bâng khuâng chậm bước ngay ở ngã ba, ngước nhìn theo con dốc bên trái để thấy một dải hoa xoan tím nhạt, điểm chút màu hồng. Trước cổng nhà tù là cây gạo hoa đỏ au au, bên cạnh nhà tù là hàng xoan tim tím. Tôi không gặp hai thứ cây đó tại những nơi tôi ở trước đây, những nơi tôi ở sau này.

Thấy thằng tôi bước đi có vẻ không bình thường, anh bạn tù bên cạnh dù đang rất sốt ruột về những thứ đồ ăn sắp được nhận lãnh, cũng phải hỏi tôi có bị chóng mặt hay không. Ra khỏi cổng trại anh bạn nêu hoài thắc mắc với tôi, không hiểu vợ anh sẽ mang cái gì cho anh, có đúng như anh viết thư yêu cầu. Sau này tôi mới biết anh yêu cầu độ “10 tấn” đồ ăn, tức là anh muốn nhiều thứ lắm, cách nào mang nổi, cách nào kiếm ra nổi vào lúc cả nước cùng chết đói (dĩ nhiên tôi không bao gồm các ông bà đảng viên “Đảng Cộng Sản Quang Vinh”, các ông bà “Công An Nhân Dân”).

Nhà thăm nuôi là một căn nhà 3 hay 5 gian tường gạch, lợp ngói, gần khu gia binh của Công An coi tù. Bên trong ngôi nhà có những gì, tôi không biết. Từ xa, trên đường đi tới, tôi đã nhận ra vợ tôi và chị vợ anh bạn tù  đứng chờ sẵn nơi hành lang. Trên đường đi, chàng công an coi nhà thăm nuôi đã dặn dò chúng tôi mấy điều cấm kỵ, không được khóc, không được ôm vợ, không được lén lút đưa vợ bất cứ cái gì mang từ trại ra (bố khỉ, khám kỹ rồi còn gì nữa), không được nói đời sống ở đây khổ cực, đói khát, không được nói tiếng nước ngoài, phải động viên chị ấy đi vùng kinh tế mới, … Chiều hôm qua có lẽ chàng cũng đã dặn dò thân nhân những điều tương tự, phần “động viên” có lẽ đổi đi, khuyên các anh ấy cố gắng học tập cải tạo tốt.

Một cái bàn dài kê ngoài hành lang. Chàng công an chỉ định hai tên tù ngồi một bên, ở hai đầu, hai bà vợ ngồi một bên, đối xứng. Bắt đầu, chàng công an nói thời gian thăm nuôi là một giờ đồng hồ. Sau này, giả nhân giả nghĩa, chàng bảo vì các chị ở xa đến, cho các chị gặp các anh thêm nửa giờ nữa. Đi cả ngàn cây số, lặn lội bao nhiêu đường đất, được gặp chồng có một giờ rưỡi đồng hồ. Thương cho các Bà Mẹ, Bà Vợ, Bà Chị, Bà Em, Thân Nhân của những người tù Miền Nam. Đôi bàn chân các bà đã rướm bao nhiêu máu do gai góc, sỏi đá trên chặng đường mười mấy cây số lê bước chân theo xe trâu từ Cẩm Thủy vào đến trại giam. Các bà lội qua bao nhiêu con suối, len lỏi qua bao nhiêu bụi cây, vấp bao nhiêu hòn đá, trượt chân té xuống bao nhiêu lần, những bàn chân của đất Sài Gòn xưa? May còn có xe trâu cho các bà không phải gánh gồng. Vậy mà, một giờ đồng hồ thôi!

Hai vợ chồng cách nhau mặt bàn rộng một mét rưỡi, có muốn cũng chẳng thể nào ôm nhau, bàn tay hai đứa cũng không được chạm nhau, có lệnh cấm. Cụ Khổng Tử nói nam nữ thụ thụ bất thân, chắc rằng cụ nói về trường hợp thăm nuôi của nhà tù cộng sản. Cụ là thánh tiên tri. Tuy nhiên, sau này, lúc đứng dậy chia tay, lợi dụng lúc “bên Tầu có loạn”, vợ tôi cũng dúi vào tay tôi được ít tiền mặt.

Hai cặp vợ chồng ở hai đầu bàn, sau này nghĩ lại, tôi không hề biết cặp kia nói những gì, làm những gì, đưa quà làm sao. 13 năm sau, khi tôi qua được Mỹ, nhắc lại ngày hôm đó, vợ tôi kể rằng từ xa, thấy dáng tôi đi vững chãi, rất mừng. Khi gặp nhau cách một cái bàn, không thấy tôi hỏi mang những quà gì, cũng mừng. Mừng vì con người tôi không hề thay đổi. Ngồi xuống bàn , tôi nói với vợ tôi ngay, chúng mình không có nhiều thì giờ, vậy nói theo thứ tự. Tôi cho biết tình hình tôi, mọi thứ đều ổn, công việc không nặng nhọc, có đôi chút thoải mái, làm hết việc thì nghỉ. Tôi nói trong vòng 3 phút, bắt đầu hỏi vợ tôi về Đẻ tôi, về hai đứa con, về mọi người trong gia đình, … Hỏi liên tục, trả lời liên tục, như vậy vợ tôi không có thì giờ xúc động. Rồi tôi hỏi vợ tôi về hoàn cảnh công việc làm hiện nay, về sinh sống, … Sau đó, không cần hỏi, vợ tôi có trớn, kể nhiều chuyện. Đôi khi chúng tôi còn cười. Tôi đoán chàng công an đang đi quanh quẩn xem chúng tôi nói những gì, chắc phải ngạc nhiên. Đoán thì giờ qua nhiều, tôi nói vợ tôi chú ý nghe, rằng bất cứ giá nào cũng phải đưa hai con đi kinh tế mới, chỗ “bác Toàn” đang lao động gây dựng cơ ngơi sản xuất. Tôi nhắc lại đó là điều quan trọng nhất. Nói rõ, ở đây, nhà nước lo dủ thứ cho tôi, cứ yên tâm, đừng sợ tôi thiếu thốn. Khi khá rồi, gửi quà cho tôi. Vả chăng, còn Đẻ tôi, còn cả nhà, đừng lo cho tôi. Khúc này thì vợ tôi bắt đầu rơm rớm nước mắt, chưa đi, nhưng đã thấy xa xôi ngàn dặm. Được thêm nửa giờ, vợ tôi cho biết sẽ ra Hà Nội gặp họ hàng rồi đi thăm một người cậu là ông Bùi Quyền, ở mạn Bắc. Tôi dặn dò đừng nghĩ đến chuyện thăm nuôi tôi, dù là ai đi cũng vậy, vì không cần thiết. Gửi quà là đủ rồi. Nhắc đến Bùi Quyền, tôi nhắc lại trong giọng bông đùa, hỏi vợ tôi còn nhớ Thầy Thanh Thùy, một vị sư, coi tử vi đã nói ông Quyền và tôi rồi cũng sẽ thoát cảnh khổ cực. Chúng tôi đến thăm Thầy ở Cư Xá Nguyễn Thiện Thuật mấy ngày cuối Tháng Năm, 1975. Giờ chót, chợt nghĩ ra, vợ tôi hỏi sao chị Ph đi về kể được thăm anh ấy cả ngày, anh ấy ở lại đêm nữa. Tôi khoát tay, mỗi người mỗi khác. Không nên mong chúng mình như vậy. Vợ tôi lại dặn dò thêm một lần, mấy chị gửi đồ cho các anh, gói nào cũng đề tên, anh cứ việc giao các anh ấy. Nói các anh nhớ viết thư nói nhận được quà, những gì, cho khỏi mang tiếng.

Rồi hai tên tù khệ nệ xách mấy túi quà, về trại. Ngoảnh lại, vẫn thấy hai bà đứng nguyên một chỗ, nhìn theo. Lịch sử một đất nước, một dân tộc, ngàn năm mới tính. Lịch sử một đời người, vài ba giây phút này thôi.

Chừng 6, 7 tháng sau ngày vợ tôi thăm nuôi tôi, qua cuộc thăm nuôi của một người bạn tù, tôi được tin vợ tôi dắt hai đứa con vượt biên thành công, đang ở đảo. Tháng sau, tôi nhận được thư Đẻ tôi báo tin, Lan Anh, vợ tôi, đi kinh tế mới, gần chỗ anh Toàn. Đảng và Nhà Nước yên trí, tôi yên tâm cải tạo!

Sau Tết năm sau, 1980, Đẻ tôi và bà Mẹ vợ từ Sài Gòn, rủ nhau đi Thanh Hóa thăm tôi. Rất bất ngờ vì Đẻ tôi năm đó đã 80 tuổi. Tám chục tuổi vào thời kỳ sau 1975 chắc chắn sức khỏe không thể coi là tốt được. Có lẽ vì bà Mẹ vợ tôi sắp đi Bỉ theo diện bảo lãnh, nên muốn thăm tôi một chuyến trước khi vĩnh viễn ra đi. Bạn tù Trần văn Chung nghe nói Đẻ tôi vào thăm, hốt hoảng vì biết Đẻ tôi tuổi đã cao, hỏi tôi như vậy làm sao Cụ đủ sức khỏe. Tôi không biết trả lời sao. Bạn chạy đi xoay xở sao đó, bạn là một thiên tài về xoay xở, tìm được củ sâm, nói tôi ngày mai gặp Cụ, đưa Cụ pha nước, và ngậm trong miệng, để giữ sức khỏe. Có lẽ số Đẻ tôi gặp đại cát, thằng con ở tù mà có sâm để dâng lên Mẹ. Tôi vẫn nhớ ơn này của bạn Chung.

Để thăm tôi, hai Cụ đi Hà Nội thăm họ hàng, rồi từ đó, một anh trong họ đưa các Cụ đi vào Thanh Cẩm thăm tôi. Anh là dân Hà Nội nên biết mọi thủ tục cần thiết, biết ứng phó “đúng qui trình” của cái xứ Xã Hội Chủ Nghĩa. Ông anh họ lo khuân vác đồ thăm nuôi tôi lên xe lửa ở Hà Nội, rồi đưa lên xe đò Thanh Hóa – Cẩm Thủy. Từ Cẩm Thủy, ông anh sinh trưởng trong xã hội cộng sản xoay xở sao đó, có xe “cơ giới” đưa các cụ đến gần trại Thanh Cẩm, tôi đoán đến chỗ họp chợ của xã Cẩm Thành, hoặc của làng Chiềng Chèm. Từ chợ, ông thuê xe trâu cho các cụ ngồi, không phải lội bộ. Vào đến nhà thăm nuôi, ông lại là người làm thịt con gà nấu cơm cho các cụ ăn. Tài ngoại giao qua mọi ngõ ngách của ông, hôm sau tôi được ăn cơm cùng gia đình. Ông lại dậy từ 5 giờ sáng, nấu ăn. Sau này, ông anh họ đó, cứ khoảng 8 hay 9 tháng lại từ Hà Nội vào thăm tôi một lần.

Gọi là “anh họ” cũng không hẳn đúng. Sau này, thấy ông vào thăm tôi mấy lần, anh em bắt tôi kê khai xem ông ấy là ai, họ hàng ruột thịt thế nào, mà chịu khó như vậy. Tôi nói khôi hài rằng, họ hàng thế nào, nhờ các ông tính giùm. Để tôi kể: Tôi ra đời ở Bắc Ninh, lấy một bà vợ họ Nguyễn, sinh ở Hà Nội. Chúng tôi gặp nhau ở Sài Gòn và lấy nhau. Bà vợ tôi có một Bà Mẹ, Bà Mẹ ấy có Bà Chị Ruột. Bà chị ruột này lấy một ông chồng ở Hà Nội. Ông chồng này trước đó đã có một bà vợ. Bà vợ đó đẻ ra một cô con gái. Cô con gái đó lấy cái ông thăm nuôi tôi. Mọi người lạy tôi đừng kể thêm nữa. Đêm trong tù hay nhớ nhà, khó ngủ. Thêm suy nghĩ rắc rối kiểu này, càng mất ngủ. Tôi gọi ông là ông anh họ cho tiện. Ông ấy hơn tôi khoảng chục tuổi. Ông là Hiệu Trưởng một trường trung học ở ngoại ô Hà Nội, là đảng viên. Vào những năm 1980, đảng viên có liên hệ với “ngụy quân. ngụy quyền” dễ bị ghi sổ đen, dễ bị hạ tầng công tác, mất đề bạt. Tôi hỏi ông chuyện này, ông bảo, với những người Hà Nội chính gốc, tình giữa liên hệ họ hàng vẫn là điều đáng quí. Nó đuổi anh khỏi đảng, càng đỡ cho anh khỏi phải xin rút lui. Không biết sau này ông có bị hạ tầng công tác không. Nhưng nhờ tấm thẻ đảng, hai cụ và ông anh được đối xử dễ dàng hơn nhiều trong thời gian trú ngụ tại nhà thăm nuôi. Cho đến bây giờ, cái ơn ông anh chăm xóc tôi những ngày tháng tù đầy ở Thanh Cẩm, vẫn còn canh cánh trong lòng tôi.

Trước Tết 1984, ông anh lại vào thăm tôi. Ông rỉ tai, tay cán bộ coi ở đây (nhà thăm nuôi) nói nhỏ cho anh biết em có tên trong danh sách về kỳ này. Ra Tết họ sẽ thả. Bình thường, danh sách thả tù về trại, chừng vài tuần sau họ sẽ đọc lệnh thả. Kỳ này, họ để sau Tết lâu vì còn phải đi mua vé xe lửa Thanh Hóa  – Sài Gòn. Dịp Tết, vé khan hiếm. Mỗi khi danh sách về, thế nào tin tức cũng được rỉ tai. Ít ngày sau, hầu như một nửa số người được thả đã nghe xì xào. Bọn cán bộ rỉ tai là để hy vọng có đền đáp của tù nhân sắp về. Với bọn công an, thứ gì của Tù Miền Nam cũng đều “cao cấp”.

“Làm Việc”

Chẳng hiểu mấy anh Công An thuộc bộ phận đọc hồ sơ mấy tay tù Miền Nam ở Bộ Nội Vụ làm việc ra sao, mà lại chọn tôi là một trong những tên để mấy anh hỏi tới, hỏi lui. Tôi không nhớ vào năm nào, có thể sau khi tôi đến nhà tù Thanh Cẩm được 1 năm (tháng 12 năm 1976 đến Thanh Cẩm), hai lần có anh Công An từ Hà Nội về kêu tôi “làm việc”, tức là điều tra, bắt khai báo, một cách nhẹ nhàng. Tôi vẫn nghĩ rằng mấy tay ở Bộ này kiếm chuyện đi chơi, tránh được cái bàn giấy nhàm chán và buồn thảm nơi Bộ, mà đến địa phương lại được phục dịch cơm gà, cá gỏi. Mấy tay này chỉ lụi cụi dở mấy tờ giấy, ngắm đi, ngắm lại, trong căn phòng tối mù mù ở Bộ, đeo lon cao nhưng thuộc loại hết thời, đi đây đi đó cho qua tháng, ngày. Nghe đồn mấy anh đó cấp Đại Tá, anh Công An Trưởng Trại chỉ mang cấp bậc Thiếu Tá, chắc là phải e dè. Biết đâu được, mai mốt đổi chủ, anh Đại Tá hôm nay ngồi chơi sơi nước bỗng nhẩy lên làm Cục Trưởng Cục Trại Giam, lại thêm ngôi sao, Thiếu Tá Sử, Đại Úy Thực (Trại Trưởng) sẽ được tính sổ của ngày hôm nay.

Một buổi sáng mùa đông, tôi ngồi xếp hàng ở sân, chờ xuất trại đi lao động. Trực Trại xuất hiện, đọc to, anh Đỗ Việt Anh, Đội 2, ở nhà, không đi lao động hôm nay. Anh Anh về buồng đợi. Cũng hơi lạ. Ngài Trực Trại là quan to nhất trong khuôn viên trại giam. Ít khi ngài xuất hiện. Thường mấy tay phụ tá hay Quản Giáo các đội mới coi xóc việc báo cáo nhân số xuất trại. Hôm nay quan đích thân đọc tên tôi. Bên cạnh quan lại có Quan An Ninh, mặt sắt đen sì, đứng gật gù theo nhịp đọc. Anh em sì sào, được tha à. Tôi lắc đầu, có thằng an ninh, chắc lại lôi thôi đây. Chắc chuyến này lên kiên giam. Tôi hay làm thơ bậy bạ ngoài “đường lối chính sách”. Tôi nhớ hai câu “Thóc gạo đất Thanh nhai khó nhọc, nước xuôi sông Mã nuốt băn khoăn.” Không có gì lõa lồ ý nghĩa phản động, chỉ e chàng “ang ten” nào lập công, giải thích như tôi giải thích cho chàng ta hiểu.

Gần 9 giờ sáng, Thiếu Úy Lăng, (hình như là ) phụ tá Sĩ Quan An  Ninh Trại, lên buồng tìm tôi, nói tôi mặc y phục đàng hoàng. Chàng nói có vẻ nghiêm trọng, hôm nay anh sẽ gặp Đại Tá từ Bộ Nội Vụ ở Hà Nội về làm việc. Đây là lần duy nhất chàng nhắc cấp bậc của anh Công An từ Bộ về. Có lẽ chàng hố, quên, nên nói như vậy. Sau đó, chàng im bặt. Phần tôi, đang mừng thầm vì không phải chuyện lên kiên giam, nghĩ ngay lát nữa sẽ báo tin cho mấy bạn tù thân thiết biết, quên mất dáng vẻ anh chàng Công An An  Ninh hôm nay hiền như cừu non. Xuống hết mấy bậc tam cấp từ buồng 4 đến buồng 3, tôi mới sực nhớ ra, liếc nhìn chàng An Ninh đi bên cạnh.  Có chút gì ân cần khi chàng khẽ vịn vào vai tôi. Tôi lại nghĩ ngay đến viên Đại Tá lát nữa phải gặp, không biết sẽ ra sao. Kệ nó. Ra khỏi cổng trại, vào con đường đi ra khu Ban Giám Thị, tôi chợt hiểu ra cái “ân cần” khi nãy, vì chàng ngừng lại, nói, anh sẽ làm việc với cán bộ từ Hà Nội, anh cũng thấy ở đây chúng tôi đối xử với các anh tốt, không đánh đập anh nào, không quát mắng, chửi bới. Ban Thực nhắc anh, nếu ông cán bộ có hỏi, anh cứ nói như vậy, nói mọi việc đều tốt. Chỗ này tôi có thể sai, rằng lúc đó Trưởng Ban Giám Thị, tức Trại Trưởng là Đại Úy Thực hay Thiếu Tá Sử. Cứ gọi là “Ban Thực” cho tiện. Ra chàng Lăng oai hùng là vậy vẫn băn khoăn vì sợ tôi tố cáo chuyện này, chuyện kia ở trại giam. Có lẽ chính các chàng cán ngố ở trại cũng không biết chuyến đi của Ông Cán Bộ Hà Nội là về chuyện gì. Tôi gật đầu. Chàng lại đi, vừa đi vừ giải thích, ông cán bộ này tìm hiểu về tâm lý, tư tưởng tù các anh thay đổi ra sao, ông ấy làm việc khoa học ấy mà. Chàng biết đã nói lộ cấp bậc, nên cố sửa lại, và phải tỏ cho tôi biết “ta cũng nắm vững tình hình”.

Thiếu Úy Lăng đưa tôi vào một căn nhà nhỏ trong khu Ban Giám Thị, ngay cạnh giòng sông Mã. Từ ngôi nhà, nhìn qua cửa sổ, tôi thấy một bạn tù ngồi trên chòi làm trên mấy cành cây cao nhô ra dòng sông, kéo thùng nước từ dưới sông lên. Tôi vẫn nghe mấy bạn tù nói chuyện “kéo nước”, bây giờ mới biết nó như thế nào. Từ độ cao cách mặt nước sông đến 20, 30 mét, cách mặt đất trên bờ khoảng 10 mét, chàng tù kéo nước lên, đổ vào cái thùng trên chòi. Nước chảy từ thùng theo máng là mấy cây luồng rỗng ruột đến một cái thùng to tướng nằm đâu đó trên bệ cao. Từ đó, nước theo ống sắt chảy đến một số nơi, tôi đoán là nhà Trại Trưởng, nhà dành cho khách, …, tức mấy nhà quan trọng, cũng có thể là nhà bếp cơ quan. Việc kéo nước thường phải hai người, vì kéo chừng nửa tiếng tay đã mỏi. Mùa nước lũ, tức mùa hè nhiều mưa, nước dâng cao, khoảng cách mặt sông với chòi giảm đi, đỡ cực hơn, nhưng hay gặp mấy cành cây nhỏ, rác rưởi, mất thì giờ nhặt vứt đi, Thời gian thành ra cũng không nhanh hơn. Tôi nhớ các bạn kéo nước nói, hình như 80 đến 100 thùng gì đó, là đủ cho một ngày.

Bước vào cửa ngôi nhà nhỏ, hay gọi là căn lều lớn cũng đúng, gặp ngay bộ bàn ghế dài kê giữa nhà. Đây là kiểu kê bàn ghế ngày xưa, ngay cửa chính vào, giữa nhà, là bộ tràng kỷ, gồm một cái bàn cao, hai bên hai ghế dài, có lưng dựa, có thể thêm một bàn thấp hơn, nhỏ, kê ngay đầu cái bàn chính cao. Sâu vào phía trong, sát vách tường trong, nối với bộ tràng kỷ, thường có bàn thờ. Ở đây, gọi là bộ tràng kỷ cho “oai”, thực tế là cái bàn dài gỗ tạp, hai bên hai ghế dài có lưng dựa. ở hai đầu hồi căn nhà nhỏ, có tủ gỗ gì đó, tôi không nhớ. Không có bàn thờ, không lẽ thờ 3 tên Lê, Mao, Hồ. Thiếu Úy Lăng chỉ ghế tôi ngồi, nói đợi ông cán bộ đến. Chàng bỏ đi, 5 phút sau quay lại, theo sau là một bạn tù hình sự, bê một ấm giỏ đựng bình chè, bộ đĩa với 4 cái tách, một điếu cầy đẹp kèm mớ đóm, và gói thuốc lào. Đợi bạn tù hình sự ra khỏi cửa, Lăng nói với tôi. Đây là thuốc lào hạng nhất, anh mời cán bộ hút, và anh hút luôn. Hết thuốc lào, tôi lại đưa. Nước chè ngon cực đấy. Có cái bình thủy nước sôi đây, anh rót thêm khi ấm chè hết. Đến giờ cơm, ông cán bộ gọi tôi, tôi đưa anh về trại. Buổi chiều, tùy giờ giấc ông cán bộ, tôi vào trại đón anh. Anh làm việc cho tốt nhé. Rồi chàng đi.

Thêm 15 phút chờ đợi, ngồi ngắm bạn tù kéo nước. Công việc “căng” đấy, chẳng phải chơi. Nhìn xuống dòng sông Mã, một hai chiếc bè trôi xuôi, gần đầu bè, bập bùng bếp lửa, giữa bè, cái mái đan bằng tre, nứa, uốn hình bán nguyệt, úp lên trên bè. Cảnh vật trên sông đơn sơ, tĩnh lặng, nghèo nàn. “Ông Cán Bộ” đến. Theo sau là Thiếu Úy Lăng. Bước lên bậc thềm, ông cán bộ quay lại nói với Lăng, thôi anh làm việc nhé, để ở đây chúng tôi làm việc với nhau. Giọng rõ ra kẻ cả. Cái lối Bắc Kỳ là vậy, có cơ hội là vênh mặt lên, cho rõ dáng bậc trên. Bước qua ngưỡng cửa, ông cán bộ lại tỏ tươi cười, vồn vã, A, anh chờ lâu không, rồi ngồi xuống ghế đối diện tôi. Tôi nhỏ giọng đáp, cũng chưa lâu, thưa cán bộ. Ông chừng trên hay dưới 60 tuổi, nhưng có lẽ chỉ ngoài 50, vì ngoài Bắc lúc đó, đời sống còn gian khổ, dáng người già đi trước tuổi. Ông mở cái cặp lúc nãy ôm trong tay, rút ra phong kẹo lạc (kẹo đậu phộng), xoa hai tay vào nhau vì trời lạnh, ông nhìn tôi nói, chúng mình ăn kẹo, uống chè đã, còn nhiều thì giờ. Chắc chắn tôi không từ chối kẹo lạc, bởi vì để uống nước chè, trong bụng tôi phải có cái gì, nếu không sẽ bị say. Say nước chè khốn khổ hơn say rượu nhiều. Rồi ông với cái điếu cầy, cầm gói thuốc lào quan sát, A, thứ này được đấy, hút đằm, không bị sóc, Anh làm một điếu. Tôi từ chối, tôi ít hút thuốc lào, cán bộ. Ông kéo hơi dài, nõ điếu kêu ròn tan. Giữ tí hơi, rồi phả ra, hớp ngụm chè, người ta gọi là “hãm”, chẳng biết thú vị gì không. Lơ mơ một tí, hình như ông sực nhớ ra có tôi, quay lạ hỏi, chắc ngày xưa anh chỉ hút thuốc điếu ngoại, anh cấp cao mà. Tôi không biết với ông thế nào là cao, theo tôi, Tổng, Bộ Trưởng , Thủ Tướng, mới là cao. Ở Long Thành, một anh cán bộ gọi tôi làm viêc đã nói, chức vụ anh ngang với Trung Tá Công An bên này, nếu có khoảng 400, 500 người dưới, là ngang cấp Đại Tá đấy. Oai thật. Tôi chẳng biết trả lời sao, nên đưa đẩy, vâng, ngày xưa tôi chỉ hút thuốc lá, không nghiện, nhưng thích hút. Ở đây trời lạnh, không có thuốc lá, tôi xin nhà gửi thuốc rê, vấn hút cho ấm. Nhưng thuốc lá vẫn là nhất, cũng mong hôm nào trại bán, mua một gói. Câu sau là tôi “hơi đểu”, nghĩ cái kiểu chàng mồi chài từ nãy đến giờ, như bán hàng quảng cáo, lừa bịp khách hàng, ướm thử, biết đâu được mua thật. Lạy Trời, Lạy Phật, Lạy Chúa, thằng tôi nơi tận cùng xã hội được các Ngài đoái hoài. “ÔNG CÁN BỘ”, tôi phải viết hoa toàn diện 3 chữ để bày tỏ sự kính phục ông, đứng dậy nói, để tôi xem xem. Ông bước ra thềm, ơi ới gì đấy, rồi quay vào ngồi xuống. Thiếu Úy Lăng chạy đến, có lẽ chàng vẫn ở căn nhà bên cạnh, lúp xúp đi vào, chưa kịp nói gì, ông cán bộ đã phán, này, ở đây có bao thuốc điếu nào không nhỉ. Dạ có “chú”. Cho tôi mua một bao. Để cháu lấy, dạ, mua bán gì. Ông cán bộ Trung Ương này cũng đểu, chỉ “mua” , chứ không đòi. Thế là tôi có một điếu thuốc hút, cùng ông cán bộ Trung Ương. Thuốc gì, tôi không nhớ. Cuối buổi, ông bảo tôi cầm, sức mấy tôi cầm, bổng lộc của ông cán bộ, đi địa phương chỉ mong có vậy. Vả lại, nếu tên Lăng biết được, sau này kiếm cớ đì tôi tóe phở (tóe khoai mì).

Lúc này ông cán bộ T/Ư mới mở cái cặp, rút ra tập hồ sơ, bọc bên ngoài là cái bìa dầy màu xanh dương, nói, thôi chúng ta vừa hút thuốc, vừa làm việc.  Ông để xeo xéo cho tôi có thể đọc mấy chữ to tướng trên tấm giấy dán trên bìa: “Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Nhà Nước”. Tôi nghĩ ngay, lại trò bịp. Kể đến chữ “bịp”, tôi nhớ 2 chi tiết không kể lúc nãy. Một là, khi đứng dậy để kêu tên Lăng lấy thuốc lá, ông đã cất ngay phong kẹo lạc ăn dở vào cặp, tôi nghĩ ông không muốn Lăng thấy chứ không phải vì sợ tôi lấy; hai là, ông mặc thường phục, không phải quần áo Công An. Một cái quần tây dài màu sậm, không biết có áo thung không, có áo sơ mi, rồi áo len đan tay màu vàng nhạt (gần màu áo Công An), bên ngoài cùng là áo vét màu sậm, thêm khăn len quấn cổ dệt ca rô nhiều màu đậm. Ông đi đôi giầy loại giầy vải nhà binh, chắc để cho ấm, và dễ đi ở miền núi, rừng.

Rồi, bây giờ “chúng ta làm việc”, tôi lặng lẽ tận hưởng điếu thuốc lá, nghĩ nhanh, “làm việc” kiểu này được đấy, rõ ràng có tí ti mua chuộc, nhưng không sao, không anh Tây nào chết.

Ông Cán Bộ bắt đầu nói về những gì trong bản tự khai của tôi (cách đây hơn một năm). Ông khen rằng những ghi chép của tôi có thứ tự mạch lạc, nhận thức của tôi có lý luận dù rằng cơ sở lý luận không đúng. Tôi hiểu ngay mấy chữ “cơ sở lý luận” là không theo “biện chứng pháp” của ông, của người cộng sản. Ông bảo rằng từ “Tiền Đề” anh đã đặt sai, lý luận theo sau tất yếu phải sai. Rồi ông cao giọng thuyết giảng, thí dụ thế này, anh bảo các anh là “cá nằm trên thớt.” Điều đó đúng, nhưng người ta nói cá nằm trên thớt là nói về con cá còn tươi, còn các anh là cá đã ươn rồi. Cá ươn, nằm trên thớt hay không, cũng tàn đời, cũng bị tiêu diệt. Tiền đề, anh tự coi là con cá tươi, nên sai hoàn toàn. Cách mạng là gì, là ngay cả khi chúng tôi là cá nằm trên thớt, chúng tôi cũng vẫy vùng để biến thớt thành ao hồ sông biển, có nước để sống, để hoạt động, để làm cách mạng. Các anh “tát nước bắt cá”. Ấp Chiến Lược của các anh là cái thớt, chúng tôi vẫy vùng để Ấp Chiến Lược của các anh thành ao hồ sông biển, nhân dân chính là nước cho chúng tôi sống để làm cách mạng. Đẻ tôi vẫn nói: “Nói như Vẹm”.

Ông nói nhiều lắm, về chuyện học tập cải tạo … Tôi chỉ nhớ được hai ý mà tôi khoái, là cá ươn, và một câu ru ngủ xanh rờn, đang thuyết giảng hùng hồn, đến đây ông lại hạ giọng xuống như chỉ để mình tôi nghe: Chắc anh cũng biết trại này không quyết định gì về chuyện anh học tập cải tạo. Cán bộ ở đây, kể cả ông Thực, không quyết định gì về chuyện về hay ở của anh, không có gì là “cải tạo tốt, cải tạo xấu.”  Hồ sơ của anh chúng tôi nắm sẽ quyết định (ông nói thật, nên quên mất mấy chữ “Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Nhà Nước” ông cố tình khoe tôi, Ủy Ban đó nắm hồ sơ tôi?), và tùy theo qui định chung, loại nào, cấp nào, thì được về lúc nào. Có trường hợp chiếu cố, nhưng ít. Trại này chỉ có bổn phận giữ các anh trong thời gian chờ đợi đến lúc anh được về. Tôi tin ông nói mấy câu này thật, nhưng tôi gọi là “ru ngủ” vì tính hoài nghi, nghi rằng để tôi tưởng bở “hoàn tất hồ sơ” tốt theo kiểu của ông, hay của cơ quan ông. Tôi nhớ hai chữ “cá ươn”, vì định ngứa mồm hỏi rằng ông có tin là “cải tạo” được lũ cá ươn này không. Trong các bạn nhỏ Phục Quốc, có cậu Tuấn Nhí, thường hay gặp riêng tôi, hỏi mấy câu hóc búa. Thí dụ, hai chữ “cải tạo” ở đây là gì? Tại sao không gọi đơn giản là “tù”. Hơi bất ngờ, tôi cũng phải “động não” (não “động” hoài chắc “lỏng” mất Mẹ nó cả não!).Không gọi là “tù”, vì không đơn giản chỉ là nhốt, giam một con người không cho tự do đi lại, không cho tự do sinh hoạt trong đời sống bình thường. Họ dùng chữ “Cải Tạo” là đúng. Ở đây, có sự khác biệt về ý nghĩa. Bình thuòng “cải tạo” được hiểu là làm thay đổi tư tưởng, thói quen sinh hoạt từ A thành B trong không khí, môi trường hòa bình. Chúng ta phải hiểu họ muốn làm thay đổi từ A thành B trong khung cảnh hung bạo với phương cách “trấn áp”. Khung cảnh hung bạo vì họ tạo cơ hội chúng ta sâu xé nhau, chọn Trật Tự, Văn Hóa, Đội Trưởng là người trong chúng ta, cho mấy người đó quyền lợi hơn chúng ta, rồi hệ thống báo cáo ngầm ta gọi là “ăng ten”. Trấn áp là họ dùng bạo lực, nếu cần để kiềm chế chúng ta. Họ có thể trấn áp với những cách thức hòa hoãn. Anh “Ph” mới được vợ thăm nuôi. Là người siêng năng, cần cù trong Đội Nhà Bếp, họ cho anh chị ở đêm với nhau. Họ dùng cái chuyện “ái ân” của hai vợi chồng để trấn áp sinh hoạt chúng ta, bắt chúng ta phải “tốt” như anh Ph. để được ngủ với vợ. Tư tưởng chúng ta, thói quen sinh hoạt của chúng ta có thể không thay đổi, nhưng chúng ta biểu thị giả sự thay đổi đó. Thế là đủ. Cả xã hội ai cũng “giả” hết, là cải tạo rồi.

Tôi lặng thinh, không hỏi gì, lại còn gật gù khiến ông càng có hứng thuyết giảng. Tôi là thằng hèn, “cá ươn” lại nằm trên thớt, cứ phải hấp háy đôi mắt lờ đờ cho “ngài” Cán Bộ từ Hà Nội về khoái chí. Hèn, chắc chắn là thế!

Rồi ông hỏi tôi về cá nhân, về gia đình, về cảnh sống của tôi trước 1975. Có vẻ như ông ngậm ngùi khi nghĩ lại thân phận ông, về cuộc sống của ông. Tôi đoán thế thôi, không cho là sự thật được. Cung cách nói chuyện lúc này với giọng nhẹ nhàng như “kể chuyện tình” giữa hai kẻ yêu nhau, lại đôi chút tiêng tiếc vì đôi trẻ gặp cảnh ngang trái, (không rõ ai ngang, ai trái.)

Tiếu Úy Lăng lảng vảng ngoài cửa. Ông Cán Bộ cất hồ sơ vào cặp, nói với tôi, thôi, chiều chúng mình làm việc tiếp. Ông ngoắc tay gọi Thiếu Úy Lăng, nói, chiều nay đồng chí đưa anh này ra lúc 2 giờ, nhớ cho anh ấy một tập giấy và cái bút. Hai tiếng “đồng chí” ông Cán Bộ chỉ dùng cho buổi sáng hôm đó, sau này, tôi thấy ông gọi tên Lăng là Thiếu Úy, hoặc “anh”. Có lẽ tình hình thân thiện hơn, “hiểu” nhau hơn.

Buổi chiều, Thiếu Úy Lăng mang vào căn nhà nhỏ bình thủy nước sôi, gói thuốc lào buổi sáng còn, điếu cầy, đóm, thêm gói chè. Không thấy bạn tù hình sự nào. Chàng ta đi mấy phút, mang lại cho tôi tập giấy rời, cây bút bi. Chàng nói giọng nhẹ nhàng, anh ngồi đây chờ ông cán bộ. Anh cứ pha chè, hút thuốc trước cũng được. Tôi cảm ơn. Sáng nay quên không lấy thêm điếu thuốc lá, giờ này ngồi hút chắc là thú vị. Thiếu Úy Lăng đón tôi sớm 15 phút để chờ sẵn. Nhìn chàng Thiếu Úy bước ra, tôi thấy buồn cười. Lúc khác, trông chàng đường đường là “đấng cai tù”, mặt mày “nghiêm túc”, khó khăn. Hôm nay khác hẳn, nhũn như con chi chi, khép nép rụt rè. Phải vậy thôi.

Ông Cán Bộ bước vào, nhìn tôi cười, và ngồi xuống. Ông rút ra phong kẹo lạc dở, bao thuốc sáng nay, rồi tập hồ sơ. Pha chè, rít điếu thuốc lào, chiêu ngụm chè nóng, rồi ông bắt đầu nói, trong khi rút điếu thuốc lá đưa tôi, bật lửa cho tôi, còn ông tự châm lửa một điếu thuốc. Ông nói rằng, đọc bản kiểm thảo của anh (đúng ra nó là bản tự khai), chưa nói rõ về chính sách chiêu hồi của các anh, không nêu lên được âm mưu bọn Mỹ trong việc chiêu hồi đó, và bọn nó chỉ đạo trục tiếp anh thế nào. Bọn Mỹ âm mưu gài lại những người phản bội đó về lại phía chúng tôi như thế nào, cũng không có trong bản kiểm thảo của anh. Hôm nay tôi chỉ nêu mấy điểm này. Anh ngồi động não, ghi ra. Anh cứ tự nhiên ăn kẹo, uống nước chè, hút thuốc. Tôi qua bên cạnh làm việc.

Khổ cho tôi đây. 1973 tôi biệt phái về Dân Vận, một năm làm việc kiểu công tác thanh niên, sinh viên. Anh bạn Lê Đình Điểu bỏ Dân Vận, qua Kinh  Tế, tôi là thằng cuối cùng rời Khối Kế Hoạch Bộ Dân Vận đi làm Trưởng Ty vào gần giữa 1974. Cuối năm 1974, sát nhập Bộ Chiêu Hồi vào Bộ Dân Vận. Tháng 4, 1975, mất nước. Hai chữ Chiêu Hồi cho tôi biết công việc là cái gì, nhưng bảo chính sách, đường lối, âm mưu này nọ, xin chịu, không biết gì. Không ai trình bày gì khi sát nhập, cũng chẳng có tài liệu, sách vở, lý thuyết để liếc qua cho phải phép. Bây giờ, kiến thức có chút ít, suy luận thì trăm cách. Tôi có khả năng viết diễn văn, soạn kế hoạch, viết báo cáo, mang ra để kéo dài mấy bữa kẹo lạc, chè ngon, thuốc lá. Cái Ông Cán Bộ này tử tế, không cầm đi gói thuốc, anh chàng Lăng có liếc thấy, nhưng không dám đụng vào. Kiếm được tí “nhuận bút” thời buổi này ít có lắm. 4 giờ rưỡi chiều đã thấy Ông Cán Bộ và Ban Lăng đến. Tôi quên, Thiếu Úy Lăng  là Sĩ Quan An Ninh, làm việc ở Ban Giám Thị, tôi phải gọi ngài là Ban. Tôi ghi được một trang rưỡi. Ban Lăng tính thu dọn giấy tờ, Ông Cán Bộ gạt tay Ban, cầm lấy cả sấp giấy và cây viết, đút vào cặp. Tôi lẽo đẽo theo Ban về trại. Ban nói anh bảo Đội Trưởng báo cáo Trực Trại và Quản Giáo ngày mai anh làm việc tiếp. Cứ 8 giờ anh xuống sân, không thấy tôi đến đón, báo cáo ở cổng anh ra Ban Giám Thị làm việc. Mai làm việc sớm hơn hôm nay. Lát sau tôi mới nhớ ra là tôi “chưa kịp mua đồng hồ”, biết lúc nào là 8 giờ. Tôi tính trong bụng, sáng hôm sau, khi các đội xuất trại hết, tôi độ chừng lâu hơn nửa tiếng đồng hồ sẽ xuống sân. Nhưng sáng hôm sau, Trật Tự lên buồng tìm tôi, nói Ban Lăng chờ

 Cả ngày hôm sau, ngày thứ hai của “làm việc”, Ông Cán Bộ gặp tôi ít phút, nói anh cứ thế mà ghi ra. Nghĩ được gì, cứ viết, đùng lo giờ giấc, công việc của anh là quan trọng, bao lâu cũng được. Không có Ông Cán Bộ, Ban Lăng vẫn phải mang ấm chè và bình thủy nước sôi đến, thuốc lào, điếu, đóm. Ông Cán Bộ thỉnh thoảng tạt qua, móc điếu thuốc lá, làm ngụm chè nóng. Ông còn hỏi Ban Lăng để bao diêm cho tôi. Có vẻ Ông thích thuốc lào hơn, tôi vẫn nghe nhà bên có tiếng rít điếu cầy. Tôi thắc mắc không lẽ ở nhà bên cũng có đủ chè, lào như bên này. Muốn liếc mắt xem thế nào, nhưng khi về trại, tôi ra cửa rồi qụeo trái, trong khi cái “nhà bên” lại ở bên phải. Không lẽ khi “làm việc” với cán bộ ở Bộ, tiêu chuẩn của tôi có đủ chè, lào ? Thuốc lá với kẹo lạc của Ông Cán Bộ. Cho thằng tôi hưởng thêm kẹo, thuốc, hoặc vì ông có từ tâm mà ông không phải chi, hoặc vì ông muốn được địa phương phục dịch theo ý, hoặc vì ông cũng thích mấy thứ đó. Cái “hoặc” nào đúng?  Không thể biết được. Cứ hưởng đã. Buổi sáng, Ông Cán Bộ đưa tôi xấp giấy trắng, còn hai tờ giấy tôi ghi hôm qua, ông vẫn để trong cặp, mặc dù tôi mới ghi hết 1 tờ rưỡi. Cả ngày hôm nay, ngày làm việc thứ hai, tôi ghi được 3 trang giấy. Ngày thứ 3, đại khái như ngày trước.

Ngày làm việc thứ 4, Ông Cán Bộ sốt ruột, nói sáng nay anh ghi cho xong những cái đang ghi (Về hiêu Hồi). Chiều nay, chúng ta nói qua chuyện khác. Bao thuốc lá còn được một phần 4. Kẹo lạc đã hết chiều hôm qua. Tôi làm việc trong sự “buồn tủi vì bị bạc đãi”, nhưng may quá, ông nói viết cho xong phần đang viết. Chắc chàng thấy tôi lan mang đủ thứ mà chẳng có gì là quan trọng, nên cho tôi ngưng chuyện đang viết. Buổi chiều Ông Cán Bộ nói một hồi về chuyện ta đang đòi Mỹ bồi thường chiến tranh, và phải bồi thường theo cách của ta. Để cho nó quản lý việc bồi thường, nó lại xâm nhập vào ta để phá hoại. Xong, ông kết luận, chúng tôi cần anh nói rõ về kế hoạch thông tin, tuyên truyền, hồi chánh trong kế hoạch hậu chiến của nó. Nó sẽ có những bước đi như thế nào để tuyên truyền xâm nhập, phá hoại, … nhiều thứ lắm. Tôi vội trả lờ ngay, tôi không biết gì về “Kế Hoạch Hậu Chiến” của Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa. Tôi có thấy trên báo nói mấy chữ đó, nhưng không được đọc tài liệu nào, không được học tập gì, … Ông Cán Bộ khoát tay, anh cứ động não đi, cứ nhẩn nha nghĩ, nhớ ra cái gì, viết cái đó xuống. Kế Hoạch Hậu Chiến, thằng Mỹ nó thâm độc lắm, không coi thường được.

Nếu biết có ngày một anh cán ngố bắt tôi viết về Kế Hoạch Hậu Chiến của Giáo Sư Vũ Quốc Thúc và ông Davis gì đó, thì năm 1970 tôi đã copy sẵn kế hoạch đó để bây giờ “nộp” ngài cán. Thành ra, mấy anh cán này ghê gớm. Họ có đủ hết khi lấy được Sài Gòn, nhưng cứ cố bới móc xem có gì bị dấu đi không. Tôi đoan chắc là mấy câu chuyện giữa cán ngố ở Bộ và tôi, mấy anh cán ngố ở trại không được biết, và cũng không dám hỏi tôi hôm nay trao đổi những gì, viết những gì. Cái gì cũng bí mật theo từng cấp thấp, cao, ngang, dọc. Bố khỉ! Sau Kế Hoạch Hậu Chiến, Ông Cán Bộ cho tôi một ngày để tôi viết về Kark Marx. Cái này hơi lạ. Hay là họ muốn kiểm tra xem Miền Nam biết gì về mấy cái thứ lý luận triết học ưu việt của họ.

Tất cả 6 ngày làm việc, ngày 4 và 5, tôi cố dặn ra ít trang về Kế Hoạch Hậu Chiến về mặt Thông Tin, Tuyên Truyền, còn Chiêu Hồi tôi lờ đi vì ngửi thấy mùi tình báo trong đó. Tránh xa là hơn. Ngày 5, Ông Cán Bộ đãi tôi miếng bánh đậu xanh Hải Dương. Ngày 6, một miếng bánh khảo. Ông này đi xa trang bị kỹ nhỉ, hay ông moi của trại, không biết được. 6 ngày nhưng tôi nghỉ Thứ Bảy, Chủ Nhật, nên làm việc đến Thứ Hai tuần tiếp theo. Không biết ai quyết định, tôi được một ngày nghỉ nhà, là ngày Thứ Ba. Nghe nói hình như Thứ Bảy mấy ông Ban nào đó đưa Ông Cán Bộ “đi săn”. Không biết “săn gì”.

Sau đó, tôi nghe nói anh Phạm Phú Minh cũng ra làm việc, chẳng hiểu làm việc ra sao, có giống tôi không.

Khoảng 10 tháng sau (hay 1 năm sau?), mùa xuân (hay mùa hè?), tôi lại làm việc lần nữa. Cũng người từ Hà Nội vào. Nhưng lạ một điều, tôi không nhớ gì về kỳ làm việc này. Cũng anh Ban Lăng phục dịch, hình như anh đã lên Trung Úy. Vấn đề duy nhất tôi nhớ cũng là Kế Hoạch Hậu Chiến, về khía cạnh kinh tế, và đặc biệt về Tình Báo Hậu Chiến. Họ muốn đào sâu về chuyện gài người sau chiến tranh. Họ tưởng tôi là “bộ óc” hay sao? Tôi là một tên bất tài vô tướng, là lính quèn, chỉ đâu đánh đó, mà còn đánh sai nữa. Đồ đần! Không nhớ có phải chàng cán ngố ở Bộ kỳ trước không, hay chàng khác. Có lẽ khác vì tôi nhớ loáng thoáng chàng cán ngố này năng ngồi với tôi hơn, hỏi han tôi nhiều hơn. Hình như kẹo bánh kỳ này không có, hay có mà tôi quên. Bình chè, thuốc lào vẫn như kỳ trước. Tôi không nhớ anh chàng này hay anh chàng kỳ trước hỏi tôi: Anh có quen Tôn Thất Lập. Tôi nói, lúc sinh viên, có người nói tên Tôn Thất Lập đến gặp tôi, như thế là tôi biết, nhưng không quen. Có thể mấy anh này trộ tôi, để tôi biết rằng họ đọc các hồ sơ khai báo rất kỹ. Kỳ này Phạm Phú Minh thoát. Anh giáo sư triết học này là người “Miền Trung thật thà, chất phác.”

Tôi chỉ nhớ có vậy ở kỳ 2 “làm việc” với Bộ. Hậu quả tích cực của mấy kỳ “làm việc” là tương đối tôi ít bị “đụng chạm” với bọn Công An trong trại. Chắc họ ít gặp trường hợp người ở Bộ Nội Vụ về “thăm hỏi” tù nhân. Tôi đoán vậy thôi, chưa chắc đúng. Tôi làm “thơ” phản động, đọc cho cả người mà anh em tin là ăng ten nghe, cũng chẳng thấy ai động chạm gì.

Khúc Độc Hành

Hồi nhỏ, học địa lý, tôi nhớ tên một số sông. Chắc chắn tôi nhớ sông Hồng, còn gọi là sông Nhị Hà vì gắn liền với Kinh Đô Thăng Long, và sông Đuống vì chẩy qua quê tôi ở Bắc Ninh. Sông Cửu Long là con sông quá dài từ Hy Mã Lạp Sơn, nên tôi phải nhớ. Sông Hương, vì là Kinh Đô Triều Nguyễn, tôi cũng phải nhớ. Nhưng không hiểu sao tôi lại nhớ rất nhiều về chùm 3 con sông ở phía bắc của Miền Trung Việt Nam: Sông Mã, sông Chu, sông Cả. Cả 3 con sông không thuộc loại sông lớn, không gần gũi gì với quê tôi, không kiên hệ gì tới kinh đô, hay cố đô của đất nước mình. Sông Mã có gần với Thành nhà Hồ, nhưng không có gì đặc sắc. Đến khi vào Trung Học, tôi làm quen với văn thơ, tôi biết đến thơ Quang Dũng, và tôi say mê bài Tây Tiến của chàng thi sĩ tiểu tư sản trong Trung Đoàn Bảo Vệ Thủ Đô, toàn là thanh niên, sinh viên, trí thức tiểu tư sản. Chàng theo Trung Đoàn qua bờ sông Mã, để lại cho thi văn Việt Nam những khúc hát bi hùng:

“… Tây tiến đoàn binh không mọc tóc, Quân xanh màu lá, dữ oai hùm. Mắt trừng gửi mộng qua biên giới, Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.”

Rải rác biên cương, mồ viễn xứ, Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh. Áo bào thay chiếu, anh về đất, Sông Mã gầm lên khúc độc hành.”

Nhiều lắm, những khúc hát, những nét chấm phá của bức tranh trác tuyệt trong bài thơ rất nhiều. Ngay từ lớp Đệ Thất, tôi bắt gặp bài thơ Tây Tiến trong một tập thơ chép tay, hình như của anh thi sĩ Thùy Nhân, tức Nguyễn Khắc Giảng, do anh Đỗ Quí Toàn hoặc anh Đỗ Ngọc Yến để quên tại nhà tôi ở số 2 Ngô Quyền, Đà Lạt. Và tôi mê mấy câu thơ trên, và đặc biệt 2 câu này: “Áo bào thay chiếu anh về đất, Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Các cụ bảo văn thơ vận vào người. Không hiểu điều đó có đúng với mọi người không. Với tôi, quả thực, tôi suýt “về đất” trong chiếc áo tù bên giòng sông Mã. Tôi không nhớ ngày tháng của chuyện xẩy ra. Chắc là vào mùa hè của những năm từ 1978 trở đi, lúc mà các bạn Quân Đội từ các trại tù Miền bắc đã về đến Thanh Cẩm. Lúc đó  bà xã tôi chưa vượt biên. Mùa hè, đó là mùa lũ của Sông Mã. Mùa mưa tại vùng núi rừng biên giới Lào Việt, nước từ các dòng suối dồn xuống, nhập vào các sông, vào cả sông Cửu Long chảy hướng Tây Bắc, và vào sông Mã chảy hướng Đông Bắc. Đến huyện Cẩm Thủy, trở thành lũ mạnh.

Một buổi chiều “đi làm” về, xuống sông tắm. Bãi tắm bên bờ sông Mã ngay trước cổng trại giam Thanh Cẩm. Từ triền dốc đổ xuống bờ sông chỉ có một giải đất hẹp cho anh em đứng thay quần áo. Đông lắm lúc “tan tầm”. Mọi người cười đùa ồn ào. Nước sông cuồn cuộn. Nước lũ kéo theo nhiều cây gẫy đổ vì mưa bão, sụt lở ở tận đâu đâu trôi về gần khúc ở cổng trại giam thì ngừng lại. Tôi ở phía ngoài một chút so với anh em ở dưới nước gần sát bờ vì ngại nước chảy mạnh. Nhìn lên phía nước chảy tới, tức phía trái của mọi người, tôi thấy mấy cành cây nhấp nhô theo sóng sông, nhưng vẫn ở yên một chỗ. Có lẽ cả một cây lớn trôi về mắc kẹt nơi đó. Liệu chừng xa khoảng 10 mét. Tôi có thể bơi đến đó, vẫn là bơi dọc theo bờ, không phải bơi ra ngoài. Đúng ra, tôi chỉ bơi được chút ít, không phải người biết bơi giỏi. Nhưng 10 mét là khá an toàn, lại gần bờ, chỉ chừng một hai phút là tới thôi, sau đó sẽ bám vào mấy cành cây. Không ngờ, “cả một thế kỷ” trôi qua, tôi mỗi ngày mỗi xa cành cây xanh lá kia. Tôi bơi ngược dòng lũ. Bắt đầu hốt hoảng, và mệt. Tôi dơ tay vẫy vẫy trên bờ vì thấy bơi vào không được. Tôi thấy rõ mọi người vẫn cười đùa ồn ào dưới sông, trên bờ. Không một ai nghe tiếng tôi kêu. Không một ai nhìn thấy tôi quơ tay vẫy. Trong cơn bấn loạn tôi vẫn nhìn rõ những đôi mắt nhiều người, tôi chỉ mong một đôi mắt nào đó bắt gặp mắt tôi. Không. Sáu bảy chục người, người đang đùa rỡn, người đang thay quần áo, người đang lau khô thân thể, tôi thấy hết. Không ai thấy tôi. Tôi thấy rõ những đôi mắt nhìn ra giữa dòng sông, nhìn qua cả bờ bên kia, nhưng không thấy tôi. Những đôi mắt đó có lẽ chỉ thấy tôi như một thành phần trong mấy chục người dưới sông đang tắm. Thêm “một thế kỷ” nữa trôi qua, tôi không còn giữ mình nổi lên được nữa. Mà hình như càng ngày càng xa đám đông. Tôi chìm xuống, rồi lại ngoi lên, tay quơ quơ cầu cứu. không thể kêu lớn được nữa vì mỗi lần trồi lên mới hả miệng kêu là lại chìm xuống ngay. Mặt nước thì mênh mông. Anh em vẫn cưới đùa. Lâu lắm rồi, và mệt lắm rồi. Mỗi lần trồi lên là một lần cố mang sức lực cạn kiệt dồn vào đôi bàn chân để đạp, đôi cánh tay quơ trên mặt nước. Tôi đã nghĩ, phải buông xuôi rồi, không thể ngoi lên thêm được một lần nữa. Đúng lúc đó, tôi kịp nhìn thấy, rất nhanh, có lẽ chỉ một phần mười giây đồng hồ, ai đó trên bờ la lớn, chỉ tay về phía tôi, cứu kìa, cứu kìa.

Một phần mười giây đồng hồ, quí vị chưa biết được nó dài bao nhiêu đâu, nếu quí vị chưa qua cảnh “thập tử nhất sinh”. Phải nói là trăm lần, ngàn lần tử, một lần sinh mới đúng. Trước cái “một phần mười giây đồng hồ” đó, là “một phần mười giây đồng hồ” khác, khi tôi nghĩ đến chuyện “bỏ cuộc”, sẵn sàng chìm theo dòng sông Mã, trôi đi, trôi đi … Cái “một phần mười giây” trước này, khi đã quyết định bỏ cuộc rồi, tôi nghĩ về rất nhiều chuyện, và lạ thay, theo một logic thời gian. Tôi nghĩ rất nhiều chuyện, vì có lẽ tốc độ của tư tưởng nhanh hơn tốc độ ánh sáng? Và tôi “nghĩ đến”, không phải “tư duy” cái con khỉ tiều, bắt đầu là khi mọi người xếp hàng nhập trại, đếm đi đếm lại, thiếu mất một người, phải mất năm phút, mới biết là thiếu tôi. Bủa đi tìm, xuống bờ sông xem tại sao tôi chưa lên, chạy đi xa một tí, hay tại tôi đau bụng, tạt vào lùm cây nào, cất tiếng gọi tôi. Cuối cùng, mọi người vào hết, phải cho Đội vào thôi. Và, tôi thắc mắc, không biết có bắn 3 phát súng không, báo có người trốn trại. Buổi tối, cơm nước xong mọi người trong buồng bàn tán, nhất là người trong đội tôi bàn tán, tôi đi đâu, trốn đâu cho thoát. Có ai nghe tôi nói chuyện trốn này không. Tôi tưởng tượng ra cảnh mọi người trong buồng, dưới anh đèn điện vàng, những ai sẽ tụm với những ai. Mấy ngày sau, dân làng nào đó, bác chài nào đó, báo xác tôi nổi lên. Mọi người lại bàn tán. Không biết ai sẽ mang tôi đi chôn, chôn ở đâu. Hy vọng có mảnh gỗ ghi tên tôi trên nấm mồ.

Vẫn trong cái “một phần mười giây” trước đó, tôi nghĩ về cảnh gia đình, vợ con tôi được tin tôi mất. Đẻ tôi, vợ tôi, cả  nhà, qua sự tưởng tượng của tôi, sẽ như thế này, thế này …Tưởng tượng rất lớp lang. Mới đầu, nhà vợ tôi được tin, cả nhà sẽ thế này, thế này … Rồi vợ tôi nhờ đứa em chở về khu Trương Minh Ký, gần ngôi trường cậu Chí Chánh Án xử tử già Hồ, báo tin Đẻ tôi, và cảnh vật sẽ như thế này, thế này … Tôi lại thắc mắc, không biết hồn tôi có về được nhà không, có “nhìn xuống” mọi người không, có báo tin được ngay cho vợ tôi biết không? Hay báo tin cho ai. Người ta bảo phải “hợp” mới liên lạc được, “hợp” cái gì đó, tần số? Và, thêm một điều này, lạ lắm, ngay lúc đó tôi tự nhủ không sân hận, không thù oán, có tiếc, nhưng tự bảo mình, ra đi với “lòng xuân phơi phới”. Sau đó, lại nghĩ thêm điều này, tôi có quyền lực gì để giúp được cho người đã nhìn thấy xác tôi? Đã vớt tôi lên. Tôi muốn đền đáp, nhưng không biết có khả năng đó không. “Một phần mười giây đồng hồ!” Tôi chắc là thế, không thể lâu hơn. Thì giờ lấy đâu ra mà lâu. Buông rồi, bỏ cuộc rồi, tôi sẽ chết ngộp ngay thôi, chìm xuống, và trôi đi theo dòng nước sông cuồn cuộn.

Và “một phần mười giây SAU ĐÓ”, tôi biết có người sẽ cứu tôi. Tôi đã thực tập chuyện cứu người chết đuối ở hồ Xuân Hương, Đà Lạt. Trời Đà Lạt lạnh ơi là lạnh. Các anh huynh trưởng Hướng Đạo bảo tôi, để xứng đáng gắn mảnh bằng “Hạng Nhì” lên tay áo, tôi phải làm chuyện đó. Tôi không bơi được, phải giả chết để người khác cứu. Nước hồ lạnh buốt. Ngay sát bờ, tôi ngụp đầu xuống, rồi nằm ngay đơ. Kỹ thuật được học là, người được cứu không được luống cuống bám lấy người cứu. Để yên cho người kia đỡ đầu mình lên, họ sẽ bơi vào bờ, vừa kéo mình theo. Bám vào người ta, họ sẽ không bơi được, bám chặt quá, có khi cả hai đều chết. Không biết do sức lực nào, sau khi quyết định bỏ cuộc, nhưng với một phần mười giây đồng hồ cuối cùng, tôi biết có người cứu, nên tôi ngoi lên thêm một lần nữa, tôi nhìn thật nhanh, và nhận ra ngay Lê Chẩn đang sải tay bơi tới tôi. Tôi đã nghĩ ngay, nước cuốn nhanh quá, không rõ Lê Chẩn kịp tới tôi không. Lê Chẩn tới, lạ thường, đầu óc tôi lúc đó rất tỉnh táo. Biết là tôi phải nằm yên để Lê Chẩn một tay nâng đầu tôi, một tay bơi vào bờ. Tôi nằm yên, nhắm mắt, nhận biết tất cả tiếng ồn ào xung quanh. Gần đến bờ, có ai ra tiếp cứu với Lê Chẩn. Hai người kéo tôi vào bờ. Một phút sau tôi đứng dậy.

Lê Chẩn, một bạn hơi cao và gầy. Gốc Quốc Gia Hành Chánh. Người Miền Trung, kín đáo, ít giao thiệp. Có lẽ kém tôi chừng 2 hay 3 tuổi, thuộc nhóm Long Thành ra đây. Anh đã cứu tôi, thực sự cứu tôi thoát chết. Tôi đã bỏ cuộc nhưng anh đã kéo tôi trở lại với cõi đời. Thực sự kéo tôi trở lại, hoàn toàn về phương diện thể chất, không phải cái lối nói văn hoa, bóng bẩy. Con người bằng xương bằng thịt của tôi được bạn tù Lê Chẩn cứu thoát khỏi chết đuối. Ra hải ngoại, nhóm tù Gia Đình Thanh Cẩm liên lạc được với anh, nhưng một lần duy nhất. Tôi gọi điện thoại, e mail nhiều lần, không được.

Văn thơ vận vào người. Chút xíu nữa thì tôi “áo tù thay chiếu, về đất”, vào mùa sông Mã gầm thét.

Vợ tôi tuổi Tý. Tết năm 1984 là năm Giáp Tý. Các cụ phán năm tuổi thường là xui. Đúng thật. Vợ tôi gặp xui vì thằng chồng lại được thả về để ăn hại.

Vậy là tôi đã điểm qua mấy năm tù đày của tôi. Chẳng có gì ghê gớm. Nhìn lại, mọi sự cũng nhẹ nhàng thôi. Thằng tôi gàn, nhìn đời lạc quan, luôn tìm ra niềm vui cho mỗi lúc nhọc nhằn. Sau này tôi biết, đó là “an trú trong hiện tại.” Nhiều điều có thể tôi ghi sai, tôi nhớ thế nào, ghi như vậy. Tôi cố ghi đúng theo như tôi nhớ. Vị nào chỉ cho chỗ nên điều chỉnh, xin cảm ơn rất nhiều.

Nhưng 9 năm trong nhà tù, nhất là nhà tù cộng sản, chắc rằng có nhiều điều để nói, có nhiều cảnh sống để nhớ lại, có nhiều con người để nhắc đến. Bên trên, tôi chỉ kể chuyện của tôi. Bây giờ xin kể thêm chuyện nhà tù, người tù, người coi tù, người bỏ tù chúng tôi, và những cảm nhận, cách nhìn sự việc, cách nhìn con người của tôi. Tức là tôi sẽ rất chủ quan. Giả như quí vị không chia sẻ được, xin mở lòng độ lượng liệng nó vào thùng rác.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: