Ðỗ Ngọc Yến Thuở Sài Gòn

Ðỗ Tăng Bí

Nhật báo Người Việt xuất bản và phát hành một tuyển tập của 53 người viết về anh Đỗ Ngọc Yến, gọi là “Đỗ Ngọc Yến Giữa Bạn Bè”. Bài viết này vốn có tựa là “Đỗ Ngọc Yến Thuở Thiếu Thời” in trong quyển sách đó, Đưa vào blog, tôi đổi tựa bài, phác họa hình ảnh Đỗ Ngọc Yến giữa thành phố Sài Gòn.

Một buổi sáng cuối năm 1963, anh Ðỗ Ngọc Yến đến nói với tôi: “Bí này, chúng mình phải làm cái gì để cản bớt mấy cái trò nhảy nhót đang tràn lan các trường đại học mới được…” Anh đang nói về chuyện một số trường đại học ở Sài Gòn lúc đó, nhân đà “cách mạng 1 Tháng 11”, thay nhau  tổ chức các đêm dạ vũ ăn chơi tưng bừng từ cuối tháng 11, 1963 trở đi. Chúng tôi chia xẻ nhau ý nghĩ rằng lúc đó mức độ ác liệt ngoài chiến trường đang gia tăng, số thương vong mỗi ngày một nhiều, miền quê tràn lan khói lửa, mà thanh niên, sinh viên học sinh thành thị thi nhau vui chơi phè phỡn thì đâu có được.

Thế là chúng tôi chỉ có hai người, phân chia công việc: Anh Yến về nhà soạn bức tuyên cáo kêu gọi ngưng các sinh hoạt phù phiếm trong khuôn viên đại học, còn tôi viết một lô các khẩu hiệu trên những tờ bìa khổ lớn gấp đôi, nội dung đả đảo những buổi nhảy nhót tại trường học, kêu gọi sinh viên học sinh tẩy chay các sinh hoạt đó. Buổi chiều cùng ngày, tôi cầm bản viết của anh Yến đến Ronéo Mỹ Hiệp thuê đánh máy và quay 500 bản ronéo. Ngay chiều hôm đó chúng tôi đạp xe một vòng các toà soạn những tờ báo lớn thời đó, khoảng trên chục tờ, gửi cho ông Chủ Nhiệm, Chủ Bút một bì thư trong có bản ronéo tuyên cáo kể trên. Ðồng thời chúng tôi đi lén dán các tấm bìa khẩu hiệu viết bằng bút nét lớn tại các trường đại học sắp mở “ball” mừng Giáng Sinh năm đó.

Tôi không nhớ rõ nội dung anh Yến viết gì. Chỉ nhớ đầu đề là “Tuyên Cáo Chống Sinh Hoạt Ðồi Truỵ Xa Hoa Phóng Ðãng”, sau đó nêu một số điểm, rồi ký tên là “Phạm Hồng Thái”, thay mặt “Nhóm Sinh Viên Chống Sinh Hoạt Ðồi Trụy Xa Hoa Phóng Ðãng”.  Không ngờ báo chí hưởng ứng lời tuyên cáo của chúng tôi trong số báo ra vào chiều hôm sau. Tôi không còn nhớ đích xác tờ báo nào, nhưng ít nhất hai tờ đã lấy nguyên bức tuyên cáo thay cho mục xã luận. Một số tờ trích phần nào nội dung để bình luận. Có tờ làm bản tin về tuyên cáo và trích dẫn. Tựu trung báo chí đều cho rằng phong trào nhảy nhót trong trường học lúc đó là không được.

Mấy trăm bản ronéo chúng tôi phân phối đi các trường học bằng nhiều cách, qua các bạn bè, phần đông là Hướng Ðạo, rải ở các trường trung học. Có bạn gấp các “truyền đơn” để lên cánh quạt trần, khi bắt đầu giờ học, học sinh mở quạt, truyền đơn bay như bươm bướm. Tôi nhờ một cô nữ sinh Trưng Vương, cũng là Nữ Hướng Ðạo Sinh, mang mấy bản ronéo vào dán ở trường. Cô kể lại rằng phải cố gắng lắm mới dán được hai bản trên tường nơi cầu thang lên xuống, nhưng đủ để học sinh xôn xao, và khiến các cô Hiệu Trưởng, Tổng Giám Thị và các Giáo Sư  Trưng Vương lo lắng, hội họp tìm hiểu, điều tra. Không khí mật vụ của thời biểu tình mấy tháng trước đó còn đè nặng lên tâm trí mọi người.

Ðó là một trong vài kỷ niệm đầu tiên ngoài khuôn khổ sinh hoạt Hướng Ðạo tôi có với anh Ðỗ Ngọc Yến. Từ đó cho đến hôm nay, hơn 40 năm qua đi, trừ 16 năm tôi ở Thanh Hoá, rồi Sài Gòn, khi anh Yến ở Mỹ, hầu hết thời gian còn lại tôi vẫn làm việc, sinh hoạt với anh Yến, hoặïc thường trực, hoặc cách đoạn. Ngay cả mấy năm tôi ở trong quân đội, những sinh hoạt này vẫn được nối tiếp. Giai đoạn nhộn nhịp nhất là khi anh là Tổng Thư Ký “Chương Trình Công Tác Thanh Niên Sinh Viên Học Sinh Hè 65”, thường được gọi tắt là “Chương Trình Hè 65”, anh cho tôi làm phụ tá để đỡ cho anh những việc thường xuyên hàng ngày .

Có nhiều chuyện anh Yến làm mà chỉ hai anh em chúng tôi biết với nhau. Năm 1991, tôi được qua Mỹ đoàn tụ gia đình. Gặp chị Loan, vợ anh Yến, tôi kể “chuyện hồi đó”, khi đoàn văn nghệ Ðường Sáng của Chương Trình Hè đang trình diễn ở Miền Trung (1965) thì hết tiền ăn, mà ngân khoản từ ngân hàng chưa được tháo khoán, tôi đã chở anh Yến về nhà lấy vòng vàng của chị đi cầm lấy tiền đưa anh Phạm Quốc Bảo mang gấp ra Trung “cứu đói” các bạn nghệ sĩ. Lúc đó chị mới kêu trời. Chị nói mấy chục năm nay vẫn băn khoăn về số vòng và kiềng vàng là của hồi môn của chị, bỗng dưng biến mất. Mà Chị không dám nghĩ ai đã lấy, nên cứ nín lặng. Anh Yến lo ngay được một số tiền cho việc chung, nhưng anh lại không dám lấy tiền từ quỹ chung đi chuộc vàng về trả vợ.

Người ta thường nói đến những cái “dùi trống” anh Yến chất đầy trong garage nhà anh. Ngụ ý mấy chữ châm biếm trên để chỉ nhiều chuyện anh Yến đã bắt đầu nhưng không kết thúc, như anh đánh trống rồi bỏ dùi đâu đó. Gần gũi anh, tôi biết rằng đa số những hồi trống anh dóng lên thường là những chuyện cần thiết, hoặc cho lúc đó, hoặc cho mai hậu. Nhưng với lối làm việc “team-work”, không tự quyết định độc đoán, không dễ gì anh tìm được những người chia xẻ với anh và thực hiện những dự định lớn lao và cần thiết, nên anh đành để đó và “sau hãy hay.” Vậy mà cũng có lần anh phải đi dọn dẹp đống dùi trống của người khác để lại, như chuyện dưới đây.

Khoảng giữa năm 1993, một nhóm vài ông khá tiếng tăm và giầu có dự trù cấp một ít học bổng cho mấy bác sĩ ở Việt Nam đi tu nghiệp ở Hoa Kỳ. Việc tuyển chọn nhờ một tổ chức y tế ngoại quốc đang làm việc tại Việt Nam. Các ông bắt đầu bằng chuyện tuyển chọn một cô bác sĩ ngành chống bệnh truyền nhiễm, phù hợp với ý định của tổ chức kia muốn giúp Việt Nam chống sự lan truyền bệnh Aids. Năm, sáu ông góp mỗi người ít tiền mua vé máy bay cho cô bác sĩ qua Miền Nam California, các ông xin cho cô được tu nghiệp ở một bệnh viện hay trường đại học nào đó. Nhưng còn chuyện cô sẽ ở đâu, ăn uống ra sao, di chuyển ra sao, đời sống hàng ngày thế nào cho suốt thời gian cô ở California thì không ai đứng ra lo, không ai chịu bỏ tiền ra cả. Và bỗng dưng anh Yến được mời tới. Và anh Yến lại về nhà, cậy cục sao đó với vợ anh, chị Loan, được ít tiền để cô ta dằn túi. Anh tìm tôi: “Bí này, có cách nào lo được chỗ ở cho cô ấy không nhỉ?” Ngay hôm đó thì không có cách gì đi thuê nhà cho cô, vào khách sạn thì tiền đâu, tốt nhất là rước cô về nhà tôi. Vợ chồng tôi qua ở phòng con trai, nhường phòng cho cô, con trai tôi ra phòng khách ở tạm. Gọi là tạm cũng mất đâu hơn một tháng. Phải tìm một phòng ở ngay gần nơi cô tu nghiệp, đỡ chuyện xe cộ đi lại. Tiền thuê appartment mỗi tháng cũng mất năm, sáu trăm, ít nhất phải mất một năm tiền nhà, còn tiền ăn uống của cô, rồi đồ dùng linh tinh, từ cái TV, giường nằm, bàn làm việc, rồi mùa lạnh tới cần quần áo phù hợp, rồi tiền quà cáp những ngày Thanks Giving, Giáng Sinh, giúp cô ít tiền gửi về nhà… cũng phải có đủ. Tôi không biết anh xoay đâu ra ngần ấy thứ, cứ đưa tôi dần dần để tôi lo liệu. Có những tháng anh chưa xoay kịp tiền, chúng tôi phải nghe những cú điện thoại chửi rủa của chủ nhà và phải è cổ ra trả tiền phạt vì hai vợ chồng tôi là người đứng ra ký hợp đồng thuê nhà cho cô ta. Hoàn cảnh chúng tôi lúc đó cũng không thể góp nhiều với anh được. Chuyện tiền nong coi như xong, nhưng còn tin đồn lúc đó anh Yến có bồ, đi thuê nhà cho cô ta ở, thì nói làm sao? Hôm nay lần đầu tiên tôi xin nhắc lại chuyện dùi trống này, để nếu chị Loan hay ai đó mười mấy năm nay vẫn nuôi thắc mắc, có thể giải toả từ đây. Cũng là cái nghiệp, nếu anh Yến để lại nhiều dùi trống thì anh cũng là người phải dọn dẹp nhiều dùi trống của thiên hạ.

Trên là vài mẩu chuyện nhỏ phác hoạ một phần rất đơn sơ chân dung anh Ðỗ Ngọc Yến. Theo tôi, đó là một con người tử tế. Và anh cũng không quên những gì người khác đã làm cho anh. Cuối Tháng Tư, 1975, tôi không nhớ rõ ngày nào, khoảng 26 hay 27, nhận được lời nhờ cậy của anh Ðỗ Quý Toàn, tôi mượn chiếc xe hơi R-8 của ông bố vợ, đến đón gia đình anh Yến đưa vào sân bay Tân Sơn Nhất. Sau này anh chị còn nhắc mãi chuyện đó, và nói rằng nếu không có chuyến xe đó, chắc anh sẽ trải qua những kinh nghiệm khác của cuộc đời.

Tại hải ngoại, nhiều tổ chức, đoàn thể, nhiều cơ quan truyền thông, nhiều trường đại học Hoa Kỳ và các sắc tộc thiểu số đã công nhận sự đóng góp của nhà báo, nhà hoạt động Ðỗ Ngọc Yến, cho sự phát triển và hội nhập của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ, và sự hòa hợp với các cộng đồng bạn. Ðộc giả đã được đọc và nghe nhiều chương trình phỏng vấn, bài báo viết về anh Ðỗ Ngọc Yến. Riêng phần ghi dưới đây sẽ cho chúng ta thấy bàng bạc hình ảnh anh Yến hồi còn rất trẻ qua ký ức của anh về Sài Gòn thập niên 50. Một số những người cùng thời anh Yến đều có chung kinh nghiệm này: Lúc còn bé thơ, chúng ta không được chơi đáo, đánh quay, bắn bi như những bạn cùng lứa tuổi trên đường phố, trong sân trường học. Hình như chúng ta tự dưng bị ngăn cách sao đó với sinh hoạt trẻ thơ. Anh Ðỗ Ngọc Yến cũng là trường hợp đó, 15 tuổi đã làm báo lậu là một thí dụ kinh nghiệm không phù hợp với tuổi; 16, 17 tuổi đã chui trong các hậu trường ca nhạc cải lương là một thí dụ khác. Và những kinh nghiệm không hợp lứa tuổi này thường khó có ai cùng lứa tuổi làm chung. Cho nên, muốn phác hoạ chân dung anh Ðỗ Ngọc Yến thời niên thiếu chúng tôi phải góp nhặt nhiều lần qua những lúc anh cao hứng kể cho nghe, chứ không thể nhờ ai đó làm nhân chứng kể lại.
Về việc trò Trần Văn Ơn bị bắn chết, những năm sau đó các nhóm bí mật đều tổ chức truy điệu. Vụ này anh Yến nhớ lại như sau: “Hồi đó tôi còn nhỏ quá (khoảng 13, 14 tuổi), hồi đó cái vụ truy điệu tôi không phải là cánh “tổ chức”, đôi khi tôi chỉ tham dự. Sở dĩ tôi tham dự là vì lúc đó tôi là hướng đạo sinh, hướng đạo mình thường khuyến khích đoàn sinh đi đâu mình cũng tích cực, phải đóng cái vai trò phục vụ, thí dụ như ăn uống mình phục vụ bằng cách tổ chức cho người ta ăn uống, đưa đón mình tổ chức đưa đón, trật tự này kia nhưng mà thực sự mình không biết chương trình. Nghĩa là chuyện đó định làm như thế nào thì mình không biết, nhưng thấy có một số người tập họp thì mình xoay ra “tổ chức” thế nào cho cuộc họp có trật tự. Ðó là năm 1955, nhưng từ năm 1956 tôi đi sâu vào chuyện sản xuất báo, báo bí mật, báo lậu. Năm 1957 thì tổ chức hội họp bí mật. Ðến năm 1959 tôi bị bắt”.

Bây giờ anh vẫn khiêm nhượng nhận rằng chỉ học được nghề báo từ cụ Nguyễn Ðức Quỳnh, từ Lê Xuyên, từ Phạm Long Ẩn,… nhưng thực ra anh Ðỗ Ngọc Yến vào nghề báo từ năm 15 tuổi. Chuyện “làm báo” từ 1956 anh kể như sau: “Báo in ở đây là báo in bột, tức là bột thường, bột gạo, nhưng có điều đặc biệt là mực in phải mua ở tiệm bán ở đường Catinat. Loại mực đó là loại mực của Ấn Ðộ. Lọ mực cũng đắt tiền, lúc đó đi mua lọ mực cũng bằng bao anh em đi một chầu ciné. Mực chà lên bột, mực thấm vào, rồi lăn bột lên từ tờ giấy này qua tờ giấy kia, lăn độ chừng ba chục trang thì bột xộc xạch và chữ ngoằn ngoèo hết, đôi khi muốn làm nhiều phải in hai lần. Sau này người ta gọi in sương sa thì cũng là nguyên tắc đó. Nói cho đúng thì cái đó chỉ là chuyện học tập làm công tác, thực sự nội dung của những tờ đó không có gì đặc biệt”.

Thực ra trước đó anh Ðỗ Ngọc Yến đã ngồi tù một thời gian. Ðó là năm 1957, lúc anh 16 tuổi. Câu chuyện xẩy ra vì đầu năm 57, Bộ Quốc Gia Giáo Dục ra thông tư về điều kiện cho học sinh Ðệ Tứ muốn lên Ðệ Tam. Tự nhiên là tương lai của đại đa số học sinh bị đe dọa. Từ chuyện này đã phát sinh ra phong trào Kiến nghị, anh Yến kể như sau: “Hồi đó, tự nhiên mấy ông bên Bộ Quốc Gia Giáo Dục hay mấy ông nào đó cho ra quyết định những ai đỗ bằng Trung Học Ðệ Nhất Cấp hạng từ Bình Thứ hay Bình gì đó trở lên mới được vào học lớp Ðệ Tam trường công. Như thế là họ đẩy một số lớn học sinh không cho học đệ nhị cấp. Thành ra phía học sinh phản đối. Các ban đại diện hội họp rồi làm kiến nghị.

 “Vào khoảng đầu năm 1957, cả lớp có 40 chục người. Kiến nghị thì đứa nào cũng ký vào hết, nhưng phải có một học sinh đại diện, mà thường học sinh đại diện này phải là người học giỏi trong lớp. Như thế có 10 lớp Ðệ tứ có 10 lá thư như vậy. Mỗi lá thư đính kèm 30, 40 chục chữ ký. Chẳng những trường Petrus Ký làm thế mà tất cả những trường công ở Sài Gòn đều làm, (và người đại diện ký kiến nghị cho cả trường Trưng Vương là chị Kim Dung (bà Hà Tường Cát bây giờ). Thế là cả Sài Gòn kể cả trường Nguyễn Trãi, Chu Văn An đều ký, những trường dưới miền Tây như Nguyễn Ðình Chiểu ở Mỹ Tho, trường Thoại Ngọc Hầu ở Phan Thanh Giảng cũng đều ký hết.

”Khi kiến nghị thì phải đèo theo hai điều, là đèo theo học bổng, cải thiện về giáo dục. Phong trào này xảy ra đầu năm 57, đây là năm đầu tiên đấu tranh Chống Hiệp Thương. Trên nguyên tắc là năm 56 thì đòi Hiệp Thương nhưng hai bên lắc đầu nhau, đến năm 57 điều này xảy ra thì là con đẻ của chuyện kia thôi.

”Các trường lớp được tổ chức họp tại Sài Gòn, rồi miền Nam mười mấy trường họp lại trong một nhà hóc bà tó tại Bàn Cờ. Tôi thì không đại diện lớp đại diện trường nhưng tôi lại là người tổ chức cuộc họp đó mà địa điểm lại không biết ai cho mượn (vì tất cả đều là bạn bè, người một tay). Tôi lại là người tổ chức đi lại, ăn uống và cuối cùng tôi là chủ tọa của buổi họp đó, bạn bè tôi thì được dặn để làm này nọ, còn tôi thì không ai dặn hết, chỉ vì tinh thần xì-cút mà có tinh thần tổ chức. Vì là chủ tọa cho nên sau đó tôi ra bưu điện gửi thư cho Tổng thống và Quốc Hội. Tất cả những thư từ lúc đó khi gởi cho hai cấp đó phải có số căn cước của mình, còn nếu gởi thư bảo đảm thì không thành vấn đề. Khi đưa căn cước là tôi thầm biết, “Mẹ,ï lúc này là bắt đầu lãnh đủ rồi đấy nhá!” Nhưng đã lao theo thì phải tới luôn. Và dĩ nhiên là thơ không đời nào có câu trả lời. Thế là phải họp lại và xuống đường.

”Cuộc xuống đường tại Nha Trung Tiểu học đường Lê Văn Duyệt trước cửa Tao Ðàn, nơi trước là văn phòng Thủ tướng Ngô Văn Thinh ngày xưa treo cổ chết, mà tôi là đại diện của phe biểu tình 200, 300 trăm người với cờ xí. Tôi vào nói chuyện với ông Tổng Giám Ðốc Trung Học Bùi Phượng Trì. Xong về nhà, đến ngày hôm sau thì mới thấy những bạn kia đến nói cảnh sát ở quận nhì, quận nhất, quận ba gọi tôi. Mới đầu chỉ có 1, 2 thằng báo tôi còn không tin nhưng sau đó 7, 8 thằng báo tin thì biết đúng là nó đã lùa hết đám này ra rồi. Thằng nào cũng báo tin cho biết là họ đang đi tìm xem vụ này có những ai. Ðến lúc này tôi biết tình hình nguy đến nơi. Tôi dò hỏi thì biết cảnh sát đặc biệt miền Ðông ở chỗ Mạc Ðỉnh Chi, tôi đến trình diện, “Tôi đây không cần phải đi tìm.” Thế là cảnh sát giữ tôi ở đó.

”Trong bản khai tại đó có những câu hỏi rằng: Những ý kiến này là của ai. Tôi biết vậy nên nhất định chứng minh rằng đó là ý kiến của chính anh em học sinh. Thế là tôi bị giam một thời gian sau đó thả ra. Trước khi thả ra tôi phải ký vào giấy cam kết phải báo cáo cho họ biết nếu có những ai tiếp xúc… Tôi ký xong về và suy nghĩ tìm cách báo cho mọi người biết là tôi đã bị theo dõi rồi các anh đừng liên lạc với tôi nữa. Nhưng tôi khám phá ra rằng tất cả những người chơi với tôi cũng đều đã được dặn như vậy hết rồi, nghĩa là không đứa nào liên lạc với đứa nào nữa. Thì rồi lại yên”.

Anh Ðỗ Ngọc Yến đã thú nhận rằng cứ cái máu hoạt động, cái máu hướng đạo hay lăng xăng tham gia, phục vụ, thì thế nào mình cũng bị dính vào cái gì đó. Một trong “cái gì đó” là vụ kể trên, bị nhốt, rồi thả ra, rồi bị ra toà. Anh Yến kể về chuyện ra toà: “Từ bản kiến nghị đó họ đưa đâu khoảng 14 người ra trước tòa, trong đó là 12 người đại diện của các ban đại diện học sinh, những người đã ký tên vào các kiến nghị. Trong những người ký tên có năm bảy người loại hoạt động, có những người vì là vào đại sau đó gia đình lo cho họ thoát được, họ học hành tiếp tục bình thường không có gì hết, có những người cũng bị sổ đen sổ đỏ hoài, có những người thoát ly luôn.

“Trong trường hợp tôi, tôi là người không có ký tên trên văn kiện nào hết, nhưng mà tôi lại ký trong hai cái loại văn kiện hành chánh, vì khi gửi những bản kháng nghị lên cho tổng thống và quốc hội thì phải ra bưu điện gửi bảo đảm, và hồi đó muốn gửi bảo đảm cho tổng thống và quốc hội thì họ biên căn cước của mình, tôi dùng Thẻ Học Sinh có dán hình để gửi, thành ra nó có vẻ là một người tổ chức ở một dạng nào đó”.

Loại hoạt động của anh Yến là loại khá độc lập, thấy cái gì tiện thì làm, không thuộc hệ thống nào, do đó bên Công An theo truy mãi, theo dõi mãi cũng không thấy gì nên để đấy thôi. Nhưng khi nội vụ đưa ra tòa thì lại lấy cái tên người gửi thư để gọi vụ án, và báo chí hồi đó đã gọi “Vụ án Ðỗ Ngọc Yến và các đồng lõa”.

Theo những người còn nhớ kể lại, hồi đó vụ án mang tên anh Yến cũng “xôm tụ” lắm, cái kiểu “anh hùng Lương Sơn Bạc” ø. Người ta lạc quyên để lấy tiền lo luật sư, người ta biểu tình để ủng hộ đòi hỏi hợp lý của nhóm học sinh. Nhưng anh Yến lại cho rằng: “Cũng chẳng có gì to tát lắm đâu. Ðại khái như thế này. Cả bọn ra tòa cuối Tháng Giêng năm 1959. Cũng lại là một kinh nghiệm nữa về hoạt động của phía”bên kia”, là tự nhiên không biết từ đâu có bao nhiêu luật sư đến để đề nghị biện hộ miễn phí. Một số trong các ông luật sư này là những ông đầu tàu của mấy ông tranh đấu thời sau, có ông sau này vào bưng với “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam”.

“Như vậy mình phải hiểu rằng mấy ông ấy đã được “bên kia” yêu cầu yểm trợ. Lúc xử án, lại nảy ra phong trào nhịn ăn điểm tâm để dành tiền trả luật sư biện hộ cho mấy người bị ra tòa. Ðến ngày tòa xử lại có bãi khóa, học sinh vây chung quanh tòa án, leo lên bám nghẹt các song sắt hàng rào tòa án. Chính tôi phải khó khăn lắm mới vào được trong toà.Vì chúng tôi từ nhà ra hầu tòa chứ không bị đưa từ nhà giam. Ðến lúc chúng tôi vào đến tòa, tập hợp điểm danh xong thì ông tòa nói là đình vô hạn định. Ai về nhà nấy”.

Mặc dù phiên xử án được đình vô hạn định, nhưng anh Yến vẫn bị trường Petrus Ký đuổi học. Hẳn nhiên điều này đã ảnh hưởng không ít đến cuộc đời anh. Suốt vụ án anh thuộc loại tại ngoại hậu tra, không ở tù nên không bị “bên kia” móc nối như một số tù chính trị đương thời, nhưng phía “bên này”, công an vẫn theo dõi. Bị đuổi học, việc “cách ly” với bạn bè, xã hội càng nặng nề hơn, khe khắt hơn. Lúc đó anh Ðỗ Ngọc Yến học đệ nhị tại Petrus Ký. Chàng thanh niên 17, 18 tuổi bỗng dưng bị cách ly với sinh hoạt công đồng thường nhật. Ôn lại kỷ niệm này, anh Yến kể:

“Tôi từ tòa án đi về trường, lúc đó tôi học đệ nhị. Vừa đến trường thì hai ông giám thị chờ sẵn kẹp cổ tống ra ngoài cửa trường và bảo từ rày trò không được trở lại trường này nữa vì sáng nay hội đồng giáo sư họp đã đuổi học vĩnh viễn. Ðó là khoảng cuối Tháng Giêng năm 1959.

“Buổi sáng đi thẳng ra tòa, rồi về trường thì bị đuổi. Lúc đó tôi đang là Trưởng Ban Báo Chí của trường. Ðể lại đống bài vở cho các bạn trong ban, xin đi lấy xe đạp, rồi lững thững đạp về nhà. Ðến nhà thì ông cụ đã được báo là tôi bị đuổi học từ sáng rồi.

“Sau buổi sáng đó tôi đi khỏi trường Petrus Ký. Thành ra trong cuộc sống đời tôi có khác với nhiều bạn khác. Bình thường, ở mỗi lứa tuổi người ta có một số kỷ niệm, một số kinh nghiệm giống nhau. Thí dụ ở tuổi mười mấy thì có những kinh nghiệm đúng với tuổi đó.

“Ở đây, tôi có những kinh nghiệm hơi sớm trước tuổi, ngoài kinh nghiệm đi học, mà lại không có kinh nghiệm hồi còn bé như đánh đáo, đánh điếc, bắn chim. Nó cũng là hoàn cảnh chiến tranh. Chiến tranh trong nước ta xảy ra trên hai ba bình diện, nội chiến, ý thức hệ này kia, không phải bây giờ người ta mới tận dụng đám trẻ con như là bên Phi Châu, đám trẻ 13, 14 tuổi cầm khẩu súng bazoka hay là mặc bộ đồ lính của người lớn nom nó buồn cười. Thời đó người ta cũng sử dụng trẻ con nhưng mà tinh vi, vô cùng tinh vi, hệ thống lớp lang và nó có một kinh nghiệm là mấy chục năm ở Việt Nam, Trung Quốc, ở ngoài Bắc vào trong Nam mấy chục năm, mấy thế hệ như vậy. Thành thử cái đó đối với Tây Phương đó là cái gì nó hơi lạ nhưng đối với xứ nông nghiệp, xứ Ðông Nam Á mình thì nó thành là chuyện bình thường ai cũng có thể trải qua được. Ðó cũng là cái điều mà người Mỹ không hiểu được về đất nước, con người Việt Nam. Ðôi khi có những người rơi vào giữa cuộc chiến của hai hệ thống, bị hút vào đó như một cơn lốc”.

Trong chúng ta, một số người ra đời trước và sau 1940 vài năm thì cảnh “tản cư” là một phần ký ức của tuổi thơ. Cùng với ký ức tản cư, có thể chúng ta còn ghi nhận những cảnh Tây về làng “điểm mục”, lính kín ruồng xét, cho “bao bố nhận diện”. Tôi không biết từ “điểm mục” có phổ biến không. Ký ức thời 5, 6 tuổi của tôi đã ghi nhận hai chữ đó. Ðiểm mục là lính Tây, lính “dõng” về làng, tập họp cả làng lại điểm danh, nhìn từng khuôn mặt xem có ai là “du kích”, làm việc cho “Uỷ Ban Hành Chánh” hay không. Giai đoạn tản cư của anh Ðỗ Ngọc Yến ngắn và gần, nghĩa là chỉ tản cư chung quanh Sài Gòn chứ không đi xa.

Anh kể: “Hồi đó tôi đi tản cư ở Lái Thiêu (những mảnh vườn mà sau này chúng ta đi cắm trại, ăn trái cây), để tránh Nhật bỏ bom tại Sài Gòn vào cuối 1944 đầu 1945. Tôi không có cuộc tản cư lớn. Trong đầu óc tôi Tản Cư là những cảnh nên thơ, tản cư là các cụ thuê các xe cá. Xe cá là xe ngựa kéo, xe cá có ít nhất hai con ngựa kéo. Còn xe ngựa, xe thổ mộ, chỉ có một con ngựa thôi. Xe cá giống như xe minivan, phía trên rộng có thể để tủ lớn chồng lên nhau. Xe cá này chở người tản cư từ Sài Gòn về phía ngoại ô, thường thì chạy về Lái Thiêu hoặc Tân Quy vì ở đây có nhiều nhà vườn. Người dân Sài Gòn chạy về đó, nhờù đồng bào tại đây cho tá túc.

“Sau này, khoảng 1954, 1955, tôi hay đạp xe đạp về vùng đó chơi, đi thăm những cụ già, những “ngôi nhà tá túc” hồi đó. Ðặc biệt năm 55 tôi đạp vô vườn chơi, có chứng kiến một cảnh, sau này mới vỡ lẽ ra. Lúc đó tôi khoảng 13-14 tuổi, tôi thấy mấy ông nông dân mặc quần áo đen ngồi đầy, đông lắm, ngồi rất trật tự. Sau này tôi mới hiểu là mấy ông tập kết. Nhưng hình ảnh tôi nhớ rõ nhất là cái hình ảnh mà trong sử cũng nói, là dân ở ủy ban hô hào dân chúng xuống đường đi ra đường Catinat thời 1945, ông già tôi đã dắt tụi tôi đi từ sáng sớm, ghé tiệm Tàu đầu đường làm ly cà phê mà ông Bình Nguyên Lộc từng mô tả là “đổ ra cái dĩa” uống, lúc đó tôi khoảng 4 tuổi.

“Sau đó cảnh đáng nhớ nữa là cảnh Tây đi xét nhà. Ðầu tiên chúng chỉ xét thôi, xong có mấy người Việt Nam đi theo bắt mở tủ, rương… ra, rồi tôi thấy đồ đạc chúng lấy đi. Tụi Tây và người nhà mình thấy vậy thì bắt phải trả lại.

“Nhưng cái cảnh bắt đầu biết sợ là sợ cảnh bị Tây bố. Hồi đó cứ sáng sớm: “đi bố, đi bố” nghĩa là Tây bao hết vùng đó, trước cửa trường Nguyễn Bá Tòng, tất cả đàn ông bị lùa hết ra ngoài khu đất trống, nằm trước cửa nhà tôi. Tất cả ngồi chồm hổm, hai tay để lên đầu; đàn bà con nít thì đứng lóng ngóng quanh đó. Sau đó bị lên xe “cây” chở về bót.

“Sau rồi đến “bao bố nhìn mặt” nghĩa là cho nhận diện mọi người, những người làm việc nhận diện thì được chụp bao bố lên đầu. Ai bị nhìn mặt và gật đầu thì bị giữ lại, không có thì cho về. Về sớm nhất là những ông công chức, gần nhà tôi có mấy ông công chức Sở Hỏa Xa. Sở Hỏa Xa không phải là của nhà nước nhưng có chế độ công chức nên được ưu tiên. Và từ đó trong đầu tôi có ý niệm thế nào là công chức, công chức thì oai quyền lắm, làm công chức thì an ninh, rồi được về trước cho đi làm. Chờ đến chừng 10-11 giờ nghe nói ông già được thả về thì mừng, còn giờ đó không được thả về, mà tin “bao bố trùm mặt” gật đầu thì chết. Ðây là những giây phút điếng hồn của những gia đình lúc bấy giờ. Vài năm sau thì lựu đạn nổ ngay trước cửa nhà. Hay trong những năm đó, hình ảnh những ông Việt Minh cứ đến nhà xin tiền bố tôi – thời đó thanh niên ngày ấy ai cũng tầm vông vạt nhọn đi quanh quanh khu phố – hay có những ông bạn già đến nhà… và sau đó mới biết rằng đó là những ông Việt Minh, nôm na là những người bị bắt rồi thả ra.

“Thường những người được thả ra bị đánh đập xơ xác rách mướp, đau ốm ho lao, phải đi loanh quanh xin tiền. Những gia đình bình thường dù muốn dù không ai cũng giúp đỡ. Và những cảnh này cứ trở đi trở lại hoài”.

Tuổi thơ chúng ta có thể còn chất chứa thêm những ký ức về cuộc sống trong vùng “ấm ớ hội tề”. Ở làng tôi, ban ngày mấy ông “hội Tề” cai quản. Ban đêm, mấy ông “Uỷ Ban Hành Chính” từ bên kia sông qua tập họp nói chuyện, thu thuế,… Tôi vẫn nhớ như in hình ảnh những “anh nuôi” đêm đêm lén lút về xin tiền, xin thuốc chữa bệnh của Mẹ tôi. Chế độ chính trị trong vùng thật ấm ớ, nên mới gọi là “ấm ớ hội tề”.
Về khoản này, anh Yến không có cơ hội trải qua: “Ngược lại tôi hoàn toàn sống dưới chế độ mà bên kia gọi là “tạm chiếm.” Nhưng tôi lại có liên hệ (đến phía Việt Minh) nhiều nhất là khi vào học ở Petrus Ký, Petrus Ký là cái ổ! Khi tôi vào Petrus Ký thì vừa xảy ra vụ Trần Văn Ơn được hai năm, cao trào này đang từ từ đi lên. Trong trường Petrus Ký lúc này học sinh đi học là một chuyện nhưng mặt khác bị chi phối quan tâm đến một lối sống khác: họp hành, đọc sách báo này nọ… Nhà tôi lúc đó ở Bùi Thị Xuân, gần khu Bàn Cờ, Lê Văn Duyệt thì có hai bãi đất trống bán sách báo cũ — cũ đây là cách đó chừng 3, 4 năm thôi — các sách vào thời kỳ bắt đầu kháng chiến, mà đặc biệt là toàn là sách báo kháng chiến. Dần dần có sách báo của Thông Tin Hoa Kỳ. Những cuốn sách đầu tiên của Thông Tin Hoa Kỳ vào truyền bá về thế giới tự do. Tôi nhớ là báo Thế Giới Tự Do số hai là tôi đã được trông thấy, và tôi biết tòa soạn của Thế Giới Tự Do đặt ở lầu 4 tại phố như thế nào, mà khi đó tụi con nít chạy đến, tìm cách chạy lên thang máy vì hiếu kỳ”.

Những cuốn sách đầu tiên được dịch ra mà anh Yến nhắc đến là cuốn “Ðêm hay ngày” của Koestler, cuốn “Tôi chọn tự do, chọn công lý” của mấy anh đi trốn ở Nga thật dày; trong đó cũng có những cuốn về văn hóa Mỹ như “Dũng sĩ da đỏ,” rồi “The Last of Mohican” của P. Coopper, lúc đầu là mấy cuốn đó. Rồi đến thời kỳ ông Diệm từ năm 1954 trở đi, những loại sách văn học như cuốn “Kho tàng phiêu lưu” của Tom Sawyer, “Ðôi bạn phiêu lưu”… mới được dịch. Nhưng trước đó, những cuốn sách khác đều là sách chính trị hết, duy có vài cuốn về văn hóa như “Bác sĩ Aerosmith” của Sand Lewis có thể nói là sách nói hoàn toàn về Mỹ. Có một cuốn nổi tiếng “Tẩy Não Tại Trung Hoa Ðỏ” (1949)…

Anh Yến kể: “Trong trường hợp của tôi, tôi khác với nhiều bạn vì tôi là một thằng bé lớn lên hoàn toàn trong thành phố, thành ra hai loại tranh đấu này tôi quen từ bé đến lớn: tranh đấu nội thành và công khai hợp pháp tranh đấu dưới một chế độ chính trị đặc biệt nào đó. Lúc đó mình đủ sức tò mò để nghĩ tại sao có sách như thế này (nói về kháng chiến), mà lại có thể phổ biến được? Sau này có một người thông thạo vấn đề đó cắt nghĩa mới hiểu. Lúc đó chính phủ Sài Gòn người ta để tình trạng như vậy để người Mỹ quan sát thấy là có tài liệu cộng sản khắp mọi nơi, hoạt động cộng sản tưng bừng khắp ngõ, để người ta sợ chế độ cộng sản mà ủng hộ viện trợ cho phe Tây ở Việt Nam.

”Sách Thông tin Hoa Kỳ tôi đã xem từ đầu, từ năm 49 Sở này bắt đầu hoạt động, thì mấy năm đầu chưa có loại sách đó đâu. Hai cuốn của Thông Tin Hoa Kỳ lúc đó nổi tiếng nhất là cuốn sách hình “Tám bậc vĩ nhân” (Hoa Kỳ) trong đó có từ ông Washington đến ông Jefferson rồi ông Headman rồi trong đó có một ông Tây đen là ông B. Washington (?), rồi một ông thi sĩ Whitman, rồi ông G. Nixon… Rồi đến báo Thế Giới Tự Do, số đầu tiên thì tôi không biết nhưng tôi biết số Thế Giới Tự Do 2. Còn nhà xuất bản của Thông Tin Hoa Kỳ lúc đó được đặt tên là Tân Á. Rồi báo Sức Mạnh và Tự Do, đây là báo người ta bỏ… nhà cầu. Tôi có đọc một đoạn trong tờ báo này về “Ðêm hay Ngày” và bắt đầu hiểu, khi ấy tôi khoảng 11-12 tuổi, hiểu rằng cuốn này đặt đề tài là nếu anh chấp nhận thế này thì anh là cộng sản rồi, tức là ở đời quan trọng nhất là tự do với cơm áo, nếu anh muốn có cơm áo thì phải chấp nhận cộng sản, còn chấp nhận tự do thì phải cãi nhau với cộng sản. Hồi đó sách vở cũng đủ sức để dạy cho mình những hiểu biết như vậy”.

Trở lại trường Petrus Ký mà anh Yến nói là “cái ổ”. Ðó cũng là nơi xuất thân của các ông Huỳnh Văn Tiễn, Lưu Hữu Phước… những vị mà sau này nổi tiếng về cách mạng. Anh Yến cho rằng đó đúng là một chỗ quy tụ những trí thức yêu nước, những người ý thức về thân phận của dân tộc của đất nước để bắt đầu tranh đấu. Truyền thống đó đã tiếp tục cho đến vụ Trần Văn Ơn, đây cũng là một yếu tố nuôi dưỡng, mà sau này khi anh Yến vô học Petrus Ký cũng đã cảm được cái không khí đó ở trong lớp của Petrus Ký. Chuyện người hoạt động bí mật thời đó thì coi như là những thần tượng. Không phải chỉ anh Yến, các bạn khác của anh như  Lê Ðường, Trần Ðại Lộc vẫn nhìn thấy ánh hào quang của những năm cuối 40 đầu 50 còn phảng phất tại Petrus Ký.
Về điểm này, anh Ðỗ Ngọc Yến nói: “Nói tóm tắt một là nó có truyền thống, và hai là nó có nề nếp rồi. Nghĩa là lớp nào nó cũng có những người thuộc loại lăng xăng có liên hệ với những tên hoạt động lớn hơn chừng hai, ba tuổi, hai ba lớp hay là thân nhân ở ngoài. Trước đó thì những học sinh này không có gì hết về suy nghĩ chính trị, nhưng sau bị ảnh hưởng của những anh kia. Trong trường hợp tôi, trước đó tôi không có liên hệ với ai hết, nhưng lúc đó tôi là xì-cút (Hướng đạo). Trong xì-cút có dạy nhiều thứ như dạy anh phải là một thành phần nào trong lớp của anh, nghĩa là trong lớp cần gì thì anh phải tự nguyện v.v… Thầy giáo ở Petrus Ký cũng có nhiều thầy hóc búa như ông Giám thị, nhưng cũng có một số thầy luôn luôn kích thích tinh thần yêu nước của học trò. Tôi còn nhớ năm học Ðệ tứ, một thầy giáo dạy Sử Ðịa, mà người này đã từng ở tù thời Trần Văn Ơn. Ông này đã dạy Sử trong tinh thần kích thích học trò. Thầy giáo này mê báo Ðời Mới của ông Hoàng Thương lắm. Năm học Ðệ tứ tôi đã có gần đủ số báo Ðời Mới này (có khoảng 154 số) — đến tháng 4 năm 1955 thì tờ báo đóng cửa — tôi chỉ đi ra nhặt ở đầu đường bán lẻ. Ngày tôi bị ra tòa rồi đi tù, tôi mang hết bộ đó biếu cho người thầy này. Khi ra khỏi tù, cảnh sát cứ theo điều tra xem mình bị ảnh hưởng bởi những ai, ai nói cho mình điều này, ai nói cho mình thế kia”.

Anh Yến đã nhắc lại giai đoạn học Ðệ Tam Petrus Ký kể trên, anh bị vướng vụ “Kiến Nghị”, biểu tình. Ðang học Ðệ Nhị, đang hoạt động tưng bừng thì tự nhiên anh hoàn toàn bị cô lập vì bị đuổi học, bị theo dõi. Có lẽ thành tích “đấu tranh” của anh được “lưu ý”, nên “Sau đó vài tháng thì cũng có người đến liên lạc nhưng không phải là chuyện học sinh nữa mà là liên lạc, mời tôi đi họp trong Tổng Liên đoàn Lao Ðộng, mời lập một nghiệp đoàn Văn Nghệ Sĩ, bây giờ là lúc đấu tranh vào khu vực văn nghệ từ những rạp hát, cải lương, báo chí v.v…”

Lúc đó anh Yến chưa hề là văn nghệ sĩ, chưa viết lách gì ngoài những trang báo trong trường. Nhưng từ xa xưa anh vốn đọc sách nhiều, đã có cái nhìn “viễn kiến”, nên người ta dễ tìm đến anh. Anh kể: “Tôi đâu có viết lách gì, nhưng đại khái mình là dân hoạt động. Rủ là tôi đi. Vô họp đây thì bàn bên cạnh là bàn công an. Tụi công an ngồi đó 24/24 để ghi lại tất cả những chuyện đó vì là đấu tranh công khai mà. Tôi lại nghĩ thầm, “đây lại là cái rắc rối nữa đây. Nhưng kệ, làm thì cứ làm.” Lúc này tôi cũng đã bắt đầu chơi với đám văn nghệ sĩ rồi nhưng cũng chỉ là tép riu thôi, nhưng vấn đề là hệ thống tổ chức tức là anh đã bị lộ phía học sinh rồi thì họ sẽ đưa anh vào sâu sang hoạt động khác, vì đây là một hệ thống có tổ chức mà. Sau đó khó khăn thì họ dặn tôi đừng liên lạc với Liên đoàn Lao động nữa, muốn liên lạc gì thì đi lên trên Hóc Môn, đi vào các vườn họp. Khi đi họp lên đường Chi Lăng, từ Chí Nhuận từ nhà ông Phạm Duy đi ngược về Bà Chiểu, cứ buổi chiều từ 4, 5 giờ muốn gặp thì đứng chờ ở đó có người đạp xe đạp ngang qua. Các bạn đã biết phần nào tuổi thơ của tôi”.

Trong một bài viết, chị Hà Dương T. Quyên có nói về khả năng “luồn lách” của anh Ðỗ Ngọc Yến, chị gọi là khả năng “lăng ba vi bộ”, theo chữ trong tiểu thuyết của cụ Kim Dung viết về nhân vật Ðoàn Dự.  Chúng ta vừa mới lướt qua về thời thơ ấu của anh Yến, hình dung vài nét phác hoạ chân dung anh hồi nhỏ. Chúng ta có thể hiểu được khả năng “lăng ba vi bộ” của anh từ đâu tới.  Tuy nhiên, theo tôi, khả năng đó của anh chỉ để làm lợi, làm tốt cho những người cần được giúp đỡ, cho cộng đồng, cho cuộc đời. Và đó là điều đáng quí của anh Ðỗ Ngọc Yến.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: