Nhà Tù Long Thành

Buổi Chiều Hôm Đó

Bây giờ, hình ảnh của buổi chiều hôm đó chỉ còn đọng lại trong ký ức tôi những gì khá mờ nhạt. Giống như một đoạn phim băng nhựa lâu ngày đã nhão, âm thanh, hình ảnh, chuyển động, ánh sáng, màu sắc của nhân vật, sự vật diễn ra trong màn hình ký ức có bị lạc nhịp, nhưng tựu trung cảm xúc trong tôi của ngay lúc đó vẫn được truyền đạt phần nào rõ nét. Tôi muốn nhắc lại buổi chiều chúng tôi được chuyển ra bến tàu Tân Cảng, Sài Gòn, để lên tàu Sông Hương đi ra Bắc. Không nhớ rõ lắm, nhưng tôi tin rằng tàu đó mang tên Sông Hương.

Ở đoạn phim 2 phút này tôi chỉ muốn nhắc đến khoảng thời gian chừng 2 giờ đồng hồ diễn ra trên đoạn đường dài khoảng 6, 7 chục cây số, từ Làng Cô Nhi Long Thành đi Tân Cảng. Đó là 2 giờ đồng hồ của buổi chiều ngày 30 Tháng 11 hay ngày 1 Tháng 12, năm 1976. Tôi không nhớ chính xác ngày, chỉ tính ngược lại từ sáng sớm ngày 6 Tháng 12 là ngày chúng tôi đến Trại tù Thanh Cẩm ở Thanh Hóa. Trước đó, mất hơn 3 ngày trên tàu Sông Hương, hơn 1 ngày ngồi xe hàng (xe đò) từ Hải Phòng về Thanh Cẩm.

Coi như một buổi sáng cuối Tháng 11 năm 1976, chúng tôi được lệnh thu dọn đồ đạc để chuyển trại. Chúng tôi là nhóm 195 người trong số gần 500 viên chức của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa lúc đó còn bị nhốt tại Trại Long Thành, trước đây là Làng Cô Nhi Long Thành. Từ giữa Tháng 6, 1975, Chính quyền Cộng Sản đã nhốt hơn 2,000 viên chức VNCH, đảng viên các đảng phái chính trị tại trại này, sau thêm một số chị em thuộc thành phần bọn Cộng Sản gọi là “cải tạo hoàn lương”, và các cháu thiếu nhi bị nhốt từ Bù Gia Mập chuyển về, con số tù nhân trong trại có lúc lên đến hơn 2,500 người. Hơn 18 tháng qua, số lớn tù được thả hay chuyển trại. Chúng tôi là nhóm thứ hai (hay thứ 3) những viên chức VNCH mà Cộng Sản gọi là cao cấp, được lệnh chuyển trại, Họ không nói rõ, chúng tôi đều biết là sẽ đi ra Bắc như mấy nhóm trước.

195 người chúng tôi leo lên 7, hay 8 chiếc xe camion phủ bạt bít bùng, rồi xe chuyển bánh. Bạt phủ nhưng không kín hết, vẫn có thể nhìn rõ những khuôn mặt người ở lại, những cái vẫy tay, những ánh mắt. Những bạn tù ở lại đó, qua nét mặt, qua ánh mắt đều muốn chia sẻ với chúng tôi nỗi âu lo cuộc hành trình đi Bắc, cuộc hành trình được hiểu như “một đi không trở lại”. Nhưng tôi hiểu rằng trong lòng họ rộn lên nỗi hân hoan “chưa phải đi Bắc”. Do tình cờ lịch sử, sau này, con số gần 300 bạn tù đó không phải đi Bắc.

Trời về chiều. Đoàn xe chạy trên quốc lộ 51 hướng từ Bà Rịa đi gặp Xa Lộ Biên Hòa. Lâu lắm rồi mới thấy lại gió lộng trên xe. Lâu lắm rồi mới thấy các mái nhà tôn, nhà tranh, nhà ngói ẩn hiện dọc hai bên đường, nhưng sao cùng vẻ âm u, lặng lẽ.  Trời chiều tắt nắng, ánh sáng nhá nhem, sau những khung cửa ra vào, cửa sổ mỗi căn nhà vẫn không một ánh đèn. Toàn là bóng tối. Có phải vì tâm trạng chúng tôi đang âu lo, buồn bã mà nhìn cảnh vật đen tối hơn. Không chắc lắm, bởi vì cho đến giờ phút ghi lại những dòng chữ này, hơn 40 năm sau, tôi vẫn nghẹn ngào khi nhớ lại cảm xúc về vài hình ảnh bắt gặp trên đường. Không bao giờ quên những hình ảnh đó: Mấy vạt áo dài bay bay sau chiếc xe vespa, lambretta chạy trên xa lộ Biên Hòa hướng về phía Sài Gòn. Những hình ảnh rất bình thường trên đường phố Sài Gòn 2 năm trước đây, sao bây giờ quí hiếm như từ một cõi xa xăm nào đó. Nỗi khát khao bốc cháy trong tôi. Nỗi khát khao bóp nghẹt tim tôi. Tôi liếc nhìn chung quanh, bao nhiêu cặp mắt âm u dán vào mấy chiếc xe gắn máy chạy trên xa lộ. Tôi tưởng rằng nếu tôi cất lên tiếng nấc nghẹn chắc thế nào nhiều tiếng khóc sẽ vỡ òa. Tôi cố kìm hãm và nhủ thầm: Vĩnh biệt “cõi người ta”, cõi người bình thường.

“Khát khao bốc cháy trong tôi!” Bởi vì, mấy thiếu nữ ngồi sau 2, 3 chiếc xe lambretta kia đang nghiêng sát người vào lưng chàng trai phía trước theo vòng tay ôm chặt bụng chàng, cái kiểu ngồi rất bình thường để người ngồi sau giữ cho được an toàn. Nhưng, ôi chao, phần ngực ép sát đó, khoảng da thịt hở ra từ vạt áo sau vắt chéo lên, trong ánh sáng chạng vạng của trời chiều, trong cái bâng khuâng của những hạt mưa nhỏ thốt nhiên đổ xuống xa lộ vài phút, sao lại bừng sáng, lồng lộng như một ân sủng của đất trời, ân sủng chỉ dành cho ngững con người trần gian đang sống. Chúng tôi không còn thuộc cõi trần gian đó, cõi trần gian có những vạt áo dài, có những bộ ngực ấm áp ép vào lưng chàng trai diễm phúc lái xe, và ở đó có những chặng đường dài cho những cặp tình nhân dong ruổi. Hết rồi!

Hình ảnh đó, cảm xúc đó ẩn náu mãi trong tôi như một dấu ấn phân biệt giữa 2 cõi đời. Cho đến hôm nay đã thuộc về những năm 2,000, những hạt mưa nhỏ ngày nào trên xa lộ vẫn bay bay trong trí tưởng tôi. Lúc đó, những hạt mưa nhỏ là của chốn trần gian chúng tôi đang rời xa vĩnh viễn, những hạt mưa nhỏ như tiễn lũ chúng tôi đang chìm vào một chốn xa xôi vời vợi.

Cõi trần gian bình thường đã biến mất từ ngày 30 Tháng Tư, 1975. Gần 10 năm sau tôi mới được về sống bên Mẹ tôi, nhưng vẫn là trong cõi nhân gian nào đó. Phải 16 năm sau tôi mới được trở lại cõi bình thường, được gặp lại vợ, con, ở Mỹ.

 16 năm là một phần tư (1/4), một phần năm (1/5) của đời một con người. Và cũng là một phần 3 của khoảng thời gian làm được nhiều nhất, đóng góp được nhiều nhất, cũng có thể phá hoại nhiều nhất của đời một con người. Và chắc chắn đó là “16 năm vàng” của tuổi thanh xuân của tôi. 16 năm vàng tan chảy vào cõi nào đó dưới sức nung cháy của lửa hận thù của những người cộng sản. Tôi sẽ không tiếc một chút nào, còn có thể an vui nữa, nếu sự tan chảy đó là cần thiết để mang lại cho gia đình, bà con họ hàng, xã hội cuộc sống ấm no hạnh phúc. Tiếc thay, đồng bào tôi, dân Việt Nam chúng tôi chỉ được hứng chịu những khổ đau nhục nhằn dù hàng trăm ngàn “năm vàng của lũ chúng tôi” bị tan chảy …

Bây giờ, 16 năm đó loáng thoáng hiện về những hình ảnh, ký ức …

Cũng Là Đào Ngũ

Trưa ngày 25 Tháng 4, 1975, từ Ty Thông Tin Chiêu Hồi tỉnh Chương Thiện tôi lên đường về Sài Gòn. Một cậu trong Đoàn Văn Tuyên lái chiếc xe màu vàng chanh của Ty chở tôi đi. Tôi có thể lái xe một mình, nhưng cần có người mang xe về lại Chương Thiện, bởi vì tôi biết sẽ chẳng có ngày trở lại nơi này. Tức là, trưa hôm đó tôi đang làm một việc gọi là “đào ngũ” dù rằng tôi có tờ giấy “Sự Vụ Lệnh” đi công tác Sài Gòn do Đại Tá Tỉnh Trưởng Chương Thiện Hồ Ngọc Cẩn ký. Quí vị có thể tìm hiểu chuyện này rõ hơn ở phần “6 Năm Đầy Tớ” trong “tập 4 – Sài Gòn Yêu Dấu”. Xin nêu mấy điểm vắn tắt ở đây:

Tôi tự nhận là “đào ngũ”, về tinh thần thực sự là như vậy. Nghĩa là tôi rời bỏ nhiệm sở, rời bỏ vị trí chiến đấu chống bọn Cộng Sản, âm mưu chạy ra nước ngoài. Nói “về tinh thần” vì trên nguyên tắc tôi đi có sự vụ lệnh. Sáng hôm đó tôi xin Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn cấp sự vụ lệnh cho tôi đi Sài Gòn mua và xin sách về cho “Phòng Đọc Sách” của tỉnh. Tôi có nói rõ cho Đại Tá biết thực sự tôi về Sài Gòn để tìm đường đi Mỹ. Tôi cần một sự vụ lệnh và không muốn nói dối vị chỉ huy đáng kính của tôi. 

Thực ra, mọi chuyện về Miền Nam của chúng ta đã vuột khỏi tầm tay của chúng ta. Có nhận là hèn, là đào ngũ, hay không, cũng chẳng thay đổi được gì. Nhưng chính vì vậy mới thấy sự vĩ đại của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn và quí vị Tướng VNCH tuẫn tiết. Nếu quả thực những người Cộng Sản có lòng tự trọng, họ phải nghiêng mình trước các vị sĩ quan này của VNCH. Họ không đủ nhân cách để làm chuyện đó. Ngay người hùng của họ, Tướng Võ Nguyên Giáp cũng không có đủ tư cách và bản lãnh làm những chuyện như Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, … và Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã làm. Bị làm nhục với nhiệm vụ hạn chế sinh đẻ, ông Giáp không đủ đởm lược để tự sát để làm gương cho đàn em, cho hậu thế. Hậu thế của dân tộc Việt Nam sẽ nhớ mãi tấm gương 5 Vị Tướng VNCH và Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Ngàn năm sau dân tộc ta sẽ nhắc đến các vị này.

Trở lại chuyến đi từ Chương Thiện về Sài Gòn chiều 25 Tháng 4. Vẫn với tính cách gàn, tôi nghĩ rằng bọn Cộng Sản khi chiếm được Ty thấy mất chiếc xe (chiếc xe màu vàng chanh của Dân Vận cả nước đều biết) sẽ làm khó dễ người tài xế, hoặc mấy ông Phó Ty, Trưởng Ban, … cho nên tôi cần trả lại xe đó. Trước khi rời trụ sở, tôi mở két sắt đựng tiền, (hình như) còn khoảng sáu trăm ngàn tiền mặt ($600,000.00). Tôi gọi ông Phó Ty vào, nói số tiền này tôi cầm đi Sài Gòn. Tôi cũng cho ông biết tôi về để tìm đường ra ngoại quốc. Tôi đưa ông $100,000.00, nói để ông phòng thân vì chỉ còn ít ngày nữa có thể mất nước. Tôi nhờ ông chuyển cho ông Trưởng Ban Hành Chánh $50,000.00, chỉ nói là tiền thưởng của riêng ông ấy, đừng nói gì về những điều tôi mới nói với ông. Rồi tôi chỉ mang theo rất ít đồ dùng cá nhân để không gây hoang mang trong nhân viên. Tháng nào tôi cũng một, hai lần đi chơi Sài Gòn hay các tỉnh, họ quen với chuyện tôi hay bất ngờ đi xa.

Khoảng gần 3 giờ chiều tôi rời tỉnh. Ông Phó băn khoăn vì tình hình chiến sự bùng nổ mạnh trong khu vực, ngại tôi gặp mấy anh vi xi (VC) dọc đường. Khoảng hơn 4 giờ chiều xe chúng tôi đang chạy trên Quốc Lộ 4 đoạn xuyên qua tỉnh lỵ Vĩnh Long thì gặp tai nạn. (Xe chạy trong tỉnh Vĩnh Long nhưng không rõ đoạn đường đó có phải là Quốc Lộ 4 hay không. Quốc Lộ 4 nối các tỉnh Miền Tây và Sài Gòn). Một chiếc xe chở hành khách đậu bên con đường chạy dọc theo kinh đào, tài xế rửa xe. Một cô bé từ đầu mũi xe chạy vọt qua đường. Tài xế xe tôi bị hoàn toàn bất ngờ, cố thắng nhưng rồi cũng đụng nhẹ vào cô bé. Cháu chừng 10 tuổi. Phải chờ cảnh sát làm biên bản. Cháu bé được gia đình đưa vào nhà thương.  Vì chúng tôi chạy xe bảng số chính phủ, tôi là viên chức chính phủ, nên chúng tôi được tự do, nhưng phía cảnh sát nói tôi chờ sáng mai gặp ông Biện Lý. Chúng tôi vào Ty Thông Tin tỉnh Vĩnh Long. Anh bạn Trưởng Ty giữ chúng tôi ngủ lại nhà anh, và gọi điện thoại cho ông Biện Lý ở Tỉnh. Các viên chức trong tỉnh thường quen biết nhau. Ông Biện Lý nói tôi sáng mai cứ về Sài Gòn công tác, bao giờ trở lại Chương Thiện tính sau.

Sáng hôm sau, tôi gửi xe lại Ty Thông Tin Vĩnh Long, cho cậu văn tuyên $50,000.00, nói cậu chơi lang thang đâu đó tùy ý, chán thì về lại Chương Thiện. Chúng tôi vào bệnh viện tìm cô cháu hôm qua. Tôi đưa bố mẹ cháu $100,000.00, nói để lo thuốc thang cho cháu. Để dễ hình dung các con số, theo trí nhớ đáng ngờ của tôi, lương tôi lúc đó, Trung Úy biệt phái, 1 vợ, 2 con, cộng thêm phụ cấp chức vụ, khoảng trên, dưới $40,000.00 một tháng (bốn chục ngàn đồng VNCH). Về số tiền lấy từ két sắt của Ty, sau này, trong tháng 5, 1975, ông Phó Ty từ Chương Thiện tìm gặp tôi ở Sài Gòn, nói bọn VC ở Ty mời tôi về lại Chương Thiện trình diện, họ nói rằng sẽ không có hành động nào hung bạo đối với tôi. Tôi cười, từ chối, nói tôi đã trình diện ở Sài Gòn rồi, sau này không thấy tôi họ sẽ làm khó dễ gia đình tôi. Ông Phó lại nói, họ nhắn tôi cho lại số tiền lấy từ két của Ty. Trả lời, tôi cho gần hết số tiền đó, bây giờ tôi không có đồng nào, tiền ở ngân hàng cũng kẹt luôn, tôi cũng không có nhà cửa, xe cộ để bán, nhờ ông về đó giải thích giùm. Nghĩ lại, bọn VC hay thật, lúc đó còn định bịp mình.

Trưa ngày 26, Tháng 4, 1975, tôi đi xe đò về tới Sài Gòn. Ở nhà cho biết gia đình bên vợ tôi đã nhận được giấy từ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cho phép nhập cảnh vào Mỹ, trong danh sách có cả vợ chồng và hai con tôi. Chiều hôm đó chúng tôi tìm cách vào Tòa Đại Sứ Mỹ nhưng không vào được. Buổi tối, tôi về thăm Đẻ tôi ở nhà anh Đỗ Quý Toàn. Vừa thấy tôi, cụ ôm chầm lấy, khóc và nói: “Bọn nó đánh lừa Đẻ, bỏ Đẻ ở lại.”. Tôi trấn an cụ, nói rằng cụ và cháu Chúc sẽ đi với tôi vì tôi đã thu xếp chuyện di tản từ hồi Tháng 3. Tôi quả quyết cụ chỉ ở lại khi tôi không thể đi được. Thực ra Đẻ tôi không coi việc ra đi là quan trọng, nhưng cụ tha thiết mong cháu Chúc, con trai duy nhất của anh Đỗ Trọng Tường, chạy thoát được.

Câu tôi nói đã chuẩn bị việc ra đi từ Tháng 3, không phải là nói dối cho Đẻ tôi yên tâm. Mấy tuần trước, khi vợ chồng tôi về thăm cụ và ăn cơm với gia đình anh Đỗ Quý Toàn, anh chị Toàn –  Quyên có hỏi tôi chuyện ra đi khỏi Việt Nam khi Cộng Sản chiếm được Sài Gòn. Tôi biết anh chị đã có giấy tờ bảo lãnh của một người chị ruột của chị Quyên đang ở bên Mỹ. Tôi cũng hiểu anh chị rất ngại mang theo thêm người vì chưa biết sẽ sinh sống ra sao ở ngoại quốc, nên tôi trả lời tôi không muốn đi. Ngay sau đó, tôi phải nói riêng với Đẻ tôi rằng tôi nói không muốn đi để anh Toàn, chị Quyên khỏi âu lo chuyện mang thêm 4 người gia đình tôi. Tôi nói là nhóm bạn bè chúng tôi đã có một chiếc tàu dành chỗ cho di tản, nên mang nhiều người đi được. Tôi nói Đẻ tôi có thể gọi thêm chị dâu tôi, Mẹ cháu Chúc, đi theo.  (Anh Đỗ Trọng Tường đã mất từ 1963). Bây giờ, thấy cụ quá thất vọng việc cháu Chúc không được đi theo anh Toàn, tôi nhắc lại chuyện đi bằng tàu thủy.

Trong nửa đầu Tháng 3, 1975, Thị Xã Ban Mê Thuột bị mất vào tay Cộng Sản. Vài tuần sau, tôi không nhớ chính xác, có thể là tuần lễ cuối Tháng 3 hoặc tuần lễ đầu của Tháng Tư, chúng tôi họp nhau ở nhà họa sĩ Trịnh Cung bàn chuyện “di tản”. “Chúng tôi” gồm Nguyễn Thượng Hiệp, Lê Đình Điểu, Trịnh Cung, và tôi (Đỗ Việt Anh). Tôi nhớ mang máng có cả anh Hà Tường Cát. Đúng ra, khi anh Nguyễn Thượng Hiệp nói tôi đứng ra mời các anh gặp nhau, tôi không hề nói rõ mục đích của cuộc họp mặt này. Ý định về chuyện di tản anh Hiệp chỉ bàn với tôi. Tháng Giêng 1974, Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa của Việt Nam, do Việt Nam Cộng Hòa đang kiểm soát. Khoảng Tháng 3 năm 1974, Nguyễn Thượng Hiệp và tôi được cử hướng dẫn phái đoàn báo chí đi Trường Sa. Bộ Dân Vận đang phát động chiến dịch chứng minh chủ quyền Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Chuyến đi này tôi đã kể chút ít ở đâu đó trong Tự Sự Đời Tôi. Nhắc lại ở đây để giải thích vì sao anh Nguyễn Thượng Hiệp bàn với tôi về chuyện di tản bằng tàu thủy. Chuyến đi Trường Sa cho tôi ít nhiều quen biết bên Bộ Tư Lệnh Hải Quân, còn anh Hiệp từ lâu đã có nhiều dây mơ rễ má với bên tình báo và Hải Quân. Hình ảnh các cuộc di tản hỗn loạn khỏi Đà Nẵng khiến chúng tôi phải tính toán trước.

Anh Nguyễn Thượng Hiệp trình bày với anh em chuyện anh đã liên lạc với một số vị bên Hải Quân để khi cần di tản khỏi Sài Gòn, chúng ta có chỗ đàng hoàng cho gia đình, người thân. Có câu hỏi di tản đi đâu, Miền Tây hay nước ngoài? Trả lời, nhiều phần là đi Phi Luật Tân hay Guam. Anh Hiệp rất lịch sự nói rằng “Tôi với anh Bí …”. Sự quen biết và các mối liên lạc hoàn toàn do anh Hiệp, tôi là tên ăn ké, có quen được với ai để tính chuyện này. Mỗi lần đi gặp ai đó anh Hiệp luôn cho tôi góp ý kiến trước, và có lẽ thêm một điều nữa, tôi thường dùng chiếc xe hơi R8 của ông bố vợ, nên có thể tôi là kẻ có phương tiện chuyên chở gia đình anh em khi cần. Anh Hiệp cho biết một đầu mối chắc chắn nhất là một vị Trung Tá (hay Thiếu Tá) Hải Quân, hạm trưởng một hải vận hạm, nói anh Hiệp được dành cả trăm chỗ trên tàu này.

Nghe nói chuyện di tản, anh Lê Đình Điểu tuyên bố không tham dự. Anh bỏ ra ngồi chỗ khác để anh em bàn chuyện. Lúc đó anh Điểu đã bỏ bên Dân Vận về làm việc với Tiến Sĩ Nguyễn Văn Hảo bên Bộ Kinh Tế. Theo dự trù, anh Điểu sẽ tìm cách kéo tôi về bên đó để thoát khỏi bên Dân Vận, hoặc vì ngại Bộ Dân Vận trả tôi về quân đội. Có thể anh Điểu không muốn bàn chuyện ra đi, mà theo cách gọi của tôi, là chuyện “đào ngũ”, hoặc vì Sài Gòn đã manh nha tin đồn trung lập, hoặc chính phủ 3 thành phần, nên anh hy vọng sẽ còn cơ hội đóng góp cho đất nước … Sau này, anh Điểu cũng không di tản, chỉ sau khi bọn Cộng Sản cho anh đi tù, anh mới tính chuyện ra đi, tôi nghe kể lại chứ lúc gia đình anh đi Tây, tôi đang ở trong tù.

Giá Như …

Trưa ngày 27 Tháng Tư, 1975, tôi lại về thăm Đẻ tôi. Tôi nói với cụ chuyện di tản, nhiều phần bằng tàu thủy, mặc dù tôi có cách để đi máy bay. Hồ sơ bên gia đình vợ tôi đang nằm trong Tòa Đại Sứ Mỹ. Sáng nay tôi lại chở bà Mẹ vợ đến Tòa Đại Sứ nhưng không có cách nào đi xuyên qua rừng người vây kín cổng tòa nhà. Nghe thiên hạ nói có thể liên lạc việc nhập cảnh Hòa Kỳ qua cơ quan DAO của Mỹ tại Tân Sơn Nhất. Nhưng cũng không cách nào vào Tân Sơn Nhất. Oái oăm một điều là khi tôi đang nói chuyện với Đẻ tôi, thì anh Toàn từ Tân Sơn Nhất gọi về, gặp tôi, anh nói nhờ tôi đi chở gia đình anh Đỗ Ngọc Yến vào Tân Sơn Nhất, sẽ có người đón tại cổng phi trường. Khoảng nửa giờ sau anh Toàn về nhà nhưng nói anh phải vào lại Tân Sơn Nhất ngay, anh về lấy thêm vật dụng gì đó. Anh đưa chìa khóa xe R10 (hay R8, tôi không nhớ rõ) của anh cho tôi đi đón anh Yến.

Sau này bạn bè thắc mắc hỏi tôi, tại sao tôi bị kẹt lại và đi tù, trong khi tôi chở gia đình anh Đỗ Ngọc Yến vào Tân Sơn Nhất để đi máy bay, chạy đến nhà anh Nguyễn Thượng Hiệp, lo thu xếp cho gia đình anh ấy việc ra đi, gọi taxi cho chị Hiệp cùng gia đình chạy đến điểm hẹn để lên tàu. Tôi hay đùa đùa trả lời rằng vì tôi muốn có thêm một kinh nghiệm sống “sau bức màn sắt”, dĩ nhiên sau đó phải giải thích ngay: Tại số! Có một sợi chỉ mỏng manh của hai chữ “giá như …”

Giá như lúc đó tôi biết được ý nghĩa thật chuyện gia đình anh Đỗ Ngọc Yến có tên trong danh sách di tản …, giá như lúc đó tôi biết được chuyện ông Briton có thể ra đón người đi qua trạm canh gác của Mỹ và Việt tại cổng phi trường. …,  có lẽ tôi đã đưa cả gia đình bên vợ tôi, cả Đẻ tôi, cháu Chúc, chị Tường và Mẹ của chị, vào được Tân Sơn Nhất, lên được máy bay di tản, …

Ý nghĩa hai chữ “giá như” tôi có kể loáng thoáng đâu đó trong tự sự này. Ở đây xin vắn tắt kể lại vài mẩu “giá như”. Trong một dịp nào đó ở Quận Cam, California, chắc là trong một tiệc cưới, một phụ nữ hỏi tại sao “ngày đó” tôi không vào Tân Sơn Nhất, bởi vì cô biết rõ gia đình tôi dễ dàng để gia nhập nhóm những người cô quen biết lúc đó đang có mặt trong phi trường, “nhất là có cả anh Toàn, anh Yến nữa?” Hôm nay, ngồi viết lại tôi tự nhiên không nhớ nổi tên cô và chi tiết về cô. Có những lúc trí nhớ của tôi hoàn toàn “trắng’ về một chuyện, một con người. Hình như cô có tham gia một số sinh hoạt thanh niên, sinh viên vào cuối thập niên 1960, đầu 1970; hình như cô cũng làm việc ở Bộ Dân Vận. Qua câu chuyện trong bữa tiệc, tôi hiểu rằng cô biết rõ về “nhóm” chúng tôi trong các sinh hoạt, và cô biết về vị người Mỹ tên Briton sống tại ngôi biệt thự số 18, đường Duy Tân. Sinh viên Nguyễn Hữu Thái, Trưởng Tràng trường Kiến Trúc Sài Gòn từng trú ngụ một thời gian với ông ta tại địa chỉ trên. Tôi có theo anh Đỗ Ngọc Yến đến ăn cơm với vị giáo sư đó mấy lần, có lần gặp cả Thái. Theo tôi hiểu, ông ta có mối liên hệ mật thiết với nhóm IVS (International Voluntary Services).

Về ông Briton tôi chỉ biết lờ mờ. Trên đường chở tôi đi từ trụ sở Chương Trình Hè 65, số 41 Phan Đình Phùng đến số 18 Duy Tân, anh Đỗ Ngọc Yến nói tay này (Briton) là một giáo sư đại học, đang làm việc gì đó cho bọn IVS. Người ta gọi tên ông là Briton, nói tiếng Pháp thông thạo. Mình biết nhiều tin tức từ ông ta, mình cũng hiểu nhiều hơn mấy chàng IVS. Lâu lâu mình ghé qua ăn cơm, nói chuyện. Mình cũng muốn người Mỹ hiểu chính xác hơn về con người Việt Nam. Lần đầu tiên tôi theo Yến đến nhà ông Briton là buổi tối, bữa ăn chỉ có 3 người. Tôi không chắc hiểu rõ được những gì ông giáo sư và Yến trao đổi. Tiếng Anh và tiếng Pháp của tôi là hạng ăn đong từng bữa. Đại khái cũng biết họ đang nói về những gì nhưng chính xác ý kiến của họ ra sao thì xin quí vị hỏi mấy con bò thì hơn. Một chuyện tôi còn nhớ khi họ nói về tình hình căng thẳng trong nội bộ IVS. Lúc đó tôi không biết rõ chuyện gì, tại sao. Mãi sau này tôi mới biết chuyện Don Luce, một chàng trưởng nhóm IVS Việt Nam. Quí vị google tên chàng thanh niên này sẽ hiểu rõ nhiều hơn. Có lần theo Yến đến 18 Duy Tân ăn cơm trưa, tôi gặp Nguyễn Hữu Thái. Trong bữa cơm 4 người, Thái ít nói (không có nghĩa tôi nói nhiều hơn, bởi vì tôi ngọng tiếng ngoại quốc!). Chàng sinh viên không chịu tốt nghiệp ra trường này đang trốn tránh công an.

Hôm nay, (năm 2019), ngồi ghi lại “Tự Sự Đời Tôi” giai đoạn sau 1975 và những năm tháng tù đầy, tôi muốn tìm hiểu về vị giáo sư tên Briton kể trên, để có thể hiểu rõ hơn cái chuyện “giá như”. Lục đống tài liệu được giải mật của CIA tôi không gặp được nhân vật nào tên Briton. Hàng triệu triệu trang tài liệu, việc này chắc là khó, mặc dù tôi bắt gặp tên Đỗ Ngọc Yến trong báo cáo của Lansdale. Tôi xoay qua google tên IVS, bắt gặp một vị tên Britton. Xin ghi nguồn của tài liệu về IVS “https://pdf.usaid.gov/pdf_docs/PNABI170.pdf”  . Trong tập pdf này, trang 162 có một đoạn như sau: “In the summer of 1962, C. Leslie Britton, the USOM contract officer  who worked with IVS/VN proposed that a “junior – senior technician” relationship ‘be developed betweem the IVSers and the USOM technicians …”

Sở dĩ tôi đi lan man mấy chuyện về số 18 Duy Tân, Sài Gòn vì muốn làm sáng tỏ hơn hai chữ “giá như” cô bạn trong bữa tiệc cưới gợi ra cho tôi. Nói chuyện vói “cô bạn” giữa cái ồn ào của một tiệc cưới, tôi hiểu rằng ông Briton (hay Britton, có 2 chữ t, xin cứ dùng tên có 1 chữ t cho tiện) gặp cô trong cái hỗn loạn của đám người chen chúc trong nhà kho nào đó của phi trường Tân Sơn Nhất. Cũng là lúc hai người gặp anh Đỗ Quý Toàn đi đến. Briton hỏi Toàn, Yến đâu. Thế là anh Toàn giúp ông điền tên từng người trong gia đình anh Yến vào tập hồ sơ ông Briton đang cầm. Theo cô bạn, đó là bản danh sách tên nhiều người, và ông Briton viết tay tên gia đình anh Yến nối tiếp ở trang cuối cùng, không đủ chỗ, ông kẹp thêm một tờ giấy khác và ghi tiếp theo. Nghĩa là, theo cô, ông Briton muốn ghi thêm bao nhiêu tên nữa cũng được, ghép thêm bao nhiêu tờ giấy nữa cũng được. Rồi ông dục anh Toàn làm cách nào nói gia đình anh Yến đến Tân Sơn Nhất, ông sẽ ra cổng đón (hay cho người ra cổng đón?) Đó là theo câu chuyện của cô, sự thực của câu chuyện này phải gạn lọc qua mấy cái lưới chủ quan, chủ quan của người kể, chủ quan của thằng nghe là tôi. Quí vị tin được bao nhiêu phần, hay bấy nhiêu. Một thí dụ về chủ quan: Cô bạn tin rằng ông Briton có thể viết thêm tên gia đình tôi vào danh sách như trường hợp anh Yến, vì cô nghĩ rằng ông Briton biết về tôi. Tôi không nghĩ vậy. Có thể, khi ghi chép hàng ngày những người ông gặp, những câu chuyện ông trao đổi, có tên tôi lọt vào bên cạnh tên anh Yến. Nhưng bảo rằng ông nhớ tên tôi, nhớ con người tôi như nhớ đến anh Yến, chắc chắn là không. Tôi là một hạt cát bên cạnh một tảng đá. Giữa lúc hỗn loạn, có thể ông viết thêm tên gia đình tôi nếu có ai nhắc đến (như một xin xỏ).

Chuyện anh Đỗ Ngọc Yến không là giá như, mà là “cái số” may của anh. Anh Đỗ Quý Toàn có lẽ không nhớ số điện thoại tiệm bông cườm Nam Thành, tức nhà anh Yến, nên gọi điện thoại “trời ơi” về nhà để báo Đẻ tôi biết anh sắp về nhà lấy thêm thứ gì đó. May mắn gặp được tôi đang ở thăm Đẻ tôi, nên nhờ tôi đi đón gia đình anh Yến. Giá như tôi biết ông Briton hay người của ông có thể đón gia đình anh Yến đi qua mấy trạm kiểm soát ở cổng Tân Sơn Nhất, chắc là đời tôi sẽ khác. Gia đình tôi có danh sách từ Bộ Ngoại Giao Mỹ mà không cách nào dùng được. Tôi cũng chưa bao giờ hỏi anh Toàn về chuyện này. Ích gì?

Bây giờ thêm một cái “giá như” nữa. Giá như vào trưa ngày 29 Tháng Tư, 1975, tôi đi cùng gia đình anh Nguyễn Thượng Hiệp lên tàu, thì nhiều chuyện của đời tôi cũng khác đi. Khoảng giữa trưa cái ngày 29 đó, anh Nguyễn Thượng Hiệp gọi điện thoại cho tôi, bảo phải đưa gia đình đến ngay địa chỉ … , chuẩn bị lên tàu. Bây giờ tôi không nhớ địa chỉ đó. Nhà anh Hiệp không có điện thoại nên anh nhờ tôi chạy qua nhà anh, cũng gần nhà tôi, chừng 10 phút lái xe, để đón gia đình anh đi chung. Nếu xe chật, gọi giùm taxi cho chị Hiệp. Tôi trả lời không đi theo tàu của anh Hiệp nhưng sẽ đến nhà anh, chuẩn bị cho gia đình anh chạy đến nơi hẹn. Tôi cầm mảnh giấy ghi địa chỉ điểm hẹn, chạy chiếc xe suziki (đi xe nhỏ vào hẻm nhanh hơn) đến gặp chị Nguyễn Thượng Hiệp. Chị đang bồn chồn đợi tin anh Hiệp. Mấy túi xách đã chuẩn bị sẵn. Tôi chạy ra đường kêu taxi, đưa chị và mấy cháu (bao nhiêu cháu tôi cũng không nhớ) vào taxi xong tôi mới chạy về nhà. Và gia đình anh Nguyễn Thượng Hiệp đến Mỹ vào năm 1975.

Tôi đưa hai gia đình lên đường xuất ngoại, còn tôi ở lại với mấy anh cán ngố. Lạ nhỉ. Các cụ đã nói “lắm mối, tối nằm không.” Hơn một tháng trước tôi tham dự với anh Nguyễn Thượng Hiệp việc chuẩn bị di tản bằng tàu thủy. Đến lúc anh gọi, lại không đi. Một cô em vợ tôi được lời hứa chắc như đinh đóng cột rằng cả gia đình sẽ đi chuyến bay đặc biệt của người Mỹ. “Mối” đi này an toàn hơn lên một chiếc tàu của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa. Vẫn cái lối vọng ngoại, đi với Mỹ chắc ăn hơn. Thực ra hình ảnh cuộc di tản bằng tàu thủy từ Đà Nẵng, Miền Trung về Sài Gòn khiến gia đình tôi e ngại chuyện đi tàu. Đi với tôi còn có Đẻ tôi, không thể để cụ lâm vào cảnh đó. Chúng tôi thiên về giải pháp cô em. Người đón nói rằng chúng tôi phải túc trực tại nhà vì xe sẽ đón bất cứ lúc nào, ngay cả nửa đêm giới nghiêm xe vẫn chạy đến được. Cho nên trong khoảng nửa giờ tôi đến nhà anh Hiệp với mối lo canh cánh bị “nhỡ tàu.” Và, lời một bài hát trở thành linh nghiệm, “anh cứ hẹn nhưng anh đừng đến nhé!” Đêm ngày 30 Tháng Tư, 1975 là đêm chờ đợi cuối cùng. Sao “đêm nay dài thế”. Sau này, gặp lại nhau trên đất nước Hoa Kỳ, chúng tôi đành “cười trừ”. Chàng ta hình như thuộc nhóm người nhái, nhóm đặc nhiệm gì đó của mấy nhân vật chóp bu Mỹ ở Việt Nam. Chàng đinh ninh sẽ mang theo thân nhân khi giờ “G” điểm. Giờ “G” bất ngờ điểm, chàng không kịp về đón ngay cả ruột thịt gia đình, nên “cái hy vọng là một nửa đời chàng cộng với gánh nặng kèm theo” cũng đành bỏ lại. Chàng phải cuốn gói theo sếp trong vòng 30 giây.

Tóm lại, con đường di tản an toàn nhất là không đi đâu cả!

Không đi đâu cả không có nghĩa là cứ ở lỳ trong nhà. Thằng tôi cũng phải chạy loanh quanh xem xét tình hình. Mấy ngày đầu Tháng 5, 1975, vẫn có nhiều người rủ tôi đi. Bạn bè thì thào “bọn nó”mới ở rừng ra chưa biết đâu vào đâu, còn đi về Miền Tây dễ dàng, hoặc kiếm mảnh giấy bệnh viện nói mới xuất viện, bây giờ chạy về nhà ở Vũng Tàu, Phan Thiết, Tây Ninh, … thiếu gì cửa ngõ. Mấy tên con nít đeo tay băng đỏ của “bọn 30” đứng gác khắp nẻo, nói khéo một tí cũng xong. Chúng hung hăng nhưng cũng chưa hiểu rõ chuyện đời. Bạn bè nại nhiều lý lẽ, ý kiến, nhưng tôi là tên hèn, không dám bỏ lại Mẹ già, vợ dại, con thơ ra đi một mình. Chạy loanh quanh ra bến Bạch Đằng, qua Thủ Thiêm, mò vào Năm Căn, cũng để cho có vẻ dũng khí, rồi lại về nằm dài trên gác xép.Thằng hèn không dám đi khỏi Sài Gòn làm cuộc phiêu lưu với bạn bè. Qua đến Mỹ, gặp lại, cũng chẳng anh nào hơn mình, cứ phải có “bạn đồng hành” mới dám ra đi.

Ngày nào tôi cũng về thăm Đẻ tôi ở Trương Minh Ký, tức Trương Minh Giảng nối dài. Cụ ở nhà của chị Hà Dương Thị Quyên, vợ anh Toàn. Anh chị bỏ đi, chị tôi là Đỗ Thị Thảo đưa gia đình đến trú ngụ. Lề đường trước nhà trở thành chợ trời. Hai, ba ngày liền tôi đi lên, xuống khu chợ, nghĩ xem mình ra buôn bán làm sao đây để kiếm tí tiền chợ. Mấy hôm trước đến thăm anh Trịnh Cung. Thạp gạo trong nhà sắp hết, chị ấy chưa biết xoay sở ra sao cho mấy đứa con nheo nhóc. Tôi chạy về nhà, mấy hôm cuối Tháng Tư, vợ tôi có rút ít tiền từ ngân hàng, nhưng bao nhiêu vốn liếng vẫn nằm nơi đó, bây giờ hết đường lấy ra. Năn nỉ vợ, dù sao nhà mình cũng khá hơn. Vợ đong cho độ chục ký gạo, đưa cho mấy chục ngàn coi như hơn nửa tháng lương (năm 2020, vợ tôi vẫn tin chắc số tiền đó là 23 ngàn). Tôi mang đến chia sẻ với chị Trịnh Cung. Sau đó mỗi người mỗi ngả, bặt tin vì tôi đi tù.

Đi lên, đi xuống chợ trời Trương Minh Ký không nẩy ra sáng kiến gì, tôi quay về mở quán cà phê tại nhà, trong hẻm 51 đường Cao Thắng. Có vẻ tôi thạo hơn ở việc mở quán cà phê, biết mua sắm ra sao, pha chế thế nào. Bà mẹ vợ nghĩ thêm chuyện nấu xôi cho khách ăn sáng. Tôi phải cấp tốc tổ chức cho ra hồn cái quán trước khi chui đầu vào cái rọ của bọn VC. Sau này nghe kể lại, quán rất đông khách, cả nhà lăn vào pha chế, bưng đồ ăn thức uống, lau chùi bàn ghế, … Nhưng bọn 30 Tháng Tư báo cho Phường bắt đóng cửa “vì có đĩa hát nhạc ngụy”. Chỉ là mấy băng nhựa nhạc không lời, hoặc nhạc cổ điển. Cán ngố vặn vẹo: “Nhạc không lời, thế nếu có lời thì là lời gì? Còn nhạc cổ điển của bọn Mỹ, Tây, lúc này còn vọng tưởng bọn chúng à?” Chịu thua! Đầu mấy con bò không hiểu được tiếng thiên nga trên trời cao. Bọn chúng không hiểu được tiếng người bình thường, không suy  nghĩ như con người bình thường.

Ra Đi

Thầy, Đẻ tôi cho tôi ra đời năm 1943, lúc Thầy tôi đã 70 tuổi (Cụ sinh năm 1873, tính theo tuổi âm lịch, năm đó Cụ 71 tuổi). Vậy thì vào cái năm 1975 đó, tôi được 32 tuổi tây, 33 tuổi ta. “31 bước qua, 33 bước lại”, cứ theo đúng như thế thì năm 33 tuổi tôi phải “bước chân ra đi.”

Suốt từ bé đến lớn, từ 1948 đến 1975, thằng tôi đã qua nhiều cuộc “ra đi”. Thuở nhỏ, theo bước chân Mẹ, tôi đi khắp các tỉnh thành. Vào tuổi thanh niên, cứ phắt một cái là tôi lại cuốn gói ra đi. Lắm khi chẳng có chuyện gì cũng leo lên xe đò, cứ đi là vui rồi. Có lần leo lên đúng chiếc xe đò đi Nha Trang. Đến nơi, trời chiều, lang thang kiếm ổ bánh mì, ngắm biển, để trí phiêu bồng theo “Nha Trang Ngày Về” của Phạm Duy, nửa đêm, thuê ghế bố ngủ tại bến xe. Hình như có kéo theo một cậu nhỏ nào thì phải. Bạn nào đi chuyến đó, làm ơn lên tiếng cho tôi nhớ lại rõ ràng hơn.

Quí vị có thể gặp đâu đó “nhiều chuyến đi” của tôi trong “tự sự” này. 6 giờ rưỡi sáng, Ông Tổng Thư Ký Đỗ Ngọc Yến hỏi Ê Bí, đi không? Đi chớ, thế là đi. Một chuyến đi Sài Gòn – Huế – Đà Nẵng, đi về trong ngày. Ông Chuyên Viên Nguyễn Thượng Hiệp hỏi, Ê cậu, đi với tớ không? Đi chớ! Thế là đi. Một chuyến đi Trường Sa kéo dài hơn 10 ngày. Ông Chuyên Viên Trần Đại Lộc gặp mặt hỏi, Có đi không để tớ cho tên vào sự vụ lệnh? Đi chớ! Một chuyến lái xe dọc Quốc Lộ 4 về Miền Tây, xuyên qua cánh đồng lúa của hơn 10 tỉnh. Hồi mới 13, 14 tuổi, Ông Định, anh một đứa bạn tên Văn hỏi, ngày mai Việt Anh đi không? Đi chớ! Một chuyến cuốc bộ leo núi Bà, Đà Lạt, lạc mất hơn nửa ngày. Không ông nào lúc hỏi cho mình biết đi đâu. Biết tỏng tên này cứ đi là vui rồi, đi đâu cũng được.

Vậy thì, vào cái năm 33 tuổi ta, tôi cũng ra đi. Nhưng lần này, đi không vui! Phạm Duy hỏi rằng “Người là ai, từ đâu tới, và người ơi, người sẽ bước chân về nơi nao, …?” Từ “Dạ Hành”, “Khởi Hành”, “Lữ Hành”, đến “Xuân Hành”, Ông nhạc sĩ thiên tài này không chịu hỏi người sẽ bước chân về nhà tù nào? Lần này tôi đi không vui vì là “đi tù!”, mà chẳng có ai hỏi “Ề Bí, có đi không?”, mà là “có đi không thì bảo!”

Mấy tuần trước khi tôi đi tù cả nhà bận rộn chuyện mở quán cà phê ngay tại nhà, nên cái chuyện các ông Trần Văn Trà, Cao Đang Chiếm hẹn ngày nhốt chúng tôi ít được nhớ đến. Thực ra, hai vợ chồng tôi, Lan Anh và tôi, đều canh cánh bên lòng cái hẹn tiễn đưa này, nhưng cố gắng không nhắc tới. Còn vài ngày trước cái ngày 15 Tháng 6, 1975, một tối Lan Anh không nhịn được, nhắc tôi với giọng đẫm nước mắt: Hy vọng bọn chúng giữ lời hứa. Bọn chúng thắng rồi còn cần gì nữa mà giữ anh lâu. Tôi nói, đại khái ý như vầy: Em có biết Đẻ chạy khỏi làng ra Hà Nội từ lúc anh chừng 6, 7 tuổi, khoảng năm 1949. Cụ sợ Cộng Sản từ khi đó. Cụ luôn nói đó là một bọn bịp bợm, không thể tin, không thể ở. Tôi cũng nhắc: Em còn nhớ Bác Sĩ Zivago? Ông ta đi hơn 3 năm mới trốn về lại được Moscow. Cứ tin rằng anh đi ít nhất 3 năm, dám đến 10 năm lắm. Tội nghiệp người phụ nữ xưa nay chẳng cần biết gì ngoài xã hội, mọi chuyện bên ngoài có người đàn ông lo, bỗng dưng bức tường gãy đổ, nhìn ra chung quanh một bãi mênh mông hoang tàn, đổ nát. Chung quanh chỉ còn ác thú, nàng phải bảo vệ hai đứa con, phải lo cho chúng bữa ăn, manh áo. Kinh khủng lắm, phải không các bà Mẹ, các bà Vợ?

Cái miệng ăn mắm, an muối của tôi nói nhiều khi “gần” đúng. Mấy anh Cộng nhốt tôi 9 năm, gần với con số tôi đã dọa vợ: “dám đến 10 năm lắm”.

NV 15 – Long Thành

NV là chữ viết tắt của “Nội Vụ”.  Nghĩa là trại tù Long Thành thuộc Bộ Nội Vụ Hà Nội, tức là do công an quản lý. Lúc đầu, bọn công an Hà Nội chưa chuẩn bị kịp nhà tù đủ để nhốt số lượng lớn tù VNCH, chưa đào luyện đủ số cán bộ coi tù, nên một số các vị thuộc quân lực VNCH do quân đội Cộng Sản Hà Nội canh giữ.

Nghĩa là tôi bắt đầu nói đến chuyện đi tù, nói đến những ngày tôi ở trong nhà tù cộng sản. Bây giờ là cuối 2019, đầu năm 2020, ghi lại những gì còn nhớ về 1975 và mấy năm sau đó, quả là một điều khó khăn. Vả chăng, cái chuyện năm 1975 và nhà tù cộng sản đã có rất nhiều vị ghi lại, công bố. Chuyện nhà tù Long Thành cũng vậy, một số các vị từng ở nơi đó đã ghi qua nhiều bài viết. Ở đây, tôi chỉ nhắc lại vài kinh nghiệm riêng tư hoàn toàn cá nhân suốt một năm rưỡi bị nhốt tại nhà tù này.

Có một điều lạ lùng là đang khi tôi moi lại đống ký ức nhạt nhòa hỗn độn của năm tháng Long Thành, bỗng nhiên tôi bắt liên lạc được với vài bạn tù thường gặp nhau lúc đó. Đầu tiên phải kể tên người bạn tù Nguyễn Thế Viên, từ Viên tôi “gặp” lại mấy bạn khác. Khoảng cuối năm 2011, tôi cùng một bạn tù trại Thanh Cẩm lái xe từ Quận Cam, California, vượt hơn 2 ngàn dặm, đi thăm mấy bạn tù Thanh Cẩm ở Seattle. Bạn Nguyễn Thế Viên nghe tin, đã tìm đến nhà một bạn tù để gặp tôi, “một tên bạn cũ Long Thành.” Sau đó, chẳng mấy khi hai đứa liên lạc lại. Sau gần 10 năm, thốt nhiên Viên điện thoại cho tôi, nói chuyện thiên hạ sự. Sau đó email qua lại thường xuyên hơn. Rồi Viên nối kết email với mấy bạn khác là Lê Văn Cẩn, Nguyễn Trọng Đạt, Khổng Trọng Hinh, … để chúng tôi “nhận hàng xóm”. Đúng ra, từ khoảng 2002, 2003 tôi đã gặp Khổng Trọng Hinh tại San José. Nhưng gần hai chục năm nay “chúng tôi quên mất” không liên lạc lại. Còn về Trọng Đạt hồi trước hai đứa vẫn liên lạc qua Nguyệt San Thế Kỷ 21 và Nhật Báo Việt Herald, nhưng cùng không biết cả hai từng ở nhà tù Long Thành.

Bỗng dưng rần rần email qua lại về “những ngày Long Thành”. Tính lười của tôi trổi dậy, không chịu đào bới đống ký ức trong tôi, bèn mạn phép các bạn tù cho tôi trích vài đoạn email cung cấp ít dữ kiện về một số nhân vật VNCH bị nhốt tại Long Thành.

Email của Nguyễn Thế Viên:

“Tôi cùng ở nhà 2 với anh Hinh , Cẩn, Anh ….. trong thời gian còn chế độ quân quản.Nhà trưởng là anh Cảnh (Tổng cục Dầu Hoả), đội trưởng văn nghệ: Nguyễn Mình Đăng(dân biểu), quản giáo Hai Trung, Tư Phương… Tôi thuộc đội 1(?) nằm ở cuối dãy nhà 2 giáp “Đại lộ Hoàng Hôn “ do Lê Văn Thái (CH 5 QGHC) làm đội trưởng. Đội của tôi có các công chức ngoại giao như cụ Phạm Trọng Nhân, các anh Nguyễn Ngọc Diễm, Trương Hữu Lương, Nguyễn Cao Quyền, Nguyễn Văn Thinh (khác với Thỉnh TC TV làm nhà phó)….. lúc mới vào trại còn có KTS Ngô viết Thụ, BT Nguyễn Xuân Phong, sau 2 người này về sớm.  …”

Sau đó, trong email khác, Viên nói lại về Nguyễn Xuân Phong:

“Nguyễn Xuân Phong (hoà đàm Paris). Cũng đi Bắc. Sau này, khi về, có dậy Anh Văn tư và mở công ty (tôi quên tên) lo việc giúp các công ty nước ngoài nghiên cứu đầu tư. Có anh Nguyễn Quốc Thụy (ĐS5) cộng tác. Tôi biết rõ vì tôi làm cho Pharimex thời gian ngắn và phụ trách bàn giao trả trụ sở …

“Tôi còn nhớ khi ở Long Thành có hỏi ông Phong:”Anh có biết là nước sắp mất không mà còn về vào phút chót?”  Ông Phong trả lời: “Tôi về để tránh đổ máu.

“Nhân đây, anh nào biết tình hình của BS Phạm Đình Thăng TT Y Tế Phước Tuy xin cho biết. Anh Thăng về sớm. Vợ anh là Dược Sỹ và là cháu ông Phan Quang Đán (PTh T)cũng là con ông Phan Huy Xương, Chánh án TA ND Hà Nội …

“Ông Lưu văn Tính từng làm Bộ Trưởng TC, nhưng ông vào Long Thành vì chức vụ đứng đầu Ngân Sách và Ngoại Viện. …

“Khi Xuân Thuỷ đến Long Thành tôi nhớ anh Nguyễn Cao Quyền đứng ở đầu hồi nhà 2 chỉ cho anh em thấy XT đang đi cùng tuỳ tùng trên “Đại Lộ Hoàng Hôn”. Anh Quyền biết mặt anh ta vì có lúc phục vụ ngành ngoại giao tại Pháp khi hoà đàm Ba Lê diễn ra.”

Viên giới thiệu một bạn tù Long Thành:

“Anh Anh thân, Đạt “Long  Thành” tên thật là Nguyễn Trọng Đạt, bút danh là Trọng Đạt. Anh Trọng Đạt thường viết bài có tính cách nghiên cứu, bình luận chính trị trên Đàn Chim Việt…..  Anh cũng là CSV QGHC (CH3)

Viên”

Một trong những email của Lê Văn Cẩn viết:

“Dear các bạn,

Kể chuyện cũ ở Long Thành, tôi vẫn còn nhớ nhiều thứ: nhớ chuyện cụ Trần Minh Tiết (không phải họ Lê), nguyên chủ tịch Tối cao Pháp viện, sau 1 tháng, đêm đêm soạn sẵn va li, chờ xe camion lên chở về, nhớ chuyện Thiếu tá Chương nằm kêu khóc vào cái đêm ông Lưu Văn Tính được kêu tên cho về (“người ta làm Bộ trưởng được về, tui là thằng chủ sự quèn phải ở lại…”), chuyện KTS Ngô Viết Thụ có bàn cờ tướng nam châm và bị bệnh kiết lỵ hoành hành, nhớ buổi trưa tên Xuân Thủy, ủy viện TW đảng CS, đi thị sát trường cải tạo (chuyện này có nhắc ở bài viết trên Facebook bên dưới, đoạn kể về ông Nguyễn Xuân Phong)….

     Về ông Phong, khi tôi đi tù về năm 1982 thì ông làm Phó Giám Đốc công ty XNK Nông sản Agrimexco, Giám đốc là tên Thiếu tướng hai mang Nguyễn Hữu Hạnh, nguyên Tư lệnh phó Quân đoàn 4, Tổng tham mưu trưởng trong mấy ngày cuối cùng của chế độ VNCH

   Nhắc chuyện cũ Long Thành, xin gửi các bạn xem bài viết 2 kỳ tôi post trên Facebook nhân ngày 30.4.2018, đọc để nhớ một thời tuổi trẻ lao tù của anh em mình. Riêng bạn Hinh hay bạn nào có FB, có thể bấm vào link để xem thêm bình luận của người đọc trên FB của tôi.

Thân mến

Cẩn”

Mấy đoạn email trích ở trên dành cho những vị thích “mì ăn liền”, ngại đi lang bang các tiệm, biết thêm về một số nhân vật từng ở nhà tù Long Thành lúc đó.

Nhưng để có cái nhìn khái quát hơn, tôi xin “kể lại” chuyện Long Thành chung chung qua mấy bài viết của các bạn tù. Mời quí vị ghé qua những địa chỉ sau của bạn Lê Văn Cẩn, Đốc Sự Hành Chánh khóa 10, có trí nhớ rất đáng nể:

Facebook: kỳ 1 – https://www.facebook.com/lenguyenpd/posts/2868873529877271

kỳ 2 – https://www.facebook.com/lenguyenpd/posts/2873550942742863

mấy bài đó cũng có ở:

Báo online Saigonnhonews.com (California)

kỳ 1

https://saigonnhonews.com/nhin-lai-lich-su/chut-ky-uc-sau-30-4-1975-ky-1/

kỳ 2

https://saigonnhonews.com/nhin-lai-lich-su/chut-ky-uc-sau-30-4-1975-ky-2/

Ký ức của Lê Văn Cẩn còn tìm thấy tại địa chỉ

https://maybienvh.wordpress.com/2020/05/07/chut-ky-uc-sau-30-04-1975/

Và: https://quenoi.com/chut-ky-uc-ve-mot-quang-doi-sau-ngay-30-4-1975-1/

Ngoài bạn Cẩn, còn nhiều vị khác viết về nhà tù cộng sản nói chung, và Long Thành nói riêng. Rất nhiều sách đã được xuất bản kể lại chuyện đi tù cộng sản của nhiều vị khác nhau, hoặc những tài liệu của các tổ chức quốc tế về vấn đề nhà tù này. Tôi xin lược qua một số địa chỉ để quí vị tìm hiểu thêm, có điều, có cả bài viết của người trong nước hiện nay, lý luận và từ ngữ đôi khi “khó nghe”, cũng để chúng ta hiểu thêm “sự thực” đã bị những người cộng sản tuyên truyền, bóp méo ra sao.

Cải tạo lao động tại các nước” – https://voer.edu.vn/m/hoc-tap-cai-tao/4a4a8047

Chuyện tù “cải tạo” của Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng Quốc Gia VNCH – Trần Đỗ Cung”

https://ethongluan.org/index.php/404/75-home/popular-articles/142-chuya-n-ta-a-ca-i-ta-oa-ca-a-pha-ta-ng-thanh-tra-nga-n-ha-ng-qua-c-gia-vnch-tra-n-a-cung

Chuyện tù cải tạo nhiều người muốn biết

https://aihuubienhoa.com/a4182/chuyen-tu-cai-tao-nhieu-nguoi-muon-biet-tran-van

Học Tập Cải Tạo Tại Việt Nam”   Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%8Dc_t%E1%BA%ADp_c%E1%BA%A3i_t%E1%BA%A1o_t%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t_Nam

Lục lại báo cáo của Ân Xá Quốc Tế – 1981https://www.luatkhoa.org/2017/06/trai-cai-tao-sau-30-4-1975-luc-lai-mot-bao-cao-cua-xa-quoc-te-nam-1981/

TÙ CẢI TẠO:TỘI ÁC CHỐNG NHÂN LỌAI CỦA CSVN (Đỗ Ngọc Uyển)”

TÙ CẢI TẠO:TỘI ÁC CHỐNG NHÂN LỌAI CỦA CSVN (Đỗ Ngọc Uyển)

Nếu quí vị nhờ ông (bà) Google, chắc sẽ tìm thấy nhiều hơn nữa chuyện tù cộng sản. Phần tôi, chỉ xin kể mấy chuyện vặt vãnh riêng tư tôi còn nhớ được trong một năm rưỡi tại nhà tù Long Thành, một năm rưỡi khởi đầu cho “ngã rẽ cuộc đời” của thằng tôi. Sau đó, sẽ là chuyện ở nhà tù Thanh Cẩm, Thanh Hóa, trong gần 7 năm tiếp theo.

***

Trưa ngày 15 Tháng 6, 1975, vợ tôi chở tôi trên chiếc xe suziki đỏ – kiểu phụ nữ – đến trường Trưng Vương để chui vào rọ của mấy anh VC. Hôm đó, trời Sài Gòn toàn một màu xanh. Rất ít sợ mây trắng mỏng manh lững thững trôi chậm rãi. Đường phố tràn ngập nắng. Nắng trưa hôm đó đẹp lắm, quí vị ạ. Nắng đẹp và hơi kiêu, hơi thản nhiên dù chưa đến nỗi lạnh lùng, phủ lấy đôi vợ chồng trẻ chỉ còn ít phút để chia tay. Đó là lúc độ 11 giờ 30 phút trưa. Vậy mà, chạy được nửa đoạn đường khoảng 4, 5 cây số, từ Cao Thắng đến Cường Để, trời bỗng trở chứng âm u. Nhưng hình ảnh của phố nắng vẫn lưu mãi trong tôi, để sau này tôi mở đầu một bài thơ với câu: “Khi xưa em tiễn, Sài Gòn Nắng.”

Tôi xin lang bang đôi chút ở khúc này của chuyện kể.

Nếu vị nào dại dột theo dõi chuyện tôi kể vớ vẩn trong “tự sự” này, chắc đã mấy lần nghe nói đến chiếc xe suziki đỏ của Lan Anh, bà xã tôi. Khi còn là “cô bạn thân mến”, chiếc xe nhỏ nhắn đó giúp Lan Anh chở tôi đến “Quân Vụ Thị Trấn” để “chàng từ đi vào nơi gió cát – Chinh Phụ Ngâm”. Cũng chiếc xe màu đỏ xinh xắn đưa Lan Anh mấy ngày Thứ Bảy, Chủ Nhật đi thăm tôi ở Quân Trường Thủ Đức. Trước đây, nàng chỉ chạy xe loanh quanh trong thành phố, nghe nói đến “Xa Lộ Biên Hòa” là dúm dó lại, cho xe ngừng ngay bên lề ở khúc cuối đường Phan Thanh Giản. Máy xe có rên lên thì cô chủ cũng không nhích thêm một thước. Ghét của nào trời trao của đó, đến lúc chiếc xe được cô cho phép chạy băng băng trong “gió lộng sáng hè”, để đi gặp thằng phải gió đang bị huấn nhục ở Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức. Rồi cũng chiếc suziki thân yêu đưa cô từ Sài Gòn đến Lai Khê, Bình Dương, cho tên bồ khốn khổ đi tìm nhiệm sở là Tiểu Đoàn 5 Quân Y. Chiếc xe trở thành “ruột thịt” với cô chủ, nên cũng chứng kiến buổi trưa cô tiễn chồng vào chốn xa xăm, một đi biết bao giờ trở lại. Hơn 9 năm sau trở lại Sài Gòn tôi vẫn mong được gặp con ngựa thân như ruột thịt đó. Cô chủ không thể giữ nó lại, đành để nó ra đi vào phương trời nào, khi cô lên đường vượt biên. Tôi yêu chiếc xe đó lắm, bởi vì, cuộc sống của nó là một chuỗi dài nhiều chuyến ra đi của tôi. Mà mỗi chuyến ra đi của tôi là một lần gây khổ cực nhọc nhằn cho cô chủ của “con xe thân yêu.”Hôm nay ngồi ghi lại, tôi rất nhớ chiếc xe suziki màu đỏ của vợ tôi. Chắc rằng “con” đã tan biến trong một nghĩa địa nào. Tôi tin theo nhà Phật rằng vật chất cũng có ‘giác hồn.”

Thuở còn nhỏ có nhiều thứ để tôi ngưỡng mộ. Ngày học Đệ Thất, Đệ Lục, dịp hè tôi được về Sài Gòn chơi, được gặp anh chị em bên họ ngoại cùng trang lứa. Cô em con dì con già tên Ngô Thị Quy đến thăm, dắt chiếc xe đạp đầm sáng choang vào sân, dáng vẻ tự tin, tươi cười chào ông anh tỉnh lẻ về chơi thủ đô. Cô mặc đơn sơ chiếc áo dài trắng có gắn bảng chữ Trưng Vương. Ôi chao, thế là tôi thêm một lần ngưỡng mộ. Trường Trưng Vương di chuyển từ Bắc vào Nam, nổi tiếng nhất nhì với trường Chu Văn An. Tên học trò trường trung học danh tiếng ở Đà Lạt bỗng thấy mình quê mùa. Lớn lên, lại mê một cô nữ sinh Trưng Vương, đôi lần đạp xe lảng vảng bên hàng rào Thảo Cầm Viên, ngắm nhìn mấy cánh cổng gỗ nặng chịch (bây giờ tôi vẫn yên chí mấy cái cửa trường Trưng Vương bằng gỗ, chẳng biết có đúng không). Sau này cô nữ sinh Trưng Vương đó dại dột theo tôi suốt chặng đường đời. Thế rồi, sáng nay, 15 Tháng 6, 1975, cô nữ sinh Trưng Vương lại đưa tôi “nhập trường”. Hơn chục năm trước chỉ mong vượt qua cái cổng hẹp bên cạnh cổng chính, để mon men vào sân trường nhặt chiếc lá xanh theo nhà thơ Nguyên Sa. Hôm nay, được vào thật, lại còn được ở một lớp học tầng 2, Miền Nam gọi là lầu 1. Chữ “ở” nghĩa là “ăn, ngủ, chơi đùa, đọc sách, ngâm thơ, ca hát” tự nhiên như ở nhà mình. Nghĩa là tôi được quyền “ở” như vậy nếu thời gian ở kéo dài hơn một đêm.  Nhưng, buổi tối, sau bữa cơm “hộp” thịnh soạn của nhà hàng Bát Đạt, chưa kịp làm quen sàn lớp lát gạch hoa (gạch bông), chưa kịp xem bạn bè quen biết có những ai,  chưa biết sẽ ngủ ra sao, đã có lệnh leo lên xe bít bùng đi đâu không biết.

Chuyện Vụn Long Thành bắt đầu từ đây …

Tam khoái– Hình ảnh đầu tiên tôi ghi nhận ở Long Thành chính là khu nhà cầu của thuở ban sơ. Người ta cho những bạn tù thâm niên hơn đào sẵn một lô các hố sâu, rộng, rồi đặt mấy tấm ván bắc ngang từ cạnh này qua cạnh kia. Cứ việc bước lên mấy tấm ván khập khễnh đó, đến chỗ nào bạn thích, tụt quần, ngồi xổm xuống, và hưởng cái “khoái” thứ ba của  tam khoái: “Thứ nhất là đỗ thủ khoa, thứ nhì vợ đẹp, thứ ba ị đồng.” Ở đây rất giống ị đồng vì gió thổi lồng lộng từ các triền đồi, đồng ruộng chung quanh bên ngoài hàng rào kẽm gai. Quí vị cứ tưởng tượng, cái nhà tù Long Thành có lúc chứa đến hơn 2 ngàn rưởi người không kể bọn coi ngục, thì cái khu hố tiêu này bao la bát ngát đến đâu. Chẳng có tường nào che chắn, y hệt “mình ta với trời bơ vơ (cái câu hát này tôi xin phép được mượn nhiều lần nữa sau này)” Giá như tôi là thi sĩ cỡ như mấy anh thi sĩ giải phóng, chắc thế nào văn học xã hội chủ nghĩa cũng có thêm vài bài thơ bốc mùi. Có thua gì tiền nhân thời phong kiến, lần giở cảo thơm. Đó là kể cho có vẻ thi vị, còn thực ra mỗi lần tôi phải làm cái công việc “tiện lợi to lớn (đại tiện)” này, mối lo luôn canh cánh trong lòng. Cầu gỗ gập ghềnh, nhún nhảy, hố sâu thăm thẳm, hai bờ (đúng ra là mỗi hố có 4 bờ) cách nhau vạn dặm, mình ta giữa trời đất mênh mang, gió chiều ào ào, lỡ có sa chân rơi vào chốn đó, không phải chỉ là chuyện bẩn thỉu, mà còn là mạng sống có an toàn? Chết thêm một “thằng ngụy’, bớt một miệng ăn thóc gạo của nhân dân. Cũng là một thứ “tiện.”

Đại Lộ Hoàng Hôn – Khi xẩy ra trận An Lộc, Bình Long, năm 1972, Tiểu Đoàn 5 Quân Y cử tôi đến tỉnh lỵ An Lộc ở 3, 4 ngày. Hai buổi chiều của mấy ngày đó tôi cùng các bạn quân y đồng sự đứng trước cửa chợ An Lộc, nhìn ra đường phố rộng mênh mông phía trước, ngắm cảnh hoàng hôn. Chúng tôi bèn gọi luôn con đường đó là “đại lộ hoàng hôn.” Không rõ có ai trước đó đã đặt tên đại lộ này như vậy hay không, cũng có thể chúng tôi đã từng nghe địa danh này nên nhớ ra mà gọi như vậy. Nhưng cái nhóm 4 chữ đại lộ kiểu này tôi đã gặp một lần nữa trên con đường từ Huế ra Quảng Trị, “Đại Lộ Kinh Hoàng”, nơi mà bọn cán binh Hà Nội ‘giải phóng’ hàng ngàn thường dân ra khỏi cuộc sống, để lại hàng hàng lớp lớp xương khô vùi lấp theo các đụn cát dọc hai bên đường. Ba năm sau, 1975, tôi lại gặp địa danh quen thuộc do các bạn tù đặt cho con đường đất rộng thênh thang chạy qua đầu hồi dãy “nhà 2” ở nhà tù Long Thành, các bạn gọi là “Đại Lộ Hoàng Hôn”, một đại lộ chạy dốc thoai thoải theo sườn đồi.

Trên Đại Lộ này, tôi thường được sánh vai đi dạo tay đôi với mấy vị cùng một mái nhà (nhà 2). Cụ Phạm Trọng Nhân thuộc giới Ngoại Giao, lúc đó chừng ngoài 50 tuổi, nhưng mái tóc điểm bạc khá nhiều. Phong thái cụ như một nhà nho, điềm đạm, khiêm cung nhưng giọng nói, cách nói chắc nịch. Cụ hay xưng hô “cậu cậu, tớ tớ” khiến thằng bé 32 tuổi tưởng mình cũng là tay lịch lãm lõi đời. Cũng trong ngành ngoại giao còn có anh Nguyễn Ngọc Diễm, thoạt đầu tôi tưởng là một nhà giáo, ề à giảng giải, đôi khi thì thầm kín đáo, có lúc lại sôi nổi chứng minh. Có lẽ anh Diễm hơn tôi chừng 5, 6 tuổi. Một vị lão thành khác tôi được cùng hứng gió chiều trên con đường dốc “hoàng hôn” là cụ Đặng Hiếu Khẩn. Phong thái cụ cũng như một nhà nho, nhưng nếu cụ Nhân là một nhà nho của đất ngàn năm văn vật Hà Nội, thì cụ Khẩn là một nhà nho của mảnh đất cằn cỗi phấn đấu không ngừng để tồn tại, để vươn lên, mảnh đất Miền Trung. Nên cách nói chuyện của cụ chững chạc nhưng sôi nổi, nếu có đượm chút chua sót thì cạnh đó là tính quả quyết đấu tranh. Anh Nguyễn Thế Viên, cũng ở “nhà 2”, cho tôi ít chi tiết về cụ Khẩn: “Cụ Khẩn người Bình Định. Tốt nghiệp  Kỹ Sư Kiểm Lâm (ingenier de foret) tại ĐH Hà Nội.    Nhiệm sở sau cùng: Bộ Canh Nông (Nhà Kiểm Lâm). Chức vụ: hình như là Thanh Tra (tương đương Giám Đốc.) Thời Đệ Nhất CH cụ làm Dân Biểu pháp nhiệm 1 đơn vị Bình Định.  Cụ kể :  Vợ cụ là cháu (nội/ngoại) của Nguyễn Thân là quan cùng thời với ông Ngô Đình Khả, thân phụ TT Ngô Đình DIệm. Do đó ông Khẩn được TT Diệm kêu ra ứng cử dân biểu.

Sau  khi cải tạo về tôi có đến thăm cụ tại một ngôi nhà ở quận 1 (cụ ở trên lầu) mà tôi đã quên tên. Khi ấy cụ đã yếu và phải chống  gậy, đi đứng lẩy bẩy do di chứng cơn đột quỵ khi ở trong tù cải tạo ngoài Bắc.

Cụ Khẩn là người hiền lành, thật thà và dễ mến

Tôi chắc cụ đã qua đời vì khi đi tù (1975) cụ đã ngoài 60 (lớn hơn  cụ Phạm Trọng Nhân, cụ Nhân sinh năm 1925)

Một bạn tù cùng trang lứa hay đi dạo Đại Lộ Hoàng Hôn với tôi là anh Nguyễn Văn Thành (không rõ họ Nguyễn hay Phạm). Anh Thành trạc tuổi tôi, ngày mất nước hình như anh đang ngồi ghế chánh án một tỉnh Miền Trung. Anh ăn, nói nhỏ nhẹ, đôi khi giọng nói kéo dài ra thiếu tính dứt khoát. Có phải vì nghề nghệp khiến anh luôn đắn đo cân nhắc trước khi đưa ra phán quyết. Chánh án Nguyễn Văn Thành đi cùng chuyến tàu với tôi ra Bắc, đến cùng trại, và cũng phải trải qua 5, 6 năm ở vùng đất sát biên giới với Lào, bên bờ sông Mã.

Khóc Mao Sếnh Sáng – Tôi là tên đầu óc tối tăm, trí nhớ lãng đãng, mấy khi nhớ được ngày tháng của một biến cố nào trong suốt cuộc đời mình. Vậy mà tôi nhớ cái ngày bị “thượng thổ, hạ tả” sau hơn một năm nhập cõi Long Thành. Không rõ hôm đó tôi ăn uống làm sao mà buổi chiều bị một trận trên thì ói mửa triền miên, dưới thì tiêu chảy đầm đìa. Ngóc đầu dạy nhìn quanh, cả một dãy nhà chạy dài vô tận không một bóng người. Thiên hạ đi đâu tất cả rồi? Tôi cố bò ra ngoài sân, bò thật sự chứ không phải bò theo cách nói tượng hình của nhân gian. Năm phút bò được từ chỗ nằm ra đến thềm nhà, gục đầu vào cái máng xi măng dành cho nước mưa chảy, lại nôn tháo từng hồi. Nôn ọe đến mật xanh mật vàng, nước mắt giàn giụa (hay ràn rụa?). Ngưng nôn để thở, ngóc đầu lên nhìn quanh, mấy trăm con người của hai dãy nhà chung nhau một sân, đang đứng yên lặng ngước nhìn lên cái loa gắn ở đầu hồi, cái loa hôm nay oang oang, lớn tiếng hơn mọi ngày. Cái loa khốn kiếp đang truyền đi những tiếng khóc, tiếng nấc của mấy nàng xướng ngôn viên, “ôi bác đã mất rồi!”. Hóa ra là họ đang báo tin “bác cả”  (bác Hồ là bác thứ, bác em) Mao Trạch Đông vội bỏ chúng ta về với chốn nào, chắc là chốn hỏa ngục rồi. Cho nên, cái tiếng nôn ọe của tôi không khiến ai chú ý. May mắn, Trần Văn Chung, anh bạn cùng Bộ Dân Vận, Trưởng Cơ Sở Dân Vận tỉnh Biên Hòa, vô tình liếc lại, thấy thằng tôi nằm mệt lử, vắt ngang hè nhà, anh bèn chạy đến. Sau khi hỏi qua tôi, anh chạy đi đâu đó kiếm cho tôi mấy viên thuốc, nhét vào mồm tôi, đổ nước vào bắt tôi nuốt thuốc. Chung dìu tôi vào chỗ nằm, cho thay quần áo, lau rửa sơ sơ. Tôi tin rằng đã thêm một lần thoát chết. Cảm ơn bạn Chung nhiều lắm. Ở những ngày tù đầy này tôi còn nhắc đến bạn, nhờ vả bạn nhiều lần.

Thành ra, tôi nhớ chính xác cái ngày hôm đó, nhớ luôn được ngày Mao trạch Đông qua đời. Và tôi “đã khóc cho người” giữa cơn tiêu chảy ròng ròng (hay dòng dòng)”: Ngày 9 Tháng 9, năm 1976 của đời tôi. Tôi nhớ Mao vì thượng thổ hạ tả, hay tôi nhớ thổ, tả vì Mao?

Đừng nghe – Hãy Nhìn – Buổi chiều oi ả, tôi đang tẩn mẩn ngoài hiên “nhà 2” phía sân nối với “nhà 3”, bỗng nghe tiếng ai hét lớn. Nhìn ra, một chàng thanh niên đứng giữa sân, dơ hai tay lên trời, gào lên: “Đừng Nghe –  Hãy Nhìn!” Đó là bạn Nguyễn Thế Viên, con Giáo sư Nguyễn Thế Vinh. Chàng là Trưởng Cơ Sở Dân Vận tỉnh Bảo Lộc –  Lâm Đồng. Bị nhốt lâu ngày, tức khí, nhắc nhở anh em nhớ lời Tổng Thống Ngyễn Văn Thiệu: “Đừng nghe những gì Cộng Sản nói. Hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sản làm”. Hình như sau đó chàng vẫn được yên lành vì chắc không “ăng ten” nào báo cáo. Trưởng Cơ Sở Dân Vận tỉnh Gia Định Vũ Thành An ở bên “nhà 1”, cách “nhà 2” rồi mới tới sân bên này, có thể đã không nghe “tiếng hét giữa chiều oi.” Hoặc chàng “thầy sáu” lúc đó đang bận thêm vài nốt nhạc cho bài hát liệt kê tội ác Mỹ Ngụy. Nói vậy, nhưng cuối cùng ngẫm lại, cũng chẳng đáng chi cho một cuộc bận tâm, mọi sự đều như hư như ảo.

Hoa đậu bắp – Có một dạo tôi được phân công tưới vườn rau. Tôi không nhớ lúc đó trong vườn có những rau gì, có khi chỉ là những luống khoai lang. Đất trại tù Long Thành không phải đất trồng trọt màu mỡ, không phân bón, chắc họ chỉ trồng khoai lang là dễ nhất. Không nhớ phải tưới rau gì, nhưng tôi lại nhớ mấy cây đậu bắp mọc lẻ loi một góc vườn. Kể ra, nếu chỉ một mình phải xách nước tưới hàng trăm luống khoai lang chạy dài dằng dặc, hẳn là không phải một thú vui chăm nom vườn tược. Sau này, hình như có thêm một bạn được phân công đến cùng tôi, tự do làm việc trong 4 bức tường vây quanh “nông trại”. Chúng tôi chia nhau số luống khoai, rồi mạnh ai lấy làm, muốn làm lúc nào thì làm, làm sao xách cho đủ nước hứng từ cái vòi cao su, tưới cho lênh láng luống rau. Bọn cai tù hay đi kiểm soát đất ướt hay khô. Chạy nước hết buổi sáng, mệt đừ, tôi bắc mấy cục gạch, ngồi ngắm dăm đóa hoa màu vàng chanh, tươi tắn như dung nhan hoa hậu, dịu dàng như vẻ mặt tiên cô. Hoa có thì thầm với tôi, an ủi tôi, nâng đỡ tôi, khuyên nhủ tôi. Nàng tiên hoa bảo rằng trong cõi đời này, sướng khổ có vì hoàn cảnh, nhưng nặng, nhẹ còn tùy tâm người. Ngày xưa, đọc truyện chưởng Kim Dung, tôi mê Triệu Minh, suốt ngày lẩn thẩn đi tìm Triệu Minh, tranh nhau với Trương Vô Kỵ. Trước đó nữa, tôi còn dám tư tình với nàng La Ra của Bác Sĩ Zivago. Gọi tên nàng hàng đêm trong giấc ngủ. Đắm đuối đấy nhưng xét cho cùng, chưa thấy nhờ cậy được nàng nào. Bây giờ, trong góc vườn hưu quạnh, nàng tiên hoa cho tôi điểm dựa an vui giữa cơn thống khổ. Hỏi thăm, anh bạn đồng sự gốc Tiền Giang, nói đó là mấy cây đậu bắp, có lẽ do chàng nào đó trước ở đất này trồng lên. Cảm ơn đất trời cho ta cây cỏ, cảm ơn những bàn tay đi trước gieo hạt cấy trồng.

Phục Hồi Nhân Phẩm – Không nhớ rõ vào lúc nào của 18 tháng tôi lưu trú tại nhà tù Long Thành, có thể vào khoảng sau một năm, một đêm ngoài sân ồn ào tiếng người mới đến. Dãy nhà bên cạnh, chắc là nhà 3 hay 4, thêm bạn tù mới. Đã có vài đợt thả tù, chuyển trại, dồn lũ tù còn lại, trống ra vài dãy nhà. Sáng ra, thăm kẻ mới nhập cư, toàn là phụ nữ. Hỏi chuyện các cô còn bị nhốt sau bức tường song sắt, tiếng cười nói huyên thuyên vui vẻ. Lâu rồi mới được nghe lại tiếng cười “vô tư’ ròn rã. Có vẻ như họ đang đi nghỉ mát chứ không phải bị tù. Cuối cùng cũng có câu trả lời, chúng em đang cần “phục hồi nhân phẩm”, tiếp theo là tràng cười lan truyền khắp phòng. Hóa ra, mấy anh Vẹm gom tuốt tuột mấy “chị em ta”, mấy chị em trước đây bán bar, cả mấy chị em buôn bán ngoài chợ bướng bỉnh chống lại lệnh cấm đoán, mang nhốt hết, bảo rằng các chị em cần phải phục hồi lại nhân phẩm của mình. Rồi có tiếng oang oang từ trong phòng phán ra, chính “mấy thằng đó đó” nó mới cần phục hồi nhân phẩm. Bọn nó mất hết nhân phẩm rồi. Rồi lại trận cười lan tỏa. “Mấy thằng đó’ là mấy anh quần áo đồng phục vàng, vác mấy khẩu súng dài, đang hầm hè đe nẹt các bậc nữ nhi.

Anh bạn Nguyễn Kim Hùng, Trưởng Cơ Sở Dân Vận tỉnh Long An, biệt danh Cậu Sáu Long An, kể rằng, một hôm đang làm ngoài đồng, chuyện bất ngờ xẩy ra khiến các anh tù tối tăm mặt mày. Trưa nắng chang chang, mấy chàng tù mồ hôi nhễ nhại, không làm cũng đổ mồ hôi, cuốc cỏ thì thân hình như tắm. Có anh đang chống cuốc nhìn xa xăm xuống con đường nhựa nối Biên Hòa – Bà Rịa, Vũng Tàu, tự nhiên vất cuốc la toáng: Ê bọn mày! La được mấy tiếng, lưỡi như cứng đờ, không thêm tiếng nào. Nhìn theo hướng tay anh cuống cuồng chỉ chỏ, mấy nàng tiên nữ hiện ra. Đó là những nàng tiên đang cần kiếm lại chút nhân phẩm xã hội chủ nghĩa. Đội nữ tù cũng làm việc gần đám tù nam, bỗng nảy ra ý kiến, lâu lắm rồi “mấy chả” chưa thấy của quỉ này, có khi quên mẹ nó mất rồi. Một Bà Chị Hai ra lệnh: Ê tụi bay, cho mấy ảnh xem, cùng là Việt Nam Cộng Hòa mà. Thế là các chị em ùa nhau chạy đến đám tù nam, mặc cho mấy tên công an quát tháo. Mấy anh ơi, xem nè. Lâu quá rồi không thấy phải không? Nhìn kỹ cho đỡ nhớ nhé. Một hàng dài mỹ nhân thi nhau tênh hênh giữa trời. Ôi cái tình Việt Nam Cộng Hòa sao mà thắm thiết! Đó là thứ tình đồng loại giữa những con người vẫn giữ trọn vẹn phẩm giá con người . Làm sao lũ Vẹm đánh mất phẩm giá hiểu được.

Bầy Thiên Nga – Chị em Phục Hồi Nhân Phẩm không phải là những phụ nữ bị tù duy nhất tại nhà tù Long Thành. Bây giờ tôi không nhớ rõ lắm nhóm nữ tù nhân khác đến Long Thành cùng lúc với mấy chị em kia, hay đến đợt khác, đợt sau. Tôi cũng không nhớ rõ nhóm nữ tù sau ở cùng dẫy với mấy chị em tôi kể chuyện ở trên, hay ở một nhà khác. Mỗi dẫy nhà của 13 dẫy nhà nhốt tù chạy suốt từ đầu đến cuối nhà. Nhưng dãy nhà khi dùng để nhốt nữ tù lại ngăn chia thành phòng nhỏ hơn. Có thể vì số nữ tù không nhiều. Số chị em nữ tù nhóm sau ít hơn và bị canh phòng nghiêm ngặt hơn. Một buổi sáng chúng tôi được lệnh tập họp ngoài sân vì một chuyện gì đó. Cả bọn ngồi chồm hổm trên sân. Lúc xong chuyện, nhìn lên dãy nhà trước mặt, sau chấn song sắt là mười mấy khuôn mặt phụ nữ. Họ âm thầm nhìn chúng tôi, không nói cười rôm rả như nhóm các chị em kia. Chúng tôi mon men đến làm quen. Một cô đột ngột hỏi chúng tôi: “Trông các anh sao hèn thế! Chịu ngồi bệt xuống đất mà nghe mấy thằng ấy “ný nuận” à?”. Chúng tôi bỡ ngỡ ở những lời chào hỏi đầu tiên. Có lẽ nghe câu nói khá tàn nhẫn, thô bạo, một chị có vẻ đàn chị kéo cô kia vào rồi đứng thế chỗ hòa nhã tiếp chuyện chúng tôi. Chuyện vãn được vài phút thì mấy tên công an đến đuổi chúng tôi trở lại “nhà 2”, nhưng cũng vừa kịp để biết hơn chục chị em trong phòng thuộc về “Biệt Đội Thiên Nga”. Từ lâu, tôi vốn đã nghe nói về nhóm tình báo “Thiên Nga” bên cạnh nhóm Phượng Hoàng của Cảnh Sát Quốc Gia. Chỉ nghe thôi, hôm nay mới được “diện kiến” những mỹ nhân sắc nước hương trời, thông minh, quả cảm. Về phòng, vắt tay lên trán, nghĩ lại, quả là mình trông hèn thật khi so với những đóa hoa ẻo lả bên nhà kia. Tự thân là những đóa hoa, nhưng từ họ thoát ra một khí thế thâm trầm mạnh mẽ, âm nhu mà cứng tựa sắt, đá. Tôi đồ rằng hôm đó được tiếp chuyện với người mà sau này, mấy chục năm sau ở hải ngoại tôi mới biết là chị Nguyễn Thanh Thủy. Không biết có đúng không, không rõ chị Thủy có trong nhóm các bạn Thiên Nga ở Long Thành không. Tôi vẫn tiếc là đến giờ phút này vẫn chưa hỏi chị chuyện đó. Tôi nghĩ đó là chị Thủy, vì người phụ nữ ra kéo tay cô bé đầu tiên mắng chửi chúng tôi, rồi với cung cách nghiêm mà hòa, chị làm như sẵn sàng tiếp chuyện mấy tên tù ngoài hàng rào song sắt. Đó là cung cách một đàn chị của lũ em cứng đầu kia, một cấp chỉ huy. Sau đó thốt nhiên tôi khám phá ra một điều, ngay trong không gian tù đầy đó, bầy Thiên Nga vẫn giữ được tôn ty trật tự. Soi rọi lại “bên này”, có được vậy hay không?

Lúc Bầy Thiên Nga đến Long Thành cũng là lúc chúng tôi, nhóm thứ hai rục rịch đi Bắc.

Mời quí vị tìm hiểu thêm về Biệt Đội Thiên Nga và Thiên Nga đầu đàn là Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy qua sách báo trên internet. Tôi xin giới thiệu một số địa chỉ: https://www.youtube.com/watch?v=aqv3XvaI4uk

Tach Tra voi An Mien Biet doi Thien Nga P1

Thiếu tá Nguyễn Thanh Thủy có xuất bản phần ký ức của chị xin xem:

Và, BIỆT ĐỘI THIÊN NGA Anh Phương  TRẦN VĂN NGÀ

http://thatsonchaudoc.com/banviet2/TranVanNga/HoiKy/BK_BietDoiThienNga.htm

Biệt-Đội Thiên-Nga, Nữ Chiến Sĩ Tình Báo:

http://www.truclamyentu.info/tlls_lichsuvietnamcandai/csqg_biet-doi-thien-nga.htm

Thăm tù – Khoảng 1 năm sau khi nhốt chúng tôi vào trại Long Thành, bọn Công An Cộng Sản cho thân nhân chúng tôi đến thăm tù. Có lẽ cũng là để chuẩn bị đưa chúng tôi đi Bắc. Vào thăm tôi gồm Đẻ tôi, vợ tôi, và hai đứa con 3 tuổi và 2 tuổi. Trong chừng một giờ đồng hồ nói chuyện giữa cái ồn ào của nhiều gia đình thăm tù cùng lúc, tôi luôn nhắc vợ tôi đưa hai con “đi Hà Nội thăm bác Toàn, và thu xếp cho hai đứa ăn học ở nơi thủ đô văn minh,…” Anh Đỗ Quý Toàn đã ra đi từ ngày 28 Tháng Tư, 1975, có lẽ gia đình anh đang ở Mỹ hay Canada. Vợ tôi hiểu rằng tôi thúc dục vượt biên, đừng ngại bỏ lại tôi một mình. Trong câu chuyện tôi còn chửi bọn đế quốc Mỹ đã thua nước Cuba trước đây, đến nỗi sau này muốn đón bọn chính quyền tay sai sang Mỹ, phải nộp cho Cách Mạng Cu Ba theo giá mỗi đầu người một cái máy cầy. Nhờ số máy cầy này mà Cu Ba sản xuất đường nhiều nhất thế giới. Không rõ vợ tôi có hiểu hết ý nghĩa câu chuyện hay không, hoặc vì luôn sót sa cho chồng, chẳng còn tâm đâu nghe biết gì nhiều. Đẻ tôi, suốt giờ thăm con, cụ chỉ trầm ngâm nhìn tôi, không hề rơi một giọt nước mắt. Cụ đã bỏ một đời chạy giặc từ quê ra tỉnh, từ Bắc vào Nam, bây giờ lại phải thăm con bị tù trong vòng tay giặc. Còn đâu nước mắt cho Bà Mẹ Già. Hai đứa con tôi, một ra đời năm 1972, một đẻ vào năm 1973, chắc chưa hiểu thế nào là cảnh bố bị tù đầy. nhưng mấy năm sau, lúc hai anh em được 6 và 5 tuổi, cũng đều nếm trải 1 tuần lễ trong một nhà tù tỉnh lẻ. Hai đứa có thể tự xưng là cựu tù của chế độ Cộng Sản. Tôi cũng tìm cách nói bóng gió cho Đẻ tôi hiểu rằng có thể tôi sẽ được đi cải tạo ở Miền Bắc, một nơi có nhiều điều kiện học tập “đàng hoàng” hơn. Tôi bông đùa: Cũng là một cách về quê! Đêm đó, ôn lại ít phút quí báu, ngắn ngủi gặp gỡ gia đình, nhớ lại lời bông đùa “về quê”, hai câu thơ chợt bật ra: “Anh từ ném áo, bàng hoàng, Qua sông, vượt biển, bẽ bàng về quê”. Rồi ngưng ở đó, mấy năm sau bên giòng sông Mã, nhớ lại, tôi mới làm tiếp thành “Một Chặng Đời Tôi”.

Các cháu Bù Gia Mập – Bù Gia Mập trước đây là một địa danh có lẽ thuộc tỉnh Phước Long hay Bình Dương, bây giờ trở thành huyện, cũng là địa điểm để du lịch, cắm trại. Người ta còn thành lập khu Vườn Quốc Gia Bù Gia Mập. Nhưng hồi đó, vào năm 1975, 1976 với các cháu thiếu nhi, đó là địa danh của chốn tù đầy trong hỏa ngục. Một buổi sáng giữa năm 1976, đoàn xe camion đổ xuống trại tù Long Thành hàng trăm hình tượng mà ta thường thấy trong các phim ảnh về Lò Thiêu Đức Quốc Xã. Một đàn các hình nhân chỉ còn trơ bộ xương mỏng manh tưởng như sắp gẫy đến nơi. Các bộ xương líu díu xuống xe, di động theo tiếng quát tháo của bọn cai ngục áo vàng. Các đôi chân khẳng khiu nâng đỡ hai cánh xương sườn oằn oại, và trên nữa là đôi mắt trơ trơ lồi ra, chẳng biết có còn khả năng nhận biết chung quanh hay không. Không lẽ đó là những con người thật? Vâng, đó là các cháu thiếu nhi tù nhân cộng sản. Một tuần sau, các cháu bắt đầu trở lại hình người, chúng tôi mới dám mon men tìm hiểu.

Sau khi bọn Cộng Sản Hà Nội chiếm được Miền Nam, chúng mở chiến dịch càn quét cái gọi là “tàn dư Mỹ Ngụy”. Các cháu thiếu nhi ngày xưa buôn bán vé số, đánh giầy, lang thang vỉa hè Sài Gòn kiếm sống, vì gia đình từ miền quê chiến tranh ngập ngụa, cố nhập tỉnh thành làm lại cuộc đời. Cũng có những bà Mẹ giận con cãi lời, nghĩ rằng đưa ra để công an giậy dỗ vài ngày cho cháu bé bớt cứng đầu, nên tự động ra phường khóm, năn nỉ cho mấy cháu đi học tập. Các bà vẫn nghe bọn công an khu vực nói việc học tập này chỉ kéo dài dăm bữa, nửa tháng. Gia đình cứ yên tâm, mọi điều có nhà nước lo, không phải đóng góp gì cả. Cứ thế, hàng ngàn các cháu được tập trung. Một nhóm khoảng 600 cháu được đưa vào giữa khu rừng Bù Gia Mập. Đoàn xe thả xuống, đoàn xe chạy đi. “Ta với rừng bơ vơ”. Không một tấc sắt, không một cái đinh, không một sợi kẽm, với chút ít lương khô để lại, 600 tâm hồn trẻ thơ tự tìm cách sống nơi chốn rừng hoang. Bằng tay không, các cháu làm ra lửa. Bằng tay không, các cháu dựng lên mái lá trú mưa, tránh sương lạnh ban đêm. Bằng tay không các cháu phải kiếm ra cái gì có thể nuốt qua cổ họng, xuống dạ dày nuôi sống tấm thân cằn cỗi. Thế đó, 600 mái đầu xanh ra đi từ đất Sài Gòn cuối năm 1975, 6 tháng sau, còn sót lại gần 200 được đưa về Long Thành. Họ đưa các cháu về đây “bồi dưỡng” trước khi trả lại gia đình. Còn gần 400 cháu vùi thây giữa rừng sâu núi thẳm, gia đình có cơ hội tìm ra mấy đốt xương khô?

Trước đây họ phải thỏa hiệp với các cháu bụi đời, với đám anh chị băng đảng giang  hồ để mà ẩn náu, để được bảo vệ, để mà thi hành công tác phá hoại, để xúi dục biểu tình, để đặt bon, gài mìn. Bây giờ, họ sợ chính những con người đó. Họ phải tiêu diệt những con người đó, những ân nhân của họ. Họ sợ, và họ tiêu diệt các cháu.

 Tội ác. Đó là tội ác! Lân la nghe các cháu kể chuyện, tôi chưa thể tin ngay rằng mình đã nghe một sự thật giữa cõi đời này. Rồi tự mình dằn vặt. Cái gọi là tội ác kia chính mình cũng ghé phần trách nhiệm. Nếu lũ chúng ta giữ được Miền Nam, các cháu đâu có lâm cảnh hỏa ngục trần gian như vậy. Nếu nhân loại không để bọn bịp bợm, bọn lường gạt xã hội chủ nghĩa, bọn cộng sản lưu manh ngóc đầu lên, các cháu Bù Gia Mập hẳn mang một mỹ danh khác, một cuộc sống khác.

Những ai đang lang thang trong khu du lịch Bù Gia Mập, trong khu Vườn Quốc Gia Bù Gia Mập, có nghe đâu đây trong gió, trong nắng, những tiếng trẻ thơ oán hờn?

Thưa quí vị, tôi chỉ kể chuyện tù theo cách này thôi. Toàn những chuyện vụn vặt, cá nhân, nhưng chứa chất sự thật trong cảnh sống hàng ngày. Long Thành, một nơi tôi từng biết đến là Làng Cô Nhi, bây giở, nửa thế kỷ sau thành cái gì, tôi quá chán ngán nên không tìm hiểu.

Và, với cái còng sắt lạnh ngắt cườm tay, tôi lên đường vượt biển ra Miền Bắc. Tôi đi lưu đầy nơi quê hương mình. Phạm Duy làm được “Trường Ca Con Đường Cái Quan” từ Bắc vào Nam, nhưng chưa làm được Trường Ca Tù từ Nam ra Bắc.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: